Tản Mạn Về Các Thứ Ơn Nghĩa Trong
Đời
- Giáo Sư Nguyễn Châu
NHÂN NGÀY “THANKSGIVING” - LỄ TẠ ƠN
CỦA MỸ
Hằng năm,
người Hoa Kỳ có một lễ lớn vào ngày thứ Năm của tuần lễ cuối tháng 11. Ðó là
ngày Thanksgiving, tạm dịch là Lễ Tạ Ơn. Lễ Tạ Ơn năm nay nhằm vào ngày Thứ Năm
25-11-2021
Lễ Tạ Ơn của người Mỹ bắt đầu từ năm 1621 do những người
Anh di cư đến Tân Thế Giới vào những năm đầu của thế kỷ thứ 17. Những người Pilgrims* đã bỏ xứ Anh quốc ra đi để được tự do tin theo đạo mà mình lựa chọn. Ðoàn người quyết định di cư sang Mỹ. Họ đã phải trải qua bao nhiêu nguy hiểm trên đường vượt biển, khi đến Mỹ lại gặp phải một mùa đông vô cùng khắc nghiệt, lương thực khô cạn... Đói, lạnh và bệnh đã làm chết khoảng một nửa số di dân này tại Plymouth (một thị trấn thuộc Quận Hạt Plymouth ở tiểu bang Massachusetts). Trong cơn nguy khốn ấy, họ lại thấy những người da đỏ, dân bản xứ kéo đến, lảng vảng bên ngoài chỗ tạm trú của họ... Lo sợ, di dân đang bàn đến việc phòng thủ, tự vệ... thì bỗng nghe tiếng một người da đỏ vừa đi vào vừa nói:"Welcome, Englishmen!" Người đi
vào đó tên là Samoset, tù trưởng của bộ lạc Pemaquid, đã học tiếng Anh với các
ngư dân Anh trên bờ biển. Sau đó Samoset trở lại với một ngưòi bạn tên là
Squanto. Squanto là người sống sót (sau một bệnh dịch) của bộ lạc Patuxet, chủ
nhân của vùng đất Plymouth. Squanto mừng rỡ và muốn được cùng ở với mọi người.
Squanto đã giới thiệu để di dân gặp Massasoit, một tù trưởng thế lực nhất trong
vùng... Qua trung gian của Squanto, dân da đỏ đã giúp di dân qua cơn guy khốn.
Squanto đã chỉ cách cho họ trồng trọt trên thủy thổ mới, chỉ cách săn thú và
đánh cá... nhờ đó họ có đủ thực phẩm. Nếu không có Squanto chắc các di dân sẽ
chết hết vì đói, lạnh...
Mùa thu
năm 1621, di dân Anh tổ chức lễ Tạ Ơn mừng được mùa. Họ mời Squanto, nhờ
Squanto mời Massasoit cùng một số ngưòi da đỏ khác tham dự. Các bà đầu bếp nấu
ăn chỉ dự trù chừng 60 phần ăn cho khoảng 50 di dân và 10 vị khách. Người
Pilgrims chưa biết tục lệ địa phương cùa người da đỏ, đó là khi được mời ăn, họ
thưòng rủ theo bạn bè... cho nên số khách thay vì 10 thì con số lên tới 90...
Thế là thiếu thức ăn. Massasoit liền bảo mấy chiến sĩ da đỏ đi săn nai. Thịt
nai đã cung cấp đủ cho mọingưòi ăn uống vui chơi, thi đua vui vẻ trong nhiều
ngày. Ðây là lễ Tạ Ơn đầu tiên.
[*
Pilgrim: nghĩa là những người đi hành hương qua một hành trình thường dài và
đầy gian khổ để đến một nơi đặc biệt vì những lý do tôn giáo. Đây là trường hợp
của những người Anh theo đạo Tin Lành (Puritanism - một giáo phái chủ trương
kiềm chế bản thân, làm các việc lành và không để khoái lạc cám dỗ - Có sách gọi
là Thanh Giáo/ Purity= sự thanh khiết). “The Pilgrim Fathers”dùng để chỉ những
người theo đạo Tin Lành Puritan ở Anh Quốc, họ đến Mỹ từ năm 1620 và thành lập
khu kiều dân đầu tiên ở Plymouth, tiểu bang Massachusets.]
ƠN
LÀ GÌ ?
