(trước năm 1975)
bút ký
Đông Hà chỉ cách làng
tôi 4 km nhưng mỗi lần được người lớn cho đi Đông Hà là sướng lắm, một nỗi hân
hoan không thể tả dâng lên trong lòng. Đi Đông Hà oai lắm, về kể lại cho mấy
đứa trong xóm--dĩ nhiên có thêm muối thêm mắm--là một vinh dự lớn. Có lần tôi
kể xạo cho chúng nghe rằng ở ngoài Đông Hà cái chi cũng thừa mứa, mà "nhà
o tau là nhất Đông Hà, tiền lẻ một hai đồng vất nghênh ngang không ai thèm
lượm" (thời Ông Ngô Đình Diệm, một hai đồng to lắm)! Tụi nhỏ tưởng thiệt,
đứa nào cũng há hốc mồm ra nghe và mơ ước làm sao có ngày đi Đông Hà cho biết!
Một kỷ niệm mà bây giờ
tôi vẫn chưa quên là vào dịp Tết, hình như lúc đó tôi đang học lớp nhì hay lớp
nhất (lớp 4, lớp 5 bây giờ), tôi đuợc Bọ (ba) chở đi Đông Hà. Ra đến Đông Hà,
hai cha con gởi xe đạp rồi đi bộ dọc theo con phố Phan Bội Châu để đến nhà O.
Tôi thì muốn đi chậm để nhìn những thứ người ta bày bán ở các gian hàng, nhưng
Bọ thì cứ mãi miết đi. Tôi ước chi có được thời gian la cà ở đó, ước có thể
ngổi lên chiếc xe đạp nho nhỏ ba bánh trưng bày ở hàng bán xe và đồ chơi con
nít, đuợc sờ tay vào một chút thôi cũng được, nhưng ước mơ cũng chỉ để mà mơ
ước, chỉ một mình mình biết. Tôi buồn lắm nhưng đành giấu nỗi mơ ước của mình
và phải lộc cộc chạy theo Bọ kẻo lạc...
Lúc chia tay để trở về
nhà, O cho hai anh em (tôi và đứa em gái) hai cái mũ mới làm quà Tết. Tôi mừng
lắm, cầm lấy hai cái mũ đội lên đầu, mũ của em gái để vào trong, còn của tôi
đội ra ngoài. Bọ chở tôi, lặng lẽ đạp xe; còn tôi ngồi sau, tận hưởng hạnh phúc
riêng của mình. Xe đạp chạy phon phon qua Dốc Sỏi (hồi đó dốc này cao lắm, có
người không dám ngồi trên xe mà đạp vì ngợp) mà tôi vì đang ngập tràn niềm vui
có mũ mới, nghĩ tới ba ngày Tết đội đi khoe với tụi nhỏ trong xóm nên chẳng để
ý gì cảnh vật chung quanh… Về nhà, vào đến cửa, lấy hai cái mũ xuống định đem
đi cất, thỉ hỡi ôi, cái mũ phía ngoài của tôi bị gió thổi bay đi dọc đường lúc
nào không hay. Đúng là kêu Trời không thấu!
Năm 1963, tôi thi đậu
vào đệ thất trường Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị, có được chiếc xe đạp để có thể đạp
xe vô ra Quảng Trị học. Đông Hà từ đây bớt đi nét “to lớn, vĩ đại” trong lòng tôi.
