Bố Liêu, Một Trung Tâm Văn Hóa Giáo Dục
Vùng Nông Thôn Quảng Trị - Lê Thiên Hoàng

Nhà thờ Bố Liêu
Tỉnh Quảng Trị vào thời điểm từ 1951 trở
đi, tại thị xã thì có trường trung học công lập Nguyễn Hoàng và hai trường
trung học tư thục là: trường Bồ Đề và trường Phước Môn. Tại quận lỵ thì từ 1955
mới có trường trung học công lập quận, chưa có trường trung học tư thục nào.
Riêng quận Triệu Phong, tại
làng Bố Liêu có một ngôi trường trung tiểu học Chân
Lý do Linh Mục Bữu Hiệp thành lập từ năm 1956. Từ ngày thành lập cho đến khi Quảng
Trị bị rơi vào tay Việt Cộng năm 1972, trường trung tiểu học nầy đã phát triển
đến mức hoàn hảo, tạo thành một trung tâm văn hóa giáo dục năng động tại nông
thôn, vùng Triệu Phong. Để hiểu rõ về trung tâm này, chúng tôi xin trình bày
qua các chi tiết sau đây:
![]() |
| Nhà thờ Bố Liêu |
làng Bố Liêu có một ngôi trường trung tiểu học Chân Lý do Linh Mục Bữu Hiệp thành lập từ năm 1956. Từ ngày thành lập cho đến khi Quảng Trị bị rơi vào tay Việt Cộng năm 1972, trường trung tiểu học nầy đã phát triển đến mức hoàn hảo, tạo thành một trung tâm văn hóa giáo dục năng động tại nông thôn, vùng Triệu Phong. Để hiểu rõ về trung tâm này, chúng tôi xin trình bày qua các chi tiết sau đây:
I- Địa Thế Và Lai Lịch Làng Bố Liêu
Làng Bố Liêu thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tỉnh lộ 4 theo hướng Bắc từ tỉnh đường Quảng Trị đến cửa Việt Yên dài 15 km, làng Bố Liêu nằm trên tỉnh lộ nầy, cách quận lỵ Triệu Phong 3km và xa tỉnh lỵ Quảng Trị 5km. Theo truyền khẩu từ Ông Bà Tổ Tiên thì làng Bố Liêu và làng Phương Ngạn lúc khởi thủy chỉ là một làng do Ông Bà Khai Khẩn tạo dựng nên, nhưng sau đó được chia ra làm hai phe: phe trên do Ông Tổ Khai Khẩn bảo bọc, sinh sống bằng làm quạt giấy. Phe trên có một khu rừng khá rộng, có loại cây ra hoa tỏa mùi thơm ngát gọi là hương ngàn, từ đó có danh xưng Phương Ngạn cho phe trên (Phương=thơm, ngàn=ngạn)
Còn phe dưới do Bà Khai Khẩn dìu dắt, sinh sống bằng nghề làm vải, do đó có tên gọi Bố Liêu (bố=vải, liêu=nhà, lều). Ngoài ra trong thời kỳ các nhà thừa sai ngoại quốc đến truyền đạo Công Giáo, thấy Bố Liêu có phong cảnh đẹp, nên các vị ấy gọi nơi nầy là Beau Lieu (beau=đẹp đẽ, lieu= nơi chốn). Ngày nay Bố Liêu và Phương Ngạn là hai làng sống riêng biệt ngăn cách bởi tỉnh lộ 4, mỗi làng có gia cư, ruộng vườn riêng. Bố Liêu hoàn toàn theo Đạo Công Giáo, Phương Ngạn theo các tôn giáo khác. Mặc dầu sống riêng biệt, nhưng con dân hai làng vẫn là hậu duệ của một Ông Bà Khai Khẩn, cho nên họ luôn luôn sống với nhau trong tình nghĩa thân thương. Hằng năm vào ngày húy giỗ Ông Bà Khai Khẩn, dân hai làng quy tụ lại tổ chức lễ tưởng niệm Ông Bà và dự tiệc liên hoan vui vẻ đoàn kết.
Tưởng cũng nên nói về nghề làm quạt và làm vải. Cho đến khoảng 1945-1950, chúng tôi vẫn còn thấy nghề làm quạt giấy của làng Phương Ngạn và nghề làm vải của làng Bố Liêu. Nghề làm quạt thì có phần đơn giản hơn làm vải: Chỉ cần đốn tre ngoài vườn vào làm nan quạt, mua giấy, khuấy hồ là đủ vật liệu để dễ dàng làm ra chiếc quạt. Có nhiều thứ quạt: quạt thường, quạt cánh bướm, quạt cánh dơi, quạt tai tượng v.v. Ngày trước vua quan sĩ thứ, ai ai cũng cần phải có cái quạt vào lúc nóng nực. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã diễn tả hình thức và công dụng của cái quạt như sau:
Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự ngàn xưa.