ƠN cũng thường
gọi là ÂN (gốc Hán Việt). ƠN là những việc làm, những hành vi giúp ích, đem lại
phúc lợi cho người khác (tha nhân) do lòng thương yêu, từ ái thúc đẩy, chứ
không bắt nguồn từ một ý chí vụ lợi nào cả. ƠN là một biểu lộ cao quý của tình
yêu, một tình cảm ban bố vô điều kiện...
Chữ ÂN này Hán
tự viết theo lối hội ý gồm chữ Nhân (có nghĩa là: do từ, bởi tại, khởi từ...)
phía dưới là chữ Tâm 恩 (có nghĩa là trái tim, là lòng
yêu thương) như vậy "ƠN" là hành động phát xuất từ lòng[“do tâm”].
Hán tự còn một chữ ÂN có bộ Tâm nữa với ý nghĩa là sự lo lắng, là tình cảm đậm
đà như trong từ ngữ ”ân cần”. Một chữ đồng âm ”ân” khác có nghĩa là thịnh
vượng, đầy đủ, chẳng hạn :”ân phú” là giàu có. Chữ ”ân” này không có bộ tâm,
nghĩa là không thuộc về tình cảm.
NHỮNG TIẾNG KÉP CÓ CHỮ “ÂN”
Hình như Ơn hay Ân từ ngàn xưa và
khắp đông tây đều đã rất phổ biến trong mọi sinh hoạt hàng ngày của loài người.
Quốc gia nào dường như cũng có tiếng "cảm ơn" và có nhiều cách để bày
tỏ lòng biết ơn. Có lẽ vì thế cho nên trong ngôn ngữ Trung Hoa và Việt Nam đã
có khá nhiều từ ngữ để chỉ các hình khái khác nhau của hành vi gọi là ƠN hay
ÂN.
Theo thứ tự tự mẫu, xin trình bày lần lượt như sau:
1/ Ân ái: theo từ điển Thiều Chửu thì "ân ái" là
vợ chồng cùng yêu nhau và cho nhau tất cả. Có khi nói là ái ân có nghĩa là
những hạnh phúc, vui sướng vợ chồng ban cho nhau. Từ điển Ðào Duy Anh ghi là "ái
tình rất thân thiết" (affection mutuelle).
2/ Ân ba: nguồn ân lâu bền như sóng (bienfaits inépuisables)
ÐDA/sđd.
3/ Ân cần: lo lắng chu đáo
4/ Ân điển: Sự ban thưởng của Vua nhân ngày khánh tiết (dịp
vui mừng lớn)
5/ Ân đức: Lòng hay làm ơn, ban ơn
6/ Ân hận: lòng thấy hối tiếc về hành vi sai phạm của mình
kèm theo ý hướng muốn đền bù.
7/ Ân huệ: Việc tốt, phúc lợi đem lại cho tha nhân vì lòng
thương bao dung... Chữ ”Huệ” cũng có nghĩa là lòng thương cao quý đối với con
người, ”Huệ” là cho ơn, thể hiện Ơn bằng hành vi cụ thể (faveur, favor).
8/ Ân khoa: Khoa thi đặc biệt dành cho sĩ tử thời quân chủ
nhân dịp vui mừng của Quốc gia.
9/ Ân nghĩa: Mối tương quan giữa người ra ơn và người nhận
ơn. (sẽ bàn thêm trong phần Ân Nghĩa)
10/ Ân nhân: người làm ơn (cũng gọi là ân gia)
11/ Ân sủng: Ơn huệ từ vua ban xuống (faveur impériale)
12 Ân tình: những cho và nhận, ban phát do tình yêu (favors
of love)
13/ Ân trạch: Ơn vua dành cho triều thần
14/ Ân tứ: Ơn vua
15/ Ân xá: tha thứ một cách quảng đại, vô điều kiện.
NHỮNG THỨ ƠN TRONG CUỘC ÐỜI
Ðời sống tình cảm của con người
ở-đời rất phong phú và phức tạp. Sự phức tạp của tình cảm thường phát xuất từ
vấn đề tình nghĩa. Tình là lòng yêu thương và nghĩa là ý thức về điều hay lẽ
phải, về những cái nên làm, đáng làm. Tình là những biểu lộ của trái tim, nghĩa
là những hành vi từ lý trí, ý thức. Con người có đủ Tâm - Trí thì tình nghĩa
mới điều hòa và cuộc đời mới hạnh phúc, an vui.