Lâu lâu vào dịp cuối tuần, tôi đạp xe ra Đông Hà chơi và thăm gia đình O ở đó…
Từ năm 1968 trở đi thì
Đông Hà trở thành chỗ thân quen hơn vì lúc đó, ngoài những ngày đi học tôi ở
lại tại Quảng Trị (nhà O Lập), cuối tuần và hè thì về làng nhưng ban đêm phải
ra Đông Hà ngủ. Quê tôi lúc này thuộc vùng “xôi đậu,” ban đêm mất an ninh, du
kích bên kia thường về thu thuế và bắt thanh niên đi theo. Vì vậy, chiều chiều,
khoảng 5, 6 giờ bọn con trai chúng tôi từ 15 tuổi trở lên gọi nhau cùng hẹn đạp
xe ra Đông Hà ngủ. Thanh niên ở mấy làng xã lân cận cũng đổ về đây để lánh nạn,
cho nên ban đêm dân số Đông Hà gia tăng thêm, phố xá nhộn nhịp hơn.
Chiến tranh vẫn tiếp
tục và chúng tôi hình như đã quen với mọi khổ đau, chịu đựng riết thành quen!
Vẫn sống, vẫn đi học, vẫn vui chơi…
Năm 1970 vào Huế học,
nhưng thời gian về quê tôi lại ở Đông Hà nhiều hơn. Nói chính xác hơn là tôi về
làng Điếu Ngao (làng sát bên hông Đông Hà, dưới Quốc Lộ I), nơi gia đình Hoàng
Triều sinh sống. Triều là thằng bạn học chung từ lớp đệ tam Nguyễn Hoàng, người
trắng trẻo, đẹp như con gái, dễ thương… Chúng tôi chơi thân (còn có Lê Bá Bôn
nữa) và coi gia đình bạn như gia đình mình. Tôi thỉnh thoảng có về Bích La
Đông, làng của Bôn, nhưng hình như hầu hết thời gian còn lại tôi về Điếu Ngao,
sinh hoạt cùng gia đình Triều như một thành viên gia đình…
Cuộc sống tương đối an
bình ở Đông Hà kéo dài đến gần giữa tháng 4 năm 1972. Lúc này quân Bắc Việt gia
tăng lực lượng để tiến chiếm Đông Hà. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà mất. Bà con chạy
trối chết, mong thoát vô vùng Nam tự do. Và khi Quảng Trị mất thì làn sóng
người chạy trốn người đi "giải phóng" mình càng lúc càng đông. Hình
ảnh người dân nằm chết la liệt vì pháo kích chồng lên nhau ở Cầu Dài vẫn còn
trong tâm trí của người dân Quảng Trị.
Mẹ, chị, và em gái của tôi không chạy kịp nên đành quay lại quê. Gia đình tôi lại thành chia cách, nửa Bắc nửa Nam. Tôi bỏ lại Đông Hà trong xa xót...
Chuyện ngoài lề, nói
thêm cho vui về bạn bè: Sau khi thi xong Tú Tài I, bộ ba chúng tôi (Bôn, Triều,
Hùng) đang hồi ly tán. Triều theo gia đình anh Khiêu (anh của Triều) vào Huế
học đệ nhất Quốc Học, Lê Bá Bôn về nhà làm “bệnh sĩ” tự học để thi Tú Tài II.
Cũng may, lúc này Ban C (Việt văn, sinh ngữ) tôi có Lê Tây--học chung từ đệ
thất trở lên-- làm bạn, nhưng Tây vì lý do “kỹ thuật” lại bỏ về nhà tự học để
thi Tú Tài II. Tôi bơ vơ không bạn. Một thời gian sau tôi quen và chơi thân với
Nguyễn Huynh làng Lập Thạch học lớp Nhất A và Trần Phong Tý, cùng lớp C với tôi
nhưng ban Pháp văn. Nhờ Trời thương, đám bạn bè chúng tôi, dù gặp nhiều trắc
trở, đứa nào cũng vượt qua được hai kỳ thi gian khổ Tú Tài.
Vô Huế, số bạn bè xa
quê càng đông và gần gũi nhau hơn. Gắn bó với tôi có Hoàng Triều, Lê Tây, Trần
Phong Tý, Lê Hữu Sỏ, Nguyễn Văn Hùng…
(Sẽ kể thêm khi viết
về Huế)
Hùng Vĩnh Phước
