▼

Friday, May 21, 2021

Rú Cát - Lê Văn Tiến
tản văn

                             Tưởng nhớ Trần Quốc Triền, người bạn học cùng quê.

Quê tôi ở xã Triệu Sơn, một địa danh khiến người xứ khác tưởng ở vùng trung du, nhưng lại nằm gần biển. Từ làng biển Gia Đẳng vô Triệu Sơn khoảng bốn cây số. Một bên là đồng ruộng, bên kia là một vùng rú cát bạt ngàn. Chính xác thì đó là một vùng đồi cát chập chùng ven biển, người quê tôi gọi là “động” cát. Trên vùng cát không thể canh tác, trồng trọt này lại là nơi rất nhiều loại cây có trái mọc tự nhiên như cây sim, cây móc, cây mao, cây trâm bù… phát triển rất mạnh nên gọi là “rú”.
 

Xã Triệu Sơn có bảy làng nằm liền nhau thành hàng ngang. Ở trung tâm có chợ Cạn là nơi sinh hoạt, mua bán của cả xã. Tôi thường nghe mẹ tôi hát ru “Muốn đánh Tây thì về chợ Cạn. Muốn lấy súng đạn thì lên Ba Lòng”. Thời Pháp thuộc, chợ Cạn là đồn của Tây trú đóng.

Năm lên sáu tuổi, tôi được vào học trường tiểu học An Lưu. Trước đó tôi phải đi giữ trâu. Nhà nghèo nên tôi phải phụ cha mẹ chăn trâu, làm ruộng. Tôi rất thích công việc này. Sau dãy rú cát là một bãi cỏ rộng thênh thang, tôi và tụi bạn thường cho trâu ra ăn ở đó, rồi chơi đùa ở rú cát.

Sau làng An Lưu có nhiều bãi cát, bãi lớn nhất gọi là động Mụ Huyền. Nằm trũng giữa các đồi cát là những ao nước trong xanh. Bọn trẻ chăn trâu chúng tôi bày đủ trò chơi như chia phe đánh nhau, đánh bóng chuyền, chơi ù mọi, trốn tìm v.v... Chơi đã đời thì nhào xuống tắm ở những ao nước này. Thú vị nhất là cùng nhau đi hái những trái sim, trái móc, trái mao, trâm bù để ăn. Những trái cây thiên nhiên này rất tươi ngọt và bổ dưỡng.

Khi con trâu nhà tôi bị đau rồi chết, tôi rất thương tiếc “người bạn” gắn bó với tôi hằng ngày, cũng là phương tiện giúp gia đình tôi làm ruộng sinh sống. Không còn trâu để chăn nữa, tôi mới bắt đầu đi học.

Tôi vào học lớp Năm trễ mất hai tháng sau ngày khai trường, đó là cũng nhờ cha tôi có quen biết với thầy hiệu trưởng nên tôi mới đưọc nhận dù tôi chưa biết một chữ gì. Mỗi đêm mẹ tôi thắp đèn dầu dạy cấp tốc cho tôi những bài tập đọc, tập viết, giúp tôi ráng theo kịp bạn bè. Cuối niên khóa tôi được xếp thứ nhì sau bạn Trần Quốc Triền. Lên các lớp kế tiếp tôi được lãnh phần thưởng danh dự. Cha mẹ tôi rất hãnh diện về thành tích học hành tiến bộ của tôi.

Bên cạnh nhà tôi là nhà o Cặn, có hai người con.  Anh lớn cùng tuổi với tôi tên là cu Lé, người con thứ hai tên là bé Nhím.  Chúng tôi thường đi chơi với nhau cùng vài đứa bạn trong làng. Bé Nhím rất hồn nhiên và dễ thương. Tôi thường hái hoa sim tím cài lên tóc bé và nói: “Sau này lớn lên Bé đi làm có tiền, nhớ trả nợ cho eng nghe”. Bé hỏi, tiền nợ chi? Tôi nói, “Công eng hái bông cài lên tóc Bé mỗi ngày đó”. Bé Nhím lại hỏi: “Lớn lên eng mần việc chi?”. Tôi đáp liền, “Eng đi học lái tàu bay chở Bé đi chơi, được không?”. Bé biết tôi nói ‘dốc’ nên cười khúc khích.

một nhà. Thế rồi thời gian qua mau. Tôi thi đậu lớp đệ thất trường trung học Nguyễn Hoàng. Cha tôi đưa cả nhà lên thị xã Quảng Trị ở cho tôi được đi học gần trường. Thế là tôi phải xa bé Nhím, xa tụi bạn cùng làng rong chơi một thời ở rú Cát. Mấy năm sau, tôi về làng thăm bà con và bé Nhím, thấy tôi về bé Nhím vui mừng chạy ra đón và ôm choàng lấy tôi rồi bỏ chạy, hình như Bé mắc cỡ. Nhìn Bé lớn hẳn ra. Tuổi mười lăm bé Nhím đã biết bím tóc cài trâm. Bé Nhím thay đổi hoàn toàn, thân hình nẩy nở, hai mắt long lanh, đôi má ửng hồng.