Xưa nay, người đời sợ nhất là những
kẻ vô tình và bất nghĩa, hoặc những người bội nghĩa vong ân. Vì nhân loại đã
chịu biết bao nhiêu nỗi đau thương do hành vi vô ơn bạc nghĩa gây nên! Do đó
vấn đề ”ƠN NGHĨA” rất cần được tìm hiểu sâu xa. Tuy xuất phát từ Tâm, nhưng mỗi
hoàn cảnh biểu lộ đều có một số dị biệt, cho nên cần khảo sát xem có bao nhiêu
thứ ƠN trong cuộc đời.
1.- ƠN
CHA MẸ
Ca dao Việt Nam
ghi nhận:
“Ơn
cha như núi Thái Sơn
Nghĩa
mẹ như nước trongnguồn chảy ra
Một
lòng thờ mẹ kính cha
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Ơn cha mẹ
thường được nói đến một cách tổng quát như ”ba năm dưỡng dục, chín tháng cưu
mang” hoặc ”Cha sinh mẹ đường đức cù lao”... Chúng ta có thể tạm liệt kê như
sau:
– Ơn sinh sản:
mẹ mang thai 9 tháng 10 ngày... chịu đủ thứ nhọc nhằn vất vả khi con nằm trong
bụng. Khi con ra đời mẹ phải chịu nhiều đau đớn, khổ sở. Cha thì phải lo ngược
xuôi để nuói sống và sắm sửa vật dụng cho đứa con tương lai, lo chu toàn cấp
dưỡng cho người mẹ, cầu mong cho ”mẹ tròn con vuông”.
– Ơn nuôi nấng:
bú mớm, bồng ẳm, chăm sóc, nâng niu... mẹ cha phải thường trực lo lắng cho đứa
bé.
– Ơn thuốc
thang, canh thức, dỗ dành khi ốm đau.
– Ơn dạy bảo:
từ sơ sinh đến lớn khôn cha mẹ đều luôn luôn lo uốn nắn, dạy bảo để trau dồi
đức hạnh và trí tuệ để con nên người.
2.- ƠN THẦY VÀ BẠN
– Ơn Thầy: con
người sinh ra nếu không được giáo dục thì đời sống sẽ rất gần với bản năng thú
vật, do đó con người phải học tập, phải được giáo huấn. (Sách xưa có câu ”Dưỡng
nam bất giáo như đưỡng lư, dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư: nuôi con trai mà
không dạy thì như nuôi lừa, nuôi con gái mà không dạy thì như nuôi heo!”).
Trong quá trình giáo huấn để nên người, thầy là người nhiều công lao và hao tổn
tâm trí nhất. Thầy khai sáng kiến văn và đạo lý.
– Ơn Bạn: trong
quá trình thành nhân, bạn cũng là một thành phần rất cần thiết. Con người cần
có bạn như ”chim có đàn cùng hót, tiếng hót mới hay, ngựa có bạn cùng đua, nước
đua mới mạnh”. Bạn là người đồng trang lứa, cùng thanh khí tức là cùng một ước
mơ, sở thích, chí hướng với mình... thường chung vui, chia buồn, khuyến khích,
cổ vũ mình trong những lúc gặp trở lực, nghịch cảnh hoặc thất bại. Trong học
vấn, bạn có khi giúp ta hữu hiệu hơn thầy: ”Học thầy không tầy học bạn”. Tình
bạn càng thắm thiết chân thành bao nhiêu thì ơn bạn càng sâu xa bấy nhiêu.
Ở đây cũng cần
phân biệt rõ hai thành phần thường hay bị nhầm là một, đó là bạn và bè. Người
ta thường gọi chung là bạn bè, nhưng thực sự thì BẠN và BÈ rất khác nhau.
BÈ, nghĩa đen là nhiều khúc gỗ, nhiều cây tre, cây nứa hoặc
cây chuối kết lại với nhau trong lúc khẩn cấp hoặc cần cấp để vuợt qua sông, để
chạy nước lụt... Qua cơn khẩn cấp thì bè không cần thiết nữa, người ta rã bè
ra, gỗ tre rời sẽ đem về làm những việc khác. Trong cuộc sống con người cũng
vậy, lúc nguy nan khẩn cấp, vì vấn đề sống còn và tự vệ, nhiều người khác nhau
về nhiều mặt, vẫn có thể kết bè với nhau để giải quyết hoặc đối phó với những
việc xảy ra trước mắt. Chẳng hạn, mọi người trong khu vực bị nước lũ đe dọa,
kêu gọi nhau ra cùng đào đất đắp bờ ngăn nước; trên đường dài nhiều ngưòi tụ
với nhau thành bè nhóm để cuộc đi đỡ lẻ loi, để vui, để đối phó với những bất
trắc trên hành trình... Khi thủy nạn đã qua, cuộc đi đã đến nơi, đến chốn...