Vành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
Ngày nay người ta dùng nhiều phương tiện khác thay cho quạt giấy, cho nên nghề làm quạt giấy thủ công phải mai một dần. Nghề làm vải thì phức tạp hơn nhiều, vì phải trồng bông, kéo ra sợi, dệt thành vải to vải giắc. Vải to sợi hơi lớn, mình vải thô. Vải giắc sợi nhỏ, mình vải mịn hơn. Ngày trước dân quê chúng ta đều dùng hai loạị vải nầy để may quần áo và thường nhuộm đen, nhuộm nâu để bận cho thích hợp với công việc làm ăn ở thôn quê. Người ta còn trồng dâu nuôi tằm để làm ra thao lụa. Thao lụa là loại vải được dệt bằng tơ của con tằm nhả ra, màu vàng lợt, đẹp, mịn màng và rất bền. Chỉ có một số ít người khá giả ở nông thôn mới dùng đến loại vải nầy. Nghề làm vải thủ công nầy cũng phải chấm dứt khi các loại vải tân thời ra đời. Bố Liêu còn có nghề làm nón lá, vẫn còn đắc dụng cho tới bây giờ.
II- Trung Tâm Văn Hóa Giáo Dục Bố Liêu
Vào khoảng năm 1970 ai đến Bố Liêu đều ngạc nhiên khi thấy dưới bóng của rừng cây dương liễu và cây ngô đồng là một quang cảnh rộng lớn san sát nhà cửa bằng gạch ngói giống như một thị trấn nhỏ gồm có:
1- Một ngôi Thánh Đường cổ kính với tháp
chuông cao chót vót, được xây dựng năm 1920 theo kiểu cách Tây Phương.
2- Một Lăng Tử Đạo to lớn, nơi đây lưu niệm hài cốt của hơn 200 giáo dân tiền bối Bố Liêu bị thiêu sát ngày 6-9-1885 do đội quân Đoạn Kiết của Tôn Thất Thuyết chủ động. Hằng năm vào tháng 9, dân làng tổ chức lễ truy niệm tưởng nhớ và tôn vinh Ông Bà Tổ Tiên đã hy sinh mạng sống vì đức tin Đạo Chúa, mà không hề oán hận trách móc ai đã gây nên cảnh đau thương ấy, bởi vì Chúa dạy rằng: “Các con hãy yêu thương kẻ nghịch thù với các con và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con” (love your enemies and pray for those who persecute you - Matthew 5:44).
Trong biến cố Kinh Thành Huế thất thủ (5-7-1885) khi vua Nghi (14 tuổi) được đưa ra Quảng Trị, thì Tôn Thất Thuyết nhân danh Nhà Vua truyền hịch “Cần Vương Bình Tây Sát Tả”, tức là phò Vua, đánh Pháp và giết Đạo Công Giáo. Phò Vua đánh Pháp là nhiệm vụ chính đáng của mọi người dân Việt Nam trước chính sách đô hộ lấn lướt của người Pháp; nhưng giết chết người Công Giáo trong toàn tỉnh Quảng Trị và các nơi khác là một hành động dã man tàn ác, do sự nhận định sai lầm của người đương cuộc. Người Công Giáo cũng sẵn sàng bỏ qua sự sai lầm ấy, vì khi hấp hối trên cây thập giá, Chúa Giêsu đã ngước mắt lên trời xin Chúa Cha tha tội cho người Do Thái đã đóng đinh giết chết ngài, vì họ lầm chẳng biết việc họ làm (Father, forgive them for they know not what they do- Luke 23:34).
3- Một nhà Cha Sở, Tu Viện Nữ, nhà lưu trú của giáo sư, nhà nuôi trẻ, phòng y tế học đường, nhà vệ sinh công cộng, hội trường, sân thể dục thể thao, sân khấu lộ thiên…
4- Đặc biệt nhất là ngôi trường trung tiểu học Chân Lý với mấy dãy nhà ngang dọc, gồm mấy chục phòng học, do Cha Bữu Hiệp sáng lập và làm Hiệu Trưởng. Sau khi được bổ nhiệm về Bố Liêu thay thế Linh Mục Nguyễn Cao Đẳng, Linh Mục Bữu Hiệp đã nghiên cứu tình hình địa phương và nhận định rằng: Bố Liêu là trung tâm điểm của một vùng nông thôn rộng lớn, nơi đây nếu mở được trường trung học, thì sẽ giúp cho con em các làng chung quanh được học tiếp lên ban trung học, sau khi đã học hết ban tiểu học tại các trường xã.