“Eng đừng kêu Út là Bé nữa nghe”. “Rứa kêu chi?”. “Bích, tên trong giấy khai sinh đó”. “Ừ, eng sẽ gọi là Bích cho bé vừa lòng”. Nói vậy cho Bé vui, nhưng trong thâm tâm tôi mãi mãi muốn gọi em là bé Nhím. Em vẫn còn là một thiên thần trong mắt tôi. Để tôi  được sống lại những kỷ niệm của một vùng trời tuổi thơ. Hôm đó chia tay bé Nhím tôi  cảm thấy bùi ngùi vô hạn. “Eng nhớ về thăm Bích nữa nghe”. “Ừ, eng sẽ về thăm bé”. Không ngờ sau lần chia tay đó, chúng tôi không còn gặp nhau nữa.

Bảy năm học ở trường Nguyễn Hoàng, tôi gặp biết bao bạn bè thân thương và thầy cô yêu kính. Cám ơn các thầy, cô đã trang bị cho tôi một hành trình vững chắc để đi vào đời. Sau khi đậu tú tài, tôi vào học Văn khoa Huế được một thời gian ngắn rồi chuyển vào học trường Võ bị Đà Lạt. Dù xa quê hương, xa rú cát thân yêu nhưng tôi luôn luôn nhớ về vùng trời kỷ niệm ấy; nơi đó có bạn bè của tôi, có bé Nhím hiền ngoan đang chờ tôi về thăm lần nữa.

Rồi chiến tranh càng ngày càng khốc liệt. Rú cát quê tôi trở thành bãi chiến trường đẫm máu. Dân làng ly tán, người vào Nam, kẻ ra Bắc. Tôi không còn cơ hội về thăm quê nữa, bé Nhím lưu lạc nơi nào tôi cũng chẳng biết.

Sau khi hòa bình trở lại, dân xã Triệu Sơn về hồi hương và tái lập cuộc sống như cũ. Chiến tranh đã gây nhiều đau thương và mất mát cho người dân trong xã. Bạn bè tôi, một số đã vĩnh viễn ra đi trong chiến tranh, số khác lưu lạc tha hương kiếm sống. Tôi cầu nguyện cho tất cả được bình an. Tôi lập gia đình một thời gian thì xuất cảnh, định cư ở Mỹ. Ở xứ người, tuy làm việc vất vả nhưng tôi luôn nhớ về quê hương, nhớ da diết những ngày thơ ấu với ký ức về một vùng quê bên rú cát.

Thế rồi một ngày, tôi nhận tin từ gia đình cho biết Bích đã qua đời vì bệnh ung thư máu. Tôi bàng hoàng và không tin đó là sự thật. Định mệnh oan nghiệt vậy sao? Đúng là sinh tử bất kỳ! “Bé Nhím ơi, eng hẹn về thăm bé, chưa kịp thì em đã ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ!”. Những kỷ niệm tuổi thơ trong tôi bỗng tràn về, những ngày rong chơi với bạn bè với Bé Nhím ở vùng rú cát làm sao tôi quên được?!


Sau mười năm sống xa quê, tôi đưa gia đình về thăm Quảng Trị. Thật vô cùng ngạc nhiên, quê tôi có quá nhiều  thay đổi. Cuộc sống tốt đẹp hơn, nhà cửa xây dựng khang trang hơn. Những con đường trong thôn xóm đã được tráng nhựa và các công trình phúc lợi, công cộng đã làm thay đổi diện mạo quê tôi. Nhưng vùng rú cát thì mất đi vẻ đẹp thiên nhiên. Người ta lập thành khu sinh thái, trồng cây nuôi cá, nhiều gia đình được chuyển đến sinh sống ở đó.

Tôi theo Thành - anh ruột của Bích, lên thăm mộ Bích ở rú cát phía sau làng tôi. “Bé Nhím ơi, lần này eng về thăm thì bé không còn nữa!”. Tôi đặt vòng hoa lên mộ Bích, thắp một nén nhang và cầu nguyện “Bé yên nghỉ đi nhé, hãy rong chơi trong rú cát như ngày nào”. Mắt tôi cay cay và tôi nghe tiếng gió lao xao, lay động cành lá trong những bụi sim trên động cát chập chùng. Ngước nhìn lên bầu trời ảm đạm, những đám mây xám trôi lãng đãng, tôi chợt thấy một cụm mây trắng lẻ loi ở xa tít chân trời. Thế là hết một cuộc đời. Nghìn trùng xa cách...

Khi tôi viết những dòng này thì Cali. đang vào thu, tiết trời se lạnh. Những hàng cây hai bên đường đang thay màu lá. Tôi nhớ về quê hương bên kia bờ đại dương, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tỉnh Quảng Trị, trường Nguyễn Hoàng, vùng rú cát Triệu Sơn... mãi mãi trong tôi là kỷ niệm, là dấu tích của một thời thơ dại. Tôi như con chim xa bầy muốn quay về tổ ấm. Thầm nguyện khi nhắm mắt xuôi tay, xin được về nằm trong lòng rú cát để được vui chơi với bạn bè, với bé Nhím như thuở nào.

Lê Văn Tiến
San Jose - mùa lễ Tạ Ơn năm 2013