Em Tôi -Trần Quốc Phiệt
Người Đi Lên Từ Muôn
Vàn Khó Khăn
bút ký
Thế mà chú ấy đã khuất bóng đời non bảy năm rồi, ngồi một mình ngẫm lại như mới ngày hôm qua. Tất nhiên thời gian rồi cái gì cũng sẽ phôi pha nhạt nhòa, nhưng vết bầm này thì hằn sâu quá kỹ.
Thật ra tôi chưa muốn khơi lại cái sự mất mát quá lớn lao đó, vì chẳng biết lấy gì để bù đắp vào được, đành phải cố gắng giữ thái độ bình thản bằng cách im lặng, nhưng dẫu không khơi lại thì chính nó vẫn cháy âm ỉ trong lòng.
Nhiều
lần anh em trong gia đình gặp mặt, trước bàn thờ, nhìn vào di ảnh, chúng tôi
không giao ước mà vẫn trùng hợp, cùng nhìn nhận một sự việc như nhau và không
một ai nói một bất cứ điều gì về chú ấy. Ai cũng giữ kín trong lòng một nỗi xót
xa ngậm ngùi, vì chắc chắn lời nói ra sẽ đi kèm theo dòng nước mắt.
Con gái đầu của chú
ấy, đã vài lần nói với tôi về Ba cháu trong sự đau buồn thương nhớ, thật thấm
thía với nỗi đau của cháu mình, nhưng còn lời nào để chia sẻ và an ủi. Tôi đành
lảng tránh bằng câu trả lời “lâu rồi mọi sự sẽ phôi pha”, hãy sống bình thản
cho những ngày kế tiếp, hãy mạnh dạn dấn bước tiến lên.
Nhưng hôm nay tôi đang
chuẩn bị viết về chú em tôi theo yêu cầu của một đồng môn.
***
Năm 1953, giữa mùa
đông rét buốt mưa dầm gió bấc ở cái xứ vốn đã nghèo nàn lại càng tiêu điều thêm
bởi chiến tranh dai dẳng. Tại làng An Lưu, Quảng Trị, một chú bé vừa chào đời,
hai ngày là phải xa mẹ, năm ngày kế sau, tại bệnh viện Quảng Trị, bà vĩnh viễn
lìa trần. Chú bé tội nghiệp ấy được đặt tên là Trần Quốc Triền. Đó là đứa em
bất hạnh của người viết bài này.
Vâng, đúng là chú em
tôi có một cuộc đời không giống như mọi người, ngay từ tấm bé đã không hề được
mẹ bồng bế trong vòng tay. Không hề thấy di ảnh mẹ mình, vì qua chiến tranh nhà
tan cửa nát “Lửa bao lần bốc xám mặt quê hương…” Tất cả đã là tro
tàn xác vụn tả tơi.
Trong chuỗi ngày tang
thương u buồn đó, dưới căn nhà tranh vách đất lè tè, đã ấn sâu trong trí óc
tôi, khi vừa lên tám, bao nhiêu điều không bao giờ quên được!
Làm sao tôi có thể
quên được tiếng nấc nghẹn ngào của những người trong gia tộc mỗi lần nhắc đến
mẹ tôi. Những bữa ăn đạm bạc, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lút là một chén cơm và
đôi đũa!
Làm sao tôi quên được
tiếng khóc của chú em tôi thèm vú mẹ, và tiếng à ơi gà trống nuôi con lắc nôi
dỗ dành, hòa trong âm thanh buồn bã của côn trùng réo gọi giữa những đêm dài
buốt lạnh quạnh hiu!
Làm sao có thể quên
được mỗi buổi chiều chị tôi, cô gái chưa đầy mười hai tuổi, phải bồng chú em đi
quanh xóm để xin bú dạo!
Nhưng chưa hết, vài
tháng sau, Ba tôi bị Tây bắt nhốt vào nhà lao Quảng Trị. Anh chị em côi cút đùm
bọc lấy nhau, cháo rau qua bữa!
Tuổi thơ của chú ấy
bắt đầu những ngày như thế đó, trước khi có cuộc sống bình thường để học hành
thành đạt. Tất nhiên trong hoàn cảnh như vậy nuôi nấng cũng rất gay go, có điều
may mắn là không ốm đau lặt vặt. Và đặc biệt nhờ Bà cô, húy danh là Trần Thị
Hốt, chị của Ba tôi tận tình chăm sóc mem búng, đó là công lao trời biển, anh
chị em chúng tôi khắc dạ ghi lòng. Hiện bàn thờ Bà cô Trần Thị Hốt được đặt
trong nhà chú Trần Quốc Triền.
Trần Quốc Triền ngay
từ nhỏ đã biểu hiện nhiều nét thông minh. Gia đình tôi các bà cô đọc thì phải
đánh vần nhưng truyện Kiều lại thuộc vanh vách. Ba tôi thì thơ phú đầy mình,
nên mọi giao du hằng ngày với bạn hữu, Chú ấy chỉ ngồi lắng nghe mà thuộc
cả.