nhóm người đã đồng hành này sẽ tan rã, ai lo phận nấy, ai về nhà nấy, không có
trách nhiệm gì với cuộc sống của nhau cả. Ðó là tính chất của ”Bè”: kết hợp với
nhau vì một mục đích và tư lợi nhất thời và trước mắt.
Trái lại, BẠN đúng nghĩa phải là những người đồng cảm, đồng
tâm (đồng thanh, đồng khí), cùng một chí hướng, kết hợp với nhau vì tình nghĩa,
có trách nhiệm hỗ tương đối với cuộc sống của nhau, chia buồn, chung vui, vinh
quang cùng hưởng, hoạn nạn cùng chia... Kinh nghiệm và sách sử đã cho ta thấy
rất nhiều tình bạn cao quý, keo sơn, ân nghĩa tròn đầy, thủy chung như nhất.
3.- "ƠN LÒNG" - ƠN TÌNH NHÂN
Sau ơn
sinh thành, dưỡng dục, ơn thầy, ơn bạn là ơn người tình. Ðây là một loại ân sâu
nặng nhưng người đời thường ít quan tâm để nhắc nhở. Thật vậy, bình thường, con
người khi đến tuổi yêu đương ai cũng khao khát có được một TÌNH NHÂN đích thực,
nghĩa là một người bạn khác phái "tâm đầu, ý hiệp" tức là có chung
một "tần số rung cảm" của tâm hồn trước cuộc đời và vũ trụ. Một đôi
tình nhân đích thực phải là hai tâm hồn hòa hợp một cách tự nhiên chứ không
phải là cố gắng điều chỉnh cá tính của mình cho thích hợp với cá tính khác biệt
của người kia nhằm mục đích chiếm hữu cho được những gì mình thích nơi người mà
mình cho là yêu.
(Sự điều chỉnh
để cho vừa lòng đối tượng đang chinh phục, qua thời gian sẽ bị lệch lạc trầm
trọng hơn, vì tính tình cố hữu chỉ có thể che dấu chứ không thể nào thay đổi
được. Một nhà tâm lý học Pháp đã nhận định rằng: ”La nature chassée, revient au
galop” nghĩa là “Bản tính tự nhiên bị xua đưổi nó sẽ phi nước đại trở về”. Thật
vậy, tính tình con người bị ý chí khống chế vì hoàn cảnh, khi có dịp bộc lộ nó
sẽ rất vũ bão.)
Tình nhân hoặc
vợ chồng là những nguồn ân ngọt ngào và tha thiết nhất trong cuộc sống của một
con người bình thường. Người tình đích thực là một người biết cho và biết nhận,
sẵn sàng ban ơn và chịu ơn của đối tượng. Ân tình là sự thông cảm, bao dung,
tha thứ, an ủi, vỗ về... khi gặp gian nan nghịch cảnh...
“Xin chàng chớ có giận hờn,
Ðổ mồ hôi em chặm, ngọn gió lồng em
che”
Ơn lòng là ơn của sự tương tri... hiểu biết nhau một cách
chân thật.
Thúc Kỳ Tâm nói với Thúy Kiều:
Sinh rằng:”Từ thuở tương tri
Tấm riêng, riêng những nặng vì nước
non...”(câu 1329-1330)
Thúy Kiều nói:
Nàng
rằng: “Muôn đội ơn lòng
Chỉ
e bên thú, bên lòng dễ đâu? (1333-1334)
Câu chuyện ”Phạm Công-Cúc Hoa” là
một điển hình về ơn lòng : Phạm Công là một học trò nghèo, Cúc Hoa là con một
quan Tri Phủ bề thế, cao sang. Trọng tài, mến đức và thương cảm hoàn cảnh người
học trò mồ côi cha đang lo nuôi đưỡng mẹ già... Cúc Hoa đã đem lòng yêu thương
tha thiết. Tình yêu mãnh liệt của Cúc Hoa đã buộc quan Tri Phủ phải gã nàng cho
Phạm Công. Cúc Hoa đã giữ đúng đạo làm vợ, làm dâu... để chồng rảnh rang lo học
hành.