Thật vậy, trong 16 năm (1956-1972) hoạt động,
trường trung học Chân Lý đã tiếp nhận học sinh các làng chung quanh Bố Liêu
như: Phía Tây: 6 làng. Phía
Niên khóa cuối cùng (1971-1972), học sinh
toàn trường đã đạt đến con số 650, trong đó 400 học sinh trung học, 250 học
sinh tiểu học, chưa kể lớp mẫu giáo và lớp giáo lý vỡ lòng dành riêng cho các
em Công Giáo. Là một trường Công Giáo, nhưng Linh Mục Hiệu Trưởng không hề áp đặt
một tiết mục giáo lý nào thêm vào chương trình giảng dạy do Bộ Giáo Dục ấn định.
Nhà trường có đội bóng tròn, bóng rổ, bóng chuyền dành cho nam sinh; có đội bóng bàn, vũ cầu, thể thao nhịp nhàng dành cho nữ sinh. Về văn nghệ có ban hợp ca, ban hòa tấu đàn mandoline, banjo, guitar, harmonica, ống sáo và trống. Hằng năm vào dịp Lễ Giáng Sinh, Tết Nguyên Đán, lễ phát thưởng cuối năm học, ban văn nghệ nhà trường tổ chức những buổi trình diễn rất đặc sắc, thu hút dân chúng trong vùng thán phục.
Phần tôi, mặc dầu là người trong làng và là giáo chức, nhưng vì bận công vụ ở xa, nên tôi không tham gia công việc giảng dạy tại trường Chân Lý, chỉ thỉnh thoảng tôi về thăm nhà, thăm trường, thăm Cha Hiệu Trưởng. Mỗi lần nói chuyện góp ý với Cha trong việc nhà trường cũng như các lãnh vực khác, Cha và tôi đều nhất trí nhiều vấn đề. Tuy nhiên, khi có ý kiến nào mà tôi và Cha không đồng quan điểm, thì Cha Hiệp chỉ tay vào số sách báo, tài liệu và nói: “Ta có nhiều cố vấn ở đó”. Thật vậy, tại phòng làm việc và phòng khách của Cha Hiệp có rất nhiều loại sách Việt Ngữ và ngoại ngữ, sách đạo, sách đời, sách tham khảo, sách giáo khoa, sách truyện kim cổ đủ loại, được sắp xếp rất thứ tự ngăn nắp, dễ tìm kiếm để lấy ra cuốn sách cần dùng.
Có thể nói rằng: Phòng sách của Cha Hiệp tương đương với một thư viện cỡ vừa tại Việt Nam lúc bấy giờ. Tại phòng sách có nhân viên quản thủ trông coi và cấp phát thẻ mượn sách cho giáo sư và học sinh. Người ngoài trường không được mượn sách tại đây, kể cả tôi cũng vậy. Có lần tôi hỏi Cha Hiệp rằng: Sách là những cố vấn của Cha, vậy thưa Cha, Cha đã đọc hết số sách đó chưa?” Cha nhỏ nhẹ trả lời: “Đã đọc qua cả rồi”. Điều đó chứng tỏ Cha Hiệp đã rất thích đọc sách và Cha đã dành rất nhiều thời giờ cho việc đọc sách, sự hiểu biết của ngài rất uyên thâm.
Tuy nhiên Cha Hiệp không có năng khiếu về khoa hùng biện, cho nên khi giảng đạo trong nhà thờ cũng như khi nói trước công chúng không được lưu loát và hấp dẫn để lôi cuốn người nghe. Người dân Quảng Trị nhận biết Cha Hiệp dễ dàng qua vóc dáng và cách đi lại của ngài: Cha Hiệp rất to cao (khoảng 90 kg, 1m75). Cha là người duy nhất đi xe máy nổ Harley 300 cc, về sau ngài là người đầu tiên lái xe hơi Toyota Camry tại Quảng Trị.
