Làng Nại Cửu Của Tôi - Võ Thị Tuyết
bút ký
Cách đây khoảng vài tuần, một người bạn điện thư cho tôi nói: chị T ơi chị viết một bài về làng Nại Cửu của chị đi, để tôi đăng lên trang mạng Quảng Trị Bắc Cali, nhưng tôi từ chối, bởi vì tôi đã nghỉ viết và nghỉ làm thơ đã hơn 10 năm vì bệnh nhức đầu trầm trọng và khó ngủ. Hơn nữa từ nhỏ đến lớn Cậu (cha) tôi và chú tôi cũng không nói gì về lịch sử làng Nại Cửu của tôi nên tôi không biết gì.
Hôm nay tình cờ tôi đọc trên mạng có người viết về làng mình nên tôi dùng một ít tài liệu ấy để viết kèm trong những kỷ niệm một thời tóc xanh. Mong rằng sau này con cháu của tôi nếu có đọc được chúng nó sẽ biết một chút về ngôi làng của mẹ, bà ngoại, bà nội chúng, nếu có lần về cũng ghé đến thăm.
Theo Đại Nam nhất thống chí, trong
thập niên 60 của thế kỷ XV, chúa Nguyễn Hoàng đưa dân chúng các tỉnh ở phía Bắc
vào khai hoang lập ấp xây dựng dinh cát ở Ái Tử. Huyện Đăng Xương Quảng Trị
(nay là huyện Triệu phong) lập nên nhiều dinh cơ làng mạc, làng Nại Cửu là một
địa danh được hình thành từ đó .
Nhưng theo một thuyết khác tôi nghĩ chắc đúng hơn thì từ năm 1306, khi vua Trần Nhân Tông bằng một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị Việt - Chiêm, nhà vua gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm là Chế Mân (Chế Bồng Nga) để lấy hai châu Ô, châu Rí, dân từ niềm Bắc đã di cư vào Nam để lập nghiệp, thì tình Quảng Trị (thuộc về Châu Ô) và các làng mạc trong đó có làng Nại Cửu cũng được hình thành.
Làng Nại Cửu - Nại có nghĩa là bền,
Cửu là lâu dài, Nại Cửu có nghĩa là lâu bền.
Làng Nại Cửu của tôi gồm có 6 xóm và một phường bên ngoài làng ở gần Ái Tử. Có
6 họ là: họ Lê, Võ, Hoàng, Trần, Nguyễn, Phan ...
Tôi được sinh ra ở xóm Côi, là một
xóm nhỏ ở đầu làng tiếp giáp với đường Quan chạy về biển cừa Việt. Xóm Côi
nghèo lắm, một xóm chỉ có vài ba nhà ngói còn toàn nhà tranh vách đất, dân của
xóm sống với nhau vui vẻ, hoà đồng.
Thương sao những con đường bùn đất
lầy lội mối lần đi học phải xăn quần vén áo để lội bùn, Xóm có một cái hói (hồ nhỏ,
mùa đông nước đầy những ngày nghỉ học ra ngồi câu cá, mùa hè nước khô tận đáy,
lòng đầt nứt nẻ, lúc đó hói thành một cầu tiêu cho dân ở gần bên hói.
Hằng năm cứ đến mùa hè, một số người
chung nhau đạp nước cho khô hói để bắt cá.
Tôi ngồi trên bờ, thích nhất là xem người
ta bắt được nhiều con cá tràu (cá lóc) to tướng, nhiều con cá hẻn (cá trê) to
vàng tươi, cá giét cũng to vàng, ngoài ra còn có cá rô cá gáy và cá mại vv...
Mổi lần tát hói mạ tôi thường mua cá nhốt vào hai ba thùng dầu hỏa để ăn dần dần . Bây giờ có đập thủy lợi nên hói lúc nào cũng đầy nước khác lúc xưa.