Truyện kể rằng đến ngày lên Kinh đô
ứng thí, Cúc Hoa đã dốc hết tiền của dành dụm đưa cho chồng làm lộ phí. Phạm
Công đã rớm nước mắt chia đôi với vợ số tiền nhỏ ấy để cả hai cùng sống còn...
Cái khăn quàng cho đỡ rét Cúc Hoa trao cho, Phạm Công cũng xin vợ được xé làm
đôi mỗi người một nửa... Ôi! Ân tình này làm sao quên được! Cho nên, sau khi đỗ
Trạng Nguyên, Vua ép gã công chúa hai lần, Phạm Công đều xin vua tha mạng vì đã
có người vợ nghèo và hai con nhỏ ở quê nhà. Tức giận, vua đã toan dùng đến cực
hình để trị tội "khi quân” nhưng Phạm Công vẫn một mực từ chối...
Phạm Công - Cúc Hoa là truyện hư cấu
để nói lên những ân tình sâu nặng của tình yêu đích thực. Chuyện thực xảy ra
trong đời thực, chúng ta có bà Trần Tế Xương và nhất là bà Phan Bội Châu. Cụ
Phan đã khóc và kể ơn người bạn đời một cách thảm thiết! Cụ Phan đã viết thư
cho con, trước khi cụ bà mất như sau:
“
Này con! Chúng con ôi! Cha mày e chết ở rày mai, có lẽ mẹ mày không được một
phen gặp nhau nữa! Nhưng nếu Trời thương ta, cho hai ta đồng chết, thì gặp nhau
ở suối vàng cũng vui thú biết chừng nào!
“
Nhưng đau đớn quá! Mẹ mày e chết trước ta, Ta hiện giờ nếu không chép sơ những
việc đời mẹ mày cho chúng con nghe, thời chúng con rồi đây không biết rõ mẹ mày
là người thế nào, có lẽ bảo mẹ ta cũng như người thường thảy cả.......
“
Bây giờ ta ư lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử mẹ mày, nói với mày:
“Mày
nên biết, nếu không có mẹ mày thời chí của cha mày đã hư hỏng những bao giờ
kia!
.....................
“
Bây giờ nhắc lại, trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm, nghèo đói mà
lại bạn bè nhiều, khốn cùng mà chí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ơn mẹ mày.
Mối ân tình ấy làm sao cầm được giọt
nước mắt biết ơn? Ôi! những người tình, người vợ, người chồng... tìm nhau, đến
với nhau, chẳng phải vì tiền, vì của, hay vì những hào nhoáng bên ngoài... mà
là vì những tình cảm sâu xa và cao quý, vì những rung động tâm thức chung,
riêng giữa trường đời thường đẫy đầy vị kỷ, nhỏ nhen!
Ôi! những người tình, những cặp vợ
chồng đã chỉ biết trải lòng ra để thương yêu và thông cảm nhau, không hề mảy
may đặt vấn đề quyền lợi với nhau mà chỉ thấy có một trời thương yêu không bờ
giới... Không những chỉ lo cho thân thể và linh hồn của nhau... mà còn lo lắng
cho cả dòng họ của nhau... để rồi tự nguyện hy sinh hết thân tâm vì nhau...
Người tình đích thực thường cảm thấy vui thú, hạnh phúc khi được hy sinh cho
người mình yêu.
Xin trích vài câu khóc vợ của cụ
Phan Bội Châu để tạm kết phần ”ÂN TÌNH”:
“Tình
cờ gặp khách năm châu, hơn ba mươi năm, chồng có như không, cố đứng vững mới
ghê, ngậm đắng, nuốt cay tròn đạo mẹ.
“Khen
khéo giữ nền tứ đức, ngoài bấy chục tuổi, sống đau hơn chết, thôi về mau cho
khỏe, đền công trả nơ nặng vai con.
“Ba
mươi năm cầm sắt khéo xa nhau, mưa sầu gió thảm chỉ bóng làm chồng, ngồi ngó
trẻ con rơi lệ nóng.
“Dưới
chín suối thân bằng như hỏi đến, lấp biển dời non, nào ai giúp bác, chỉ còn
mình lão múa tay không”.