Linh Mục Bữu Hiệp thuộc Hoàng Tộc, con cụ Ưng Trạo, gia đình ở Phủ Cam Huế. Vua Minh Mệnh có tham vọng đế nghiệp Nhà Nguyễn phải được kế truyền đến 20 thế hệ, cho nên Nhà Vua làm ra bài thơ đế hệ sau đây để con cháu theo đó mà đặt tên theo thế hệ của mình:
Miên Hồng Ưng Bữu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Tường
Hiền Năng Kham Thế Thuật
Kế Toại Quốc Gia Phong.
Mỗi chữ trong bài thơ là tên mỗi thế hệ: Miên Tôn (vua Thiệu Trị), Hồng Nhậm (vua Tự Đức) v.v. Cụ Ưng Trạo cùng thế hệ với vua Dục Đức (Ưng Chân), vua Kiến Phước (Ưng Đăng), vua Hàm nghi (Ưng Lịch), vua Đồng Khánh (Ưng Đường). Linh Mục Bữu Hiệp cùng thế hệ với vua Thành Thái (Bữu Lân), vua Khải Định (Bữu Đào). Ngôi báu Triều Nguyễn chỉ truyền đến tới thế hệ thứ 5 là vua Bảo Đại (Vĩnh Thụy) thì chấm dứt; nhưng con cháu hoàng tộc vẫn tiếp tục đặt tên theo bài thơ thế hệ.
Đối với Đạo Công Giáo thì trong các vua Triều Nguyễn có:
1-
Một
Ông Vua Không Theo Đạo, Không Giết Đạo:
Vua Gia Long không theo Đạo Công Giáo vì lúc bấy giờ Giáo Hội buộc tín đồ giữ ‘luật một vợ một chồng’ và không cho thờ cúng Ông Bà Tổ Tiên, khác hẳn với ngày nay (kể từ 1965, sau Công Đồng Vaticano II), tín hữu Công Giáo được phép thờ cúng Tổ Tiên Ông Bà như các tôn giáo khác. Nhiều lần vua Gia Long nói với Đức Cha Bá Đa Lộc (Pigneau De Béhaine, người Pháp) rằng: Đạo của Đức Cha là đạo tốt lành, nhưng nghiêm khắc quá, ai mà có thể giữ cho được, tôi không thể chỉ cưới một bà vợ. Vua Gia Long không giết Đạo Công Giáo vì mang ơn Đức Cha Bá Đa Lộc trong việc khôi phục và xây dựng cơ đồ Nhà Nguyễn. Trước khi băng hà, vua Gia Long có để di chiếu cho vua Minh Mệnh, trong đó có đoạn ghi rằng: “Đạo Chúa, Đạo Nho, Đạo Phật đều tốt cả, không được phép bách hại đạo nào, vì sẽ gây ra các vụ rối loạn có khi mất nước”.
2-
Ba
Ông Vua Giết Đạo:
Mặc dầu có di chiếu của Vua Cha, nhưng vua Minh Mệnh tự làm theo ý mình là “trong một nước không thể có nhiều đạo”, cho nên Ông chỉ tôn trọng Đạo Nho và ra lệnh bách hại Đạo Công Giáo, hạn chế Đạo Phật. Chính sách bách hại Đạo Công Giáo kéo dài đến đời vua Thiệu Trị và Tự Đức.
3-
Ba
Ông Vua Theo Đạo:
- Vua Khải Định:
Trước ngày mừng “Tứ Tuần Đại Khánh”, Vua Khải Định ngã bệnh nặng, các ngự y và bác sĩ tận lực chữa trị không thuyên giảm. Được nghe nói về Đức Mẹ La Vang Quảng Trị, Nhà Vua truyền cho cụ Nguyễn Hữu Bài, một Thượng Thư Công Giáo, đi La Vang cầu khấn cho Nhà Vua. Cụ Bài sốt sắng thực hiện sứ mệnh và Đức Mẹ đã nhậm lời cho Vua được lành mạnh, có thể thiết triều và mở yến tiệc chính ngày Đại Khánh Tứ Tuần. Mấy ngày sau, giữa nửa đêm hai chiếc xe hơi từ Huế ra, đưa một số quan chức đến La Vang dâng lễ tạ ơn Đức Mẹ thay cho Nhà Vua. Qua năm sau Vua Khải Định lại ngã bệnh, cụ Nguyễn Hữu Bài phải đi khấn Đức Mẹ La Vang và được Đức Mẹ cứu chữa lần thứ hai. Về sau khi Nhà Vua yếu liệt, ngài tin nhận Ơn Cứu Độ qua Bí Tích Thánh Tẩy do sự giúp đỡ tận tình của Cụ Nguyễn Hữu Bài.