Ở bậc tiểu học là một
học sinh xuất sắc trong trường, luôn chiếm vị thứ nhất tất cả các lớp. Năm cuối
cùng ở bậc nầy, Thầy Trần Xuân Yên, Hiệu trưởng trường tiểu học ở địa
phương, cũng là giáo viên lớp Nhất, rất thương và đặt tin tưởng ở trò Triền.
Thầy Yên đã nói với Ba tôi rằng:“Thầy yên chí, kỳ này thi vào đệ thất, em
Triền phải có tên thôi…”
Theo dõi việc làm bài
thi của em mình, tôi phát hiện điều đặc biệt ở phần nhập đề luận văn để mở đầu
cho lời bình giải câu ca dao “……” là có nhận xét sâu sắc, lối mở đề gợi sự tò
mò cho người xem…và dự đoán là chú em tôi có khiếu văn chương. Khi đó tôi đang
học Đệ Nhị ban văn chương ngôi trường lớn nhất ở tỉnh.
Đúng vậy, sau này Trần
Quốc Triền cũng vào ngồi ban C. Học hành ra sao thì tôi không theo dõi nữa. Chỉ
biết rằng chú ấy không hề rớt kỳ nào, cho đến khi vào Huế học Đại Học Sư Phạm
Đệ Nhị Cấp ban Anh văn. Tốt nghiệp năm 1975.
Tuy sinh viên Trần
Quốc Triền là một Phật tử nhưng được chấp nhận nội trú ở Cư Xá Sinh Viên
Xavier, do Linh Mục dòng Tên Thiên Chúa Giáo sáng lập và điều hành, tại số 4
bis Lê Thánh Tôn Huế, bốn năm liền, nhờ thông qua thư giới thiệu của hai vị
Linh Mục giáo xứ Thạch Hãn, Long Hưng và thành tích trong học bạ các lớp bậc
trung học.
Ngoại lệ đó đã được
Cha Giám Đốc người Tây Ban Nha, kế nhiệm Linh Mục Jacques De Leff chấp thuận,
khi xem kết quả học tập và lời phê của quý vị giáo sư từng phụ trách. Tại nơi
này, chú em tôi đã được quý Cha tận tình động viên và giúp đỡ. Bây giờ những vị
này đều đã là người thiên cổ, nhưng gia đình chúng tôi luôn nhớ ơn những ân
nhân cao quý ấy. Và xin ghi nhận tình cảm thắm thiết tương thân, đồng môn, đồng
hương… những bạn hữu của chú em tôi.Tất cả đều là sức đẩy cho chú ấy từng bước
đi lên.
Chú em làm thơ khi còn
rất trẻ, Đệ Tam, Đệ Nhị đã có thơ đăng trên Văn, Văn Học, Bách Khoa với bút
hiệu Trần Lưu An, có khi là Tâm Tuyền (pháp danh của Chú ấy).
Trong tập Chân Dung và
Kỷ Niệm, Cô Tiên người em họ rất thân thiết với Chú ấy khi còn đi học, đã viết
bài “Còn Mãi Bên Nhau", tưởng nhớ anh Trần Quốc Triền, rất chí tình, dạt
dào thương nhớ.
Cũng qua tập Chân Dung
và Kỷ Niệm, trong một bài khác với nhan đề “Về Một Người Đã Ra Đi…” bạn
học của chú Triền là anh Nguyễn Khắc Phước, mà tôi đã tìm lại được những dấu
chân của chú em mình. Và như nghe văng vẳng đâu đây giọng ồ ồ của chú ấy đang
ngâm bài thơ lục bát “Đỉnh Mù”… để cảm nhận nỗi xót xa trầm ngâm:
“Lên cao mới biết trời
gần
Dăm cây trụi lá trơ cành mân mê
Nỗi buồn trắng đục nằm kề
Mờ câm hơi đá lối về còn xa…”
Số bài thơ của Chú ấy
hiện tôi có không nhằm nhò gì so với số đã viết ra, bị thất lạc rất nhiều sau
cơn binh lửa, trong những lần di tản. Bài tôi ưa ý nhất là Quảng Trị 72.
Quảng Trị 72
Phố xá nớ chừ nghe tiêu
điều lắm
Xa quá rồi sao thăm được nữa đây
Trong trí tưởng đàn quạ đen lẳng lặng
Bóng nhập nhòa theo bóng nắng lắt lay.
Cây thôi còn để mùa
thu rụng lá
Tổ mất rồi se sẻ cũng bay xa
Nhà tan hoang và người đi chốn lạ
Đêm tiếp ngày thêm những giọt đắng cay.
Lúa thôi vàng trong
ruộng cày bằng đạn
Khoai thôi xanh luống đất tưới bằng bom
Dòng Thạch Hãn nghe trăm chiều ly tán
Nhớ nhịp chèo xưa con nước nỉ non.
Người sống đó và người
đã chết
Hồn tưởng chừng lạnh buốt heo may
Vẳng ai gọi tiếng sao mà tha thiết
Vẫy nhau hoài chấp chới một bàn tay.
Trần Lưu An
1972
Ai ngờ rằng đằng sau
tâm hồn thơ văn lai láng ấy lại là một con người say mê võ thuật: Thái Cực
Đạo,và Không Thủ Đạo. Riêng Thái Cực Đạo đã đạt được đai đen thời còn là học
sinh trung học,đó là nhà giáo Trần Quốc Triền.
Tuy đã có bằng cấp cử
nhân, tốt nghiệp sư phạm đại học đệ nhị cấp khoa Anh ngữ, nhưng những bước đi
đầu tiên trên vùng biển xanh trời trong cát trắng Nha Trang cũng lắm gian truân
do thế thời!. Rồi ra thì giá trị của trí tuệ cũng còn chỗ đứng, khi đó một
khung trời ấm mới mở bừng lên.
Có một thời gian chú
Trần Quốc Triền làm cho công ty cà phê. Vì nhu cầu cần một người thông thạo Anh
ngữ nên chú ấy được đi khá nhiều Quốc Gia trong khu vực Châu Á cũng như Châu
Âu. Đặc biệt năm 1994, Chú ấy đã được đến Hoa Kỳ với vai trò thông và phiên
dịch, nhưng tôi đọc trong Business Card thấy ghi bằng Anh ngữ là Phó Giám Đốc
Giao Dịch.
Sau này chú trở lại
ngành giáo dục, chức vụ sau cùng là trưởng bộ môn tiếng Anh trường chuyên Lê
Quý Đôn, Nha Trang
Ngoài ra chú ấy còn
điều hành Trung Tâm Ngoại Ngữ Hàn Thuyên (Han Thuyen foreign Language Centre)
cũng tại thành phố Nha Trang.
Là người chịu đọc,
chịu học để thăng tiến trí tuệ nâng cao hiểu biết. Cho nên khi đã ổn định vẫn
tiếp tục học để lấy MA (Master of Arts). Lớp đầu tiên của chương trình
Fullbright. Tôi không rõ ở quê nhà học vị hậu đại học đó được gọi là gì, nên
xin ghi lại bằng tiếng Anh.
Cuối mùa hạ năm
2005, chú em Trần Quốc Triền của tôi đã lìa trần, sau sáu tháng nằm bất động vì
tai biến mạch máu não. Để lại biết bao thương tiếc cho gia đình, bà con, bạn
hữu và đồng nghiệp, bảy năm đã trôi qua, chưa vơi được xót xa ngậm ngùi.
Nhân ghi lại sự kiện
đau xót này, xin tỏ bày lòng tri ân đến quý bà con, đồng nghiệp, đồng hương,
đồng môn, thân hữu và môn sinh … đã chia sẻ cùng gia đình chúng tôi vào những
tháng ngày đen tối ấy.
*
Trong nỗi nhói đau khi
nhắc lại sự mất mát gần đây và những ngày tháng u ám xa xưa, cũng có một chút
an ủi về những bước vươn lên từ vũng bùn đen của chú em tôi.
Tất cả đã khởi
đi từ muôn vàn khó khăn, và cũng đã chấm dứt vào cái ngày oan nghiệt giữa năm
2005.
Hoài niệm những bước
đi qua từng chặng đời của chú ấy, với biết bao là nhớ thương và tiếc nuối. Tất
cả đã vào quá vãng khi ngậm ngùi ngoái lại tháng ngày qua:
Còn ai để giẫm trên
bãi biển Nha Trang những buổi chiều vàng phai nắng nhạt.
Còn ai để nghe âm vang sóng dồn, dương reo Cam Ranh, Đại Lãnh…..
Còn ai trở về đứng bên Tịnh Tâm, Trường Tiền, Thương Bạc… nhìn con thuyền
lướt ánh trăng, lắng nghe câu hò mái đẩy…
Còn ai dừng chân bên cầu Ba Bến ngắm dòng sông Vĩnh Định mặt nước lững lờ trôi.
Còn ai ghé qua Chợ Hôm, Chợ Cạn để người quen kẻ biết niềm nở chào hỏi
thân thương…
Còn ai in bóng trên đường làng, lối xóm, hớn hở tay bắt mặt mừng dưới hàng tre
già vang lời chim mừng mùa lúa mới…
Thế là hết, Trần Quốc
Triền đã giã từ tất cả.
Xin ghi lại vài hàng chân tình mộc mạc này để chiêu niệm những chặng đời
từng có bên nhau. Với lời nguyện cầu cho người khuất bóng sải cánh an bình về
phương trời tịnh độ.
Trần Quốc Phiệt
Ca.USA 03-2012
(Trích trong
"Trôi Giữa Dòng Đời" của chính tác giả)