4.- ƠN TRI NGỘ
Ðây cũng là một nguồn ân đem lại
nhiều hạnh phúc và lạc thú trong cuộc đời, nhất là đối với những ai từng gặp đổ
vỡ vì nhầm lẫn hoặc bị nhiều ngộ nhận. Có một người bạn tâm giao là
điều mà hầu hết mọi người đều ao ước.
Bạn tâm giao không phải là để nhờ vả
gì nhau trong cuộc sống vật chất. Ðây là sự gặp gỡ kỳ diệu giữa phần tâm linh
của hai người tuy sống riêng biệt mỗi người một phương, một cảnh... khác nhau,
cách xa... nhưng cứ nghĩ đến nhau thì lại thấy vui, thấy được ấm lòng và không
thấy mình cô đơn, trống vắng. Trông thấy nhau thì vui, vắng nhau thì nhớ, cùng
vui, cùng buồn...
Trong các ngành nghệ thuật như cầm,
kỳ, thi, họa... có một tri kỷ là điều thật cần thiết. Vì nếu không gặp được tri
kỷ thì lấy ai mà ”tỏ nỗi hàn ôn”, lấy ai ”gởi gắm niềm tâm sự”, tìm đâu ra
người hiểu được mình qua một khúc đàn, một nước cờ, một lời thơ, một nét họa...
Không có ơn tri ngộ, ta sẽ rơi vào tâm trạng cô đơn, khắc khoải của Tố Như
(Nguyễn Du)
(X “Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong
vận kỳ oan ngã tự cư
Bất
tri tam bách dư niên hậu
Thiên
hạ hà nhân khấp Tố Như ?”
(Xưa nay những
buồn hận trời khó hỏi
Thời thế vần
xoay ta vẫn trong nỗi oan này
Không biết ba
trăm năm sau
Trên đời có ai
sẽ khóc Tố Như chăng?)
Gặp được một
người bạn hiểu được tâm sự của mình, ai mà không cảm thấy sung sướng, thấm thía
tình người và biết ơn tri ngộ?
Ơn tri ngộ sẽ
làm cho cửa lòng ta mở rộng đến những tình yêu bao la và cho ta gặp được chính
lòng ta... giúp ta trở thành con người đầy đủ nhân tính hơn... “Yêu em anh bỗng
từ bi bất ngờ!”
Cuộc tri ngộ
của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê trong văn học sử Việt Nam là một tình bạn tâm
giao thắm thiết đến nỗi khi Dương Khuê tạ thế, Nguyễn Khuyến đã cảm thấy mất đi
hầu hết hứng thú của cuộc đời:
“Rượu
ngon không có bạn hiền
Không
mua, không phải không tiền, không mua!
Câu
thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết
đưa ai, ai biết mà đưa?
Giường
kia treo những hững hờ
Ðàn
kia có gãy, ngẩn ngơ tiếng đàn...”
(Nguyễn Khuyến
khóc Dương Khuê)
Ơn tri ngộ cũng
có tác dụng xóa hết biên thùy của giai cấp...
5.- ƠN
XÃ HỘI - QUỐC GIA
Ðây là những ơn
thiên về lý trí. Không ai có thể sống mà không cần đến xã hội vì sống đích thực
là sống-cùng và sống-với người khác. Do đó, mọi người trong xã hội đều phải
biết ơn lẫn nhau. Cơm ăn, áo mặc, nhà ở, xe cộ, thuốc thang, giải trí... vân
vân đều là những công ơn trong cuộc đời. Trong cảm thức này, người đời đã luôn
luôn cảm ơn nhau trong các sinh hoạt hỗ tương hàng ngày.
ƠN
QUỐC GIA tức là ơn những người khai quốc và trị quốc, lo mở mang bờ cõi, giữ
gìn an ninh, thăng tiến cuộc sống vì phúc lợi của muôn người. Ngày xưa trong thời quân chủ ơn này
được gọi là ”ơn vua lộc nước” hoặc là ”ơn mưa móc” vì vua thường được đồng hóa
với quốc gia, vua là con trời cho nên có mưa, có sương (móc)... thấm nhuần thần
dân.
6.- ƠN TRỜI, ƠN THIÊN NHIÊN,
SÚC VẬT
Hầu hết người Việt Nam thuần túy đều
tỏ ra biết ơn tất cả những gì đem lại an sinh cho loài người.
Ca dao ghi
nhận:
“Ơn
Trời mưa nắng phải thì
Nơi
thì bừa cạn, nơi thì cày sâu...”
Và đối với
Trâu, người nông dân đã xem như một thành viên trong sản xuất, một “người” bạn:
“Trâu
ơi! ta bảo trâu này
Trâu
ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cái
cày với nghiệp nông gia,
Ta
đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao
giờ cây lúa còn bông,
Thì
còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.”
Súc là những
con vật được thuần hóa và nuôi trong nhà. Súc vật hổ trợ rất đắc lực cho sự
sống con người từ sức lao động đến thực phẩm, thuốc men...
Trong nhiều xã
hội, nhất là xã hội Âu, Mỹ... súc vật có một vị trí khá đặc biệt trong gia
đình. Chó, mèo, lợn... thường trở thành “bạn” gần gũi của con người, được nâng
niu và thương quý rất mực...
Trong tinh thần
biết ơn thiên nhiên vũ trụ này, người Việt xưa đã tôn thờ và tạ ơn cả Ngũ Hành.
Mỗi làng theo truyền thống đều có miếu Ngũ Hành thờ năm bà: KIM, MỘC, THỦY,
HỎA, THỔ... (Cây cối mùa màng tốt tươi thì tạ ơn Bà Thủy, Bà Mộc... Thợ rèn thì
cúng tạ ơn Bà Hỏa, Bà Kim... còn Bà Thổ thì nhà nào cũng phải cúng vì tất cả
đều nhờ ơn đất mới có chỗ nương tựa...
7.- ƠN
THIÊNG LIÊNG: Về mặt tôn giáo có các ân sau đây:
– Ân Tam Bảo:
Giáo lý Phật có
nói đến bốn ân lớn. ” Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”. Tứ
trọng ân gồm: Ơn Cha mẹ, Ơn thầy bạn, Ơn quốc gia, xã hội và ân Tam Bảo. Ân Tam
Bảo là ơn Phật, Pháp và Tăng.
a/ Ân Phật Bảo:
ơn người đã trường từ bảo vị vương cung, thê tử quyến thuộc để xuất gia tìm đạo
giải thoát cho chúng sanh, chịu sáu năm khổ hạnh tu trì, tham thiền 49 ngày
dưới gốc cây Tát-ba-la để chứng ngộ và ơn thuyết pháp giáo hóa trong 49 năm.
b/ Ân Pháp Bảo:
nhờ Pháp [giáo lý] ta mới biết lối tu hành, khử ác, hành thiện... để thoát ly
khổ đau, sanh tử... được thanh tịnh an vui.
c/ Ân Tăng Bảo:
ơn các bậc xuất gia tu hành đã phiên dịch, diễn giảng kinh điển giữ Pháp luân
thường chuyển...
–
Ơn Chúa: Thiên
Chúa Giáo có “Kinh Lạy Ơn” nội dung có những ơn như sau: ”Chúng tôi lạy ơn đức
Chúa trời thiêng liêng sáng láng vô cùng, đã cho tôi đặng làm người, cùng chịu
nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và lại cho phần xác tôi ngày hôm nay đặng
mọi sự lành, lại cho ngôi hai xuống thế làm người chịu chết trên cây thánh giá
vì tôi...”
Tóm lại, con
người sinh ra và sống ở đời là đã chịu rất nhiều những ơn huệ của nhau. Ðối với
người có tấm lòng thanh cao rộng mở thì sự ghi ơn rộng khắp muôn nơi. Trái lại
đối với người ích kỷ, lòng dạ lúc nào cũng mưu cầu lợi lộc cho bản ngã của
riêng mình, thì không có gì gọi là ân nghĩa cả, mọi tương giao chẳng qua chỉ là
trao đổi, lợi dụng nhau... khi không còn giá trị để lợi dụng, hoặc nhận thấy
không thể lợi dụng được nữa thì xoay lưng, sấp mặt, thậm chí tìm cách triệt hạ
người đã giúp mình từ những ngày hàn vi, cái thời “vạn sự khởi đầu nan” của
mình, để chứng tỏ là tôi chẳng hề mang ơn ai, chẳng ai có thể làm ơn cho tôi!
“Nên ra tay
kiếm tay cờ,
Chẳng nên thì
chớ, chẳng nhờ cậy ai”
Nhân Ngày Lễ Tạ
Ơn của Hoa Kỳ, chúng tôi xin tìm hiểu sơ lược các thứ ơn trong cuộc đời và xin
nhắc lại một vài điều ân nghĩa trong truyền thống dân tộc Việt qua hành vi làm
ơn và đền ơn.