- Vua
Bảo Đại:
Rồi đến lượt người con nối dòng là Cựu Hoàng Bảo Đại lúc tuổi xế chiều nơi lưu vong, cũng đã được Ơn Chúa đánh động, và đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội ngày 17-4-1988. Phải chăng Cựu Hoàng Bảo Đại đã biết bí mật của Vua Cha. Như vậy: Phụ Hoàng, Hoàng Hậu Nam Phương và Cựu Hoàng cùng quy về một mối trên chốn vĩnh hằng.
- Vua Thành Thái:
Cựu Hoàng Thành Thái trước khi tạ thế tại Vũng Tàu, Việt Nam cũng được cụ Ngô Đình Diệm lo liệu cho gia nhập Đạo Chúa. Như vậy đã có ba vị thừa kế chính thức của Triều Nguyễn và nhiều thành phần khác trong Hoàng Tộc đã gia nhập Đạo Công Giáo, như phần nào bù đắp những mất mát nghiêm trọng của Giáo Hội do ba vị Tiên Đế: Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức.
III- Thời Kỳ Hồi Cư Sau Tháng Tư 1975:
Trước khi bị vào nhà tù Việt Cộng, tôi có về thăm Bố Liêu lần cuối. Ngày trước Bố Liêu là một trung tâm văn hoá giáo dục năng động sầm uất, thì nay chỉ còn là nơi hoang tàn đổ nát 100%. Ở thôn quê thì cây chuối, cây tre, cây mít là các loại cây xanh tươi quanh năm, bao bọc nhà cửa vườn tược, thế mà tôi đứng đầu này làng, có thể nhìn thấy suốt cuối làng, có nghĩa là không còn một thứ gì trên mặt đất do bom đạn cày xới trong chiến cuộc “Mùa Hè Đỏ Lửa -1972”. Có khoảng 100 gia đình hồi cư, sống co cụm với nhau trong chế độ Cộng Sản với muôn ngàn khó khăn cực nhọc và đói khổ, không trường học, không nhà thờ, không Cha Xứ, không Dì Phước.
Mãi cho đến đầu năm 1980, Việt Cộng mới chịu cho Giáo Phận Huế bổ nhiệm Linh Mục Hồ Văn Quý về chăm sóc tâm linh cho giáo dân Bố Liêu. Sau khi đồng bào Quảng Trị hồi hương, thì cộng sản đưa người dân ngoài Bắc vào cư trú chung với người Quảng Trị. Việt cộng đưa vào làng Bố Liêu 5 gia đình miền Bắc, nhưng dân làng đồng tâm nhất trí cô lập những gia đình đó; thậm chí các gia đình Bố Liêu đi tập kết ra Bắc, nay trở về lại làng cũ cũng bị dân làng tuyệt đối không giao tiếp. Rốt cuộc các gia đình mới nhập làng cảm thấy lạc lõng cô đơn, nên đành phải đi nơi khác.
IV- Phần Kết Thúc:
LM Bữu Hiệp mở trường chỉ vì công tác xã hội chứ không vì mục đích lợi nhuận, vì học phí thu vào không đủ trả thù lao giáo sư và chi phí điều hành do Cha Hiệu Trưởng giảm, miễn học phí cho nhiều học sinh tùy theo hoàn cảnh. Ngày nay thì một phần phụ huynh đã qua đời, còn thành phần học sinh đang mang hành trang của trường Chân Lý vào đời, sống trong nước hay nước ngoài, mỗi khi hồi tưởng về thời niên thiếu, không khỏi chạnh lòng nghĩ đến Cha Hiệp và công ơn ngài. Linh Mục Bữu Hiệp nay không còn nữa, ngài đã vĩnh viễn ra đi sau người anh ruột của ngài là Linh Mục Bữu Đồng bị Việt cộng sát hại trong biến cố Mậu Thân 1968 tại Huế.
Hôm nay ngồi ở hải ngoại nhớ về quê cũ, bao nhiêu hình ảnh thân thương lại hiển hiện trong tâm trí tôi. Bởi vậy khi viết về trung tâm văn hoá giáo dục Bố Liêu, tôi lại viết mông lung qua một số lãnh vực khác xa với tiêu đề chính. Đó không phải vì thiếu khả năng điều hướng ngòi bút, mà vì sự mẫn cảm của tâm tư tôi khi hồi tưởng lại quê nhà qua bao thăng trầm của thời cuộc.
Lê Thiên Hoàng