Xóm thứ hai là xóm Ngoài, là một xóm
tiếp liền với xóm Côi, đó là xóm của ông mệ ngoại của tôi, nhà tôi đi bộ ra nhà
ông ngoại khoảng 10', xóm Ngoài cũng là một xóm nhỏ , nhà ông ngoại là một cái
nhà ngói to lớn lắm, cứ lúc nào rảnh học nhất là thứ bảy, chúa nhật là tôi cứ
chạy vô chạy ra nhà ông ngoại. Ông ngoại tôi hay say rượu, Mổi lần say ông hay
chưởi mệ, tội mệ lắm. Còn mệ ngoại tôi già rồi mà rất đẹp, áo quần lúc nào cũng
sạch sẽ, khi nào trong túi cũng có một cái gương nhỏ, lâu lâu mệ lấy ra soi mặt.
Năm 1972 ông ngoại nằm một chỗ, mệ ngoại theo gia đình tôi chạy đến mé sông,
rồi chắc mệ thương ông, nên chạy trở về, gặp lúc trời tối bị lính thủy quân lục
chiến bắn nhầm chết, năm đó ông ngoại nằm một chỗ không ai săn sóc nên cũng theo
mệ sau đó.
Tôi thương ông mệ ngoại lắm, nhất là mệ, nhắc đến với vô vàn nhớ nhung!.
Xóm thứ ba là xóm Chùa, vì đầu xóm
có một cái chùa cũng khá lớn .
Tôi là Phật tử khi còn nhỏ, nên cứ mỗi
đêm rằm, mồng một, hoặc đêm vía hay lễ là chúng tôi đi Chùa, lễ Phật xong chúng
tôi sinh hoạt, học Phật pháp, sinh hoạt ca hát rất vui .
Vào ngày lễ Phật đản sinh Phật tử cả tỉnh Quảng Trị cắm trại trước chùa Tỉnh Hội, những giây phút thân ái đó in sâu vào tâm trí tôi không thể nào quên.
Gần sát bên chùa là đình làng Nại Cửu, đình cũng lớn phong cảnh rất đẹp, trước mặt là ruộng lúa, xung quanh cây cối xanh tươi. Hàng năm vào ngày mồng một Tết, dân làng tập trung cúng bái nhớ ơn các ngài tiền khai khẩn, hậu khai canh, cầu Trời mưa thuận gió hoà, dân chúng làng được sống an vui.
Xóm thứ tư là xóm Rôộc
Xóm nào tôi cũng có nhiều bà con. Xóm Rôộc ở một bên sông Vĩnh Định phong cảnh đẹp thơ mộng, nhớ lại hồi tôi lên khoảng 7- 8 tuổi Cậu tôi đem tôi về nhà ông Viên Trợ chụp cho tôi một "pô" ảnh đẹp lắm, tôi thích quá cậu tôi mua một cuốn album nhỏ, bỏ ảnh vào cho tôi , sau này tôi làm mất album tiếc mãi không thôi. Đến năm Mậu Thân cả nhả tôi và nhà O Đội và chú Tuệ tôi mới rạng sáng ngày mồng một Tết, ba gia đình chạy về xóm Rộộc ngồi trong chuồng heo nhà ông đội Ngô một ngày rồi chiều đến đi qua cầu Ba Bến chạy lên làng Thạch Hãn ở trong nhà ông Hộ (ông Hộ người làng Nại Cửu), mấy ngày sau về lại thì nhà trên bị canh nông sập tan tành, còn chết 6 con bò, trong đó có con đang mang thai.
Xóm thứ năm là xóm Cát, xóm này cũng nằm cạnh bên sông Vĩnh Định, mổi mùa hè, cậu tôi đem chúng tôi về tập bơi, nước sông trong veo mát lạnh. Tập bơi xong cậu tôi đem chúng tôi đi tới nhà bà con có khi ở lại ăn cơm. Chúng tôi tập mãi chẳng có đứa nào bơi được, rồi nghe đồn có ma rà và chúng tôi hết tập bơi.
Xóm thứ sáu là xóm Cát Bội, bên kia
sông Vĩnh Định.
Xóm này quá xa và đi lại khó khăn nên chúng tôi chưa bao giờ đi tới.
Năm 1973 khi ở Đà Nẵng về hồi cư, cậu tôi xin một khoảng đất trong nhà ông Lớn, cậu tôi làm một cái nhà tôn nho nhỏ để ở. Lúc đó tôi học ở trường Cán Sự Huế, mùa hè về thăm nhà, tôi phải đi đò máy từ Hải Lăng để về .
Ngồi trong nhà buổi trưa giống như
ngồi trong lò lửa tôi phải ra ngoài bụi tre ngồi mà vẫn nóng chịu không nổi.
Sau khi ra trường tháng 9-1974, tôi
về làm bệnh viện Quảng Trị ở Hải Lăng.
Nhớ lần đó tôi mới lãnh lương, tôi cất tiền trong bóp để trong cái xách lưới thêm một cái dù, lần đó về thăm nhà, tôi cất giỏ đựng tiền dưới bàn thở. Khoảng gần nửa đêm kẻ trộm vào nhà , lúc đó chị Huệ tôi bán vải, chắc kẻ trộm nghỉ chị tôi có tiền nên mới vào ăn trộm, lúc kẻ trộm đi ngang giường hai chị tôi, chị Huệ nằm phía ngoài tay để ra ngoài giường, như phản xạ chị ngồi dậy chụp lấy tay kẻ trộm và la lên, người kẻ trộm giựt tay ra và chạy, như người mộng du chị Huệ tôi chạy theo ra đến cửa, người kẻ trộm lấy cái gàu múc nước đôi (ném) chị tôi , lúc đó chị mới tỉnh ngủ, cả nhà thức dậy thắp đèn lên để kiểm tra , thì không thấy xách lưới tiền của tôi đâu cả, tôi buồn quá lãnh lương chưa tiêu đồng nào. Nhưng thật may sáng mai thức dậy thì thấy xách tiền của tôi nằm trong bụi tre và một con gà đã chết, người trẻ trộm này đi không đúng giờ hoàng đạo .
Ở đó quán vải chị tôi bán cũng được,
có một cô thợ may, may cũng đắt, tôi cũng học may áo quần để mặc. Thỉnh thoảng
tôi và chị tôi đi về làng Bích La đông để đi chợ, chợ dã chiến nằm trên một khu
đất không rộng nhưng mua bán cũng vui vẻ.
Ở xóm này đời sống tuy khổ cực nhưng cũng rất vui.
Đầu năm 1975 nhà tôi cũng phải từ giã
ngôi nhà tôn nho nhỏ thân mến này để chạy vào Đà Nẵng .
Phường Nại Cửu, cũng chỉ là một xóm
nhỏ ở gần Ái Tử đi lên gần núi .
Mạ tôi kể rằng, lúc xưa có một người đi ở giữ trâu cho một ông trưởng làng ở đó, người này ăn cắp danh bạ đất đai của phường đem về đưa cho làng, nên làng mới có phường Nại Cửu từ lúc đó (đây chỉ là truyền thuyết )
Tôi có ba nhà bà con là O Bút , O
Chỉ và thím Anh.
Lúc tôi còn nhỏ chị tôi hay dắt tôi lên nhà O Bút ở lại chơi, chúng tôi đi vào rừng hái sim và muồng để ăn rất vui, O Bút rất đẹp , O không những bà con mà còn là con nuôi của ông bà nội tôi nên tôi cũng thương O như O ruột O Bút rất đẹp O thương cậu tôi lắm, năm 1971 cậu mạ tôi xây một cái nhà rất lớn sang như biệt thự, Cậu mạ tôi đã mượn của O Bút một số tiền khá lớn, năm 1972 nhà bị bom đạn tan tành rồi chạy giặc, sau năm 1975 trở về hồi cư không có tiền. Cậu mạ tôi chỉ trả cho O Bút nhỏ giọt chút ít O cũng vui vẻ bỏ qua.
Như tôi đã nói làng tôi có 6 họ :
Lê, Võ, Hoàng, Trầ , Nguyễn, Phan (đặc biệt họ Phan này chỉ có một gia đình ông
Phan Ngãi ông này là người cày ruộng cho nhà tôi)
Gốc gác những người đầu tiên đến
làng Nại Cửu là ở Thanh hoá , Nghệ an .
Theo một số truyền thuyết còn lưu
lại ở các họ thì 6 ngài thủy tổ của họ gồm có :
Lê nghi Dân , Nguyễn Xí, Phan bá Đạt,
Hoàng Phùng Anh, Võ duy Bẫm, Trần Phái.
Vốn là vương tôn công thần của nhà Lê, do dính líu vào vụ án "Lệ Chi Viên" của Nguyễn Trãi (Thị Lộ) nên các ngài phải lánh nạn đến vùng Thuận Hoá. Sau khi vượt sông Thạch Hãn thấy phong cảnh hữu tình, đất đai mầu mở các ngài mới chiếm cứ nơi này. Đến đời Lê Thánh Tông, khi nhà Vua ban chiếu chiêu an, các ngài trao toàn bộ sự nghiệp cho con cháu rồi phụng mệnh trở về đất Bắc và qua đời luôn ở đó. Con cháu trên vùng đất mới suy tôn các Ngài làm tiền khai khẩn và tiếp tục khai hoang lập ấp từ đó có tên làng Nại Cửu ra đời (có một thời gọi là Nại Diên).
Dân chúng của làng đa số làm nghề
nông, có một ít người buôn bán nhỏ, hay làm thợ nề, thợ mộc, thợ may nhưng cũng
vẫn làm ruộng .
Họ sống yên phận bên lủy tre xanh,
vườn rau, vườn cây ăn trái và đặc biệt là cánh đồng lúa vàng đẹp mênh mông của làng
được chia đều cho người dân.
Tuy đời sồng nghèo cực nhưng con em
của làng nổi tiếng hiếu học .
Từ xưa qua nhiều đời có các vị đỗ
đạt làm quan ở các triều đại phong kiến, trở thành niềm tự hào cho con cháu
Đó là tiến sĩ Trần Văn Thoại tức Trần Gia Thuỵ, làm thượng thư bộ lễ đời vua Lê Hiển Tông, cử nhân Lê Trọng Điều làm quan phủ đời vua Minh Mạng , cử nhân Nguyễn Đức Nghi làm tham tri bộ lễ đời vua Tự Đức, ông Võ Tử Văn đổ phó bảng đời vua Tự Đức được tôn "Bậc thổ thánh thổ thần" là Thái tử Thiếu Bảo văn minh điện học sĩ một học khoa tài ba. Cậu tôi kể rằng khi ông VõTử Văn cáo lão về hưu ở xóm Côi làng Nại Cửu. Có một năm Vua Tự Đức đi thanh lý tỉnh Quảng Trị, vua ghé thăm Thầy , người ta trải vải đỏ cho vua đi vào bái Thầy và Vua cũng ngồi xuống chiếu với ông.
Còn đến đời vua Khải Định có bác ruột của tôi là Võ Đức Tiếu bác đậu Tú tài toàn phần Pháp , bác tôi làm Secretaire Tresorier (thư ký toà Ngân Khố toàn quốc ) Bác tôi cưới vợ làng Nhan Biều, nhà vợ đòi lể vật là một con heo tréo răng. Ông nội tôi phải thuê người lên thượng du để mua một con heo tréo răng đóng vào một cái cụi đề đi lễ. Bác tôi cưới vợ chưa được bao lâu thì bác bị đau ruột thừa, bác sĩ người Pháp mổ bác tôi bị chết tại bệnh viện Huế (người ta đồn rẳng vì bác tôi không chịu theo Pháp nên họ làm bác tôi chết). Vì chưa có con nên bác gái sau đó đi lấy chồng.
Năm đó 1924 mệ nội mới sinh chú Tuệ được 7 ngày, nghe tin con chết mệ tôi khóc lóc quá nên nổi máu sản hậu cũng chết theo. Tội nghiệp ông nội tôi mới 7 ngày mà bị hai cái tang còn có đứa con mới đỏ hỏn 7 ngày, Sau này cậu tôi cho chú Tuệ vào Huế học trường Quốc Học đậu Diplome xong chú bỏ học đi sĩ quan Đà Lạt khoá 2 tại Đập Đá Huế chú nhát gan lại trốn về.
Nói thêm một chút là cậu (cha) của tôi khi cưới bà vợ trước là bà Thệ ở xóm Roộc nhà gái đòi lể vật là một cặp bò đeo bông tai. Nhưng ở với nhau chưa bao lâu chưa có con thì ly dị, 7 năm sau mới cưới lại mạ tôi.
Người xưa đòi lễ vật kỳ quoặc quá
vui.
Thời Việt Nam Cọng Hoà có ít người
làm lớn như :
Kỹ sư Lê đình Mai (con ông đội Ngô
xóm Rộc ) làm phi trường Tân Sơn Nhất , chú Võ Khai là Đại tá chỉ huy trường
quân nhu vùng I chiến thuật sau này về làm Giám đốc Kỹ thương Ngân Hàng ở Huế,
chú Võ An dạy trường Quốc Học, hai chú nầy là anh em ruột được sinh ra ở Huế ít
về làng .
Đặc biệt là ông Phan Nhật Nam nổi
tiếng cuốn ký sự "Mùa hè đỏ lửa " 1972 của Đại lộ kinh hoàng . Nhưng
ông này đã mất gốc vì ông chưa bao giờ về làng để thăm họ Phan nghèo khổ của
ông .
Thời Việt Nam Cộng Sản gổm cỏ những
người làm lớn như:
Ông Trần Quỳnh làm phó thủ tướng chính phủ , ông Lê Lãng nguyên bộ trưởng bộ ngoại thương , ông Hoàng Hửu Bình tiến sĩ cục hoá chất , có hai người thiếu tướng trong quân đội, nhưng những người này họ đi tập kết lúc tôi mới sinh ra nên tôi chỉ nghe tên thôi chưa bao giờ thấy mặt họ.
Làng tôi cũng có nhiều kỹ sư, bác sĩ
nhưng nổi tiếng là một làng Thầy giáo.
Từ giáo viên sơ cấp đến đại học sư
phạm, đi đâu cũng có thầy giáo nên báo chí và đài phát thanh Quảng Trị đều nói
đến làng Thầy giáo của thôn Nại Cửu.
Đó là những ký ức của tôi về làng
Nại Cửu, có một vài đoạn ngắn tôi đã lấy tin từ trên mạng.
Tôi đã đi xa quê từ năm 18-19 tuổi
nhưng dù bất cứ ở đâu tôi cũng luôn nhớ về làng, nhất là xóm Côi của tôi, nơi
ngôi nhà mà cha mẹ đã sinh ra chị em chúng tôi, hết lòng thương yêu đùm bọc
nhau. Nhớ nhiều những đêm lạnh giá mùa đông, cả nhà ngồi quanh bếp than đỏ hồng,
nhớ những bữa cơm có đông người làm về mùa gặt, nhớ những đêm trâu đạp lúa,
những đêm người ngồi bóc và vẻ bắp dưới ngọn đèn măng song sáng rực ... Nhưng
thương nhớ nhiều nhất là cậu mạ tôi đã qua đời, hằng đêm tôi nguyện cầu cho bao
nhiêu kiếp tiếp nối tôi vẫn được làm con của cậu mạ tôi có chị em tôi sống êm
đềm như thưở ấu thơ ...
Và tôi buâng khuâng thương nhớ mãi
không nguôi.......
.
Seattle viết xong tháng 5-18-2021
Võ Thị Tuyết