Hầu như đa số
người đời khi thi ân đều do sự thúc đẩy của tình cảm, của lòng nhân ái, của cái
mà Mạnh Tử gọi là ”Trắc ẩn chi tâm,”[lòng thương xót người gặp hoạn nạn] một
hành động giúp đỡ đồng loại bộc phát, không bao hàm mong cầu sự báo đáp nào
cả.
Người làm ơn
nhằm mục đích buộc người ta biết ơn mình thì thực chất đây không phải là “làm
ơn” mà chỉ là một loại nợ, một cách tạm ứng mà thôi. Người làm ơn đích thực
không cần báo đáp. Làm ơn không cầu báo, “thi ân rồi quên di” không bao giờ
nhắc lại, không kể cho người thứ ba nghe biết thì chắc chắn sẽ không có oán hận
trong đời. Trong kinh Luận Bảo Vương Tam Muội, trích dẫn bởi
Mười Ðiều Tâm Niệm, điều thứ 8 ghi rằng: “Thi ân đừng cầu đền đáp, vì
cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ.”
Ðức Phật
đã dạy bằng một hình tượng rất cụ thể: ”COI THI ÂN NHƯ ÐÔI DÉP BỎ” nghĩa là xem
việc giúp đỡ kẻ khác là một cách “Thi ân mạc niệm.” Ðừng bao giờ nhớ là mình đã
có làm ơn cho ai. Kinh Phật còn có nói: “Người bố thí hàm ân người được bố
thí.”
Vậy thì vấn đề
ân nghĩa và báo đền không còn gì quan trọng nữa. Thế nhưng, về mặt đạo lý làm
ơn là một hành vi thuộc tình cảm, dù người làm ơn không nghĩ đến chuyện được
biết ơn, đền ơn, nhưng hầu hết người nhận ơn vẫn thường không quên ơn. Ðó là
nguyên ủy của ngày Thanksgiving tại Bắc Mỹ.
Thật vậy, người da đỏ bản xứ khi
giúp đỡ cho di dân Anh đang dói lạnh, bệnh và chết trong mùa đông khắc nghiệt
vào năm 1620, họ không có một ý tưởng lợi lộc nào, hành vi này khởi từ lòng
nhân mà thôi. Lễ Tạ Ơn đầu tiên mà di dân Anh cử hành ở Plymouth vào mùa thu
năm 1621, đã kéo dài nhiều ngày chung vui giữa di dân và người da đỏ bản xứ.
Thanksgiving là ngày vừa tạ ơn trời vừa tạ ơn người.
NHỚ
ƠN LÀ MỘT HÀNH VI CAO ÐẸP
Nhớ ơn là một
hành vi cao đẹp. Người Việt Nam cũng thường nhắc nhở lòng biết ơn:
- “Ơn ai một
chút chớ quên”
-
“Một miếng khi đói bằng một gói khi no
Của
tuy tơ tóc nghĩa so nghìn vàng,”
Nhiều khi,
người Việt biết ơn một cách bao quát như:
“Uống
nước, nhớ nguồn,” ”ăn quả nhớ kẻ trồng cây,” ”ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà
trồng”...
Tâm tư tình cảm
này của người Việt cũng tương tự với tinh thần của Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ.
Ðối với văn hóa
Việt, lòng biết ơn được xem như là một tiêu chuẩn đạo lý.
“Ơn ai một chút
chớ quên” chính là ”Thọ ân mạc vong” đây là lời khuyên xuất phát từ quan niệm
”không ai có thể tự hào là không cần đến người khác” khi còn sống ở đời. Sully
Prud'homme, một nhà văn Pháp cũng đã chia sẻ tư tưởng này trong một bài thơ với
câu kết
“Nul
ne peut se vanter de se passer des hommes.”
Nói cách khác,
sống ở đời mọi người đều chịu ơn nhau.
Theo J.M.
Massieu thì ”Biết ơn là trí nhớ của con tim.” Người Việt truyền thống rất tôn
trọng tình cảm biết ơn. Ca dao tục ngữ có rất nhiều câu nhắc nhở:
“Một
ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen”
hoặc
“Một
chữ nên thầy” và xa hơn nữa ”nhất dạ bá ân”
(Chỉ một
đêm có đến trăm ân huệ