Làng Gia Độ Trong Tim Tôi - Hoàng Gia Độ
bút ghi
Đã từ lâu tôi muốn viết một bài về làng Gia Độ của mình, nhưng chần chừ mãi không dám viết. Bởi, tôi biết khả năng mình hạn chế, lại lịch sử sự hình thành của làng không có tài liệu để tham cứu. Bài viết này không mang tính cách hàn lâm
của một công trình tham khảo. Tôi chỉ dám nói lên những dấu tích mãi bám chặt trong tim tôi từ thuở ấu thơ cho đến giờ. Gia Độ!
Hai tiếng gọi tuyệt vời! Theo trí nhớ của một người con gắn bó suốt cả thời thơ
ấu cho đến trưởng thành thì làng Gia Độ của tôi phía bắc là ngả ba sông Thạch
Hãn và Hiếu Giang, phía nam kề làng Thanh Liêm, phía tây là làng An Giạ, Phía
đông sát làng Giáo Liêm và Xuân Thành. Nằm về phía đông bắc tỉnh lỵ Quảng Trị
khoảng chừng 10 km đường chim bay. Thuộc xã Triệu Độ, Quận Triệu Phong, Tỉnh Quảng
Trị. Về hình thể địa lý làng nằm dọc theo bờ sông Thạch Hãn, bề ngang chừng
1km, bề dọc khoảng 3km. Được chia làm 5 xóm: Xóm Chùa, xóm Giữa, xóm Xưởng, xóm
Đò và xóm Soi. Chính giữa làng là con đường quan nối liền với tỉnh lỵ. Đầu làng
(giáp An Giạ) là ngôi Chùa làng được xây cất từ lâu lắm theo chiếu chỉ vua ban.
Kế đến là ngôi trường tiểu học. Chính giữa làng sát đường quan là Đình làng và
rải đều 4 ngôi thờ họ (Họ Hoàng, Nguyễn, Hồ, Trần). Phía bờ sông đầu làng có bốn
ngôi miếu cũ thờ Thần Hoàng. Cuối xóm Đò là ngôi chợ làng, thường nhóm vào buổi
chiều từ 14 giờ cho đến tối. Làng có hai bến đò ngang qua sông Thạch Hãn. Một ở
xóm Chùa đưa khách qua làng Lập Thạch để đi chợ Đông Hà. Một ở xóm đò đưa khách
qua làng Vinh Quang, Mai Xá. Và, một chuyến đò dọc/ ngày từ bến chùa đi ngược
lên Tỉnh lỵ Quảng Trị. Cũng như hầu hết thôn làng khác, làng Gia Độ cũng nằm
trong chế độ tổ chức xã thôn có những quy lệ riêng do các phong tục tập quán được
dân làng tôn trọng cấu thành. Câu " Phép vua thua lệ làng" cũng đủ
nói lên cái đặc biệt của thôn làng chúng ta. Sau này theo hệ thống hành chánh của
mỗi triều đại, chế độ khác nhau từ lý trưởng, ngũ hương....đến xạ trưởng, thôn
trưởng...Dân số khoảng chừng 500 nóc nhà, là một làng đại xã. Hầu hết theo đạo
thờ ông bà và Phật giáo. Hằng năm có tục lệ Tế Thần hoàng vào những ngày cuối
và đầu năm âm lịch rất linh đình. Các họ, phái cũng có những ngày tế lễ riêng để
niên tu gia phả. Cứ mỗi ba năm làng lại dành nguyên tháng 6 âm lịch để tổ chức
lễ chạp mã tổ tiên, ông bà, cha mẹ...Đây là dịp để con dân tụ hội, thăm viếng
nhau sau thời gian đi làm ăn xa, hoặc định cư ở nơi khác trở về quê cha đất tổ
viếng mộ phần và gặp gỡ thân nhân bà con xóm giềng. Cũng nhờ thế mà con cháu có
dịp gần gủi, hiểu biết thêm về cội nguồn mình. Tình cảm quê hương làng nước gắn
bó, đậm đà. Cũng như hầu hết các làng nông nghiệp khác, làng tôi sống nhờ vào
ruộng vườn, mỗi năm có hai vụ mùa chính tháng 3 và tháng 10. Hoa màu phụ thì có
khoai, sắn, bắp, đậu...Đặc biệt có vụ dưa hấu (quả) trồng vào mùa hè dọc theo
bãi cát sát bờ sông cũng là một thu nhập đáng kể. Ngoài ra dân làng còn có nghề
thợ mộc, cha truyền con nối rất tinh xảo và nổi tiếng trong vùng.
Về khí hậu theo chế độ gió mùa đã tạo ra hai mùa
mưa nắng rỏ rệt, nhưng địa thế địa hình gần núi non nên mùa mưa trể hơn các miền
khác, mãi đến tháng 9 mới mưa cho đến tháng chạp. Chính các tháng mưa cũng thường
có bão nhiệt đới từ biển đông thổi vào gây nên lũ lụt. Từ tháng giêng cho đến
tháng 3 có gió nhẹ, lất phất sương muối. Tháng 5 đến tháng 8 gió Lào thổi qua rất
nóng, khô nên hoa màu thường bị hạn hán, lúa bị lép khi trổ bông. Nhiệt độ
trung bình mùa hè 28 độ C ( những ngày nóng nhất 37- 38 độ). Mùa đông chừng 20
độ C (ngày lạnh nhất khoảng 13-14 độ).
Tôi phải rời xa quê từ 1964, hồi đó làng tôi còn
thanh bình lắm. Không khí chiến tranh chưa thấy lan về. Những đêm rằm lễ hội,
dân làng kéo nhau đi dự đông đúc và vui vẻ. Nhất là những đêm có tổ chức hò đối
đáp, hò giả gạo, trai gái trong làng có dịp thi thố tài năng và cũng nhờ thế mà
nảy sinh ra nhiều cuộc tình đẹp, gắn bó trọn đời với nhau. Những hình ảnh đó nằm
mãi trong ký ức tôi cho đến lúc thành thơ.
Gia
Độ riêng ta nhớ những ngày Theo
banh chạy miết đá mê say Cùng
nhau thách đố, cùng nhau hứa Ngày
mốt xóm tao đá xóm mày Gia
Độ riêng ta nhớ những chiều Tắm
sông tắm cả cảnh trời liêu Tranh
nhau bơi lội tranh từng sải Quên
cả cơm chiều trăng đã lên Gia
Độ riêng ta nhớ những đêm Chạy
rong bến dưới đến đình trên Rủ
nhau tập kích nhà ông Đạt Ăn
trộm ổi chanh lúc nửa đêm Gia
Độ riêng ta nhớ những lần Trăng
vàng soi bóng lũy tre xanh Dẫn
cô thôn nữ đi chùa nguyện Chồng
vợ tình duyên khỏi trớ trênh Gia
Độ riêng ta một mối tình Với
cô gái nhỏ má xinh xinh Trên
vai gánh nặng hai đầu thúng Ấp
dấu trong tim một bóng hình. .....hgd.
Thế rồi chiến tranh tràn về. Tết Mậu Thân 68, mùa hè đỏ lửa 72. Làng Gia Độ của tôi cũng chung một số phận tan hoang, đổ nát. Phần lớn dân làng chạy tản cư trốn tránh đạn bom, lưu lạc khắp nơi từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, miền Tây..." Gia đường hương hỏa phó mặc quẻ càn khôn". Phải xa quê hương dù với bất cứ lý do gì cũng đều ngậm ngùi xót xa, huống chi phải trốn chạy. Chiến tranh quả thật tàn nhẫn. Tôi không muốn nhớ.
Cuộc hành trình tìm về quê hương, nơi chôn nhau cắt
rốn, nơi đã ôm ấp tuổi thơ của mình. Tôi thực sự quá xúc động khi ngồi ghi lại
những dấu tích đã in sâu trong tâm khảm như một hoài niệm, một lời thú tội với
tổ tiên về thân phận tha phương viễn xứ. Ao ước một ngày nào đó được trở về sống
với Gia Độ những ngày cuối trong cuộc đời. Được nghe lại những hồi chiêng trống
tế lễ Thành hoàng đầu năm. Được ngâm mình trong dòng sông những chiều oi bức.
Được nhìn đàn trâu bò trên cánh đồng cuối vụ. Được thấy khói lam chiều lan tỏa
từ những mái tranh nghèo lúc hoàng hôn...Và. Được chết trên mảnh đất thân yêu
đó. Làng Gia Độ.
Cầu mong đất nước sớm đổi thay để niềm ước mong của
tôi sớm thành hiện thực.
Tha thiết lắm! Mong mõi lắm!
Biết
đến khi mô mới được về
Thăm
bà con cũ xóm làng quê
Thèm
nghe giọng nói răng cùng rứa
Nhớ
mãi thổ âm mô với tê
Đông
đến chát môi tô mắm mặn
Hè
về đắng miệng chén cơm khê
Bao
năm lưu lạc lòng luôn giữ
Giữ
trọn hồn quê, trọn mọi bề.
Trọng Xuân Mậu Tý
(3/2008)
HOÀNG GIA ĐỘ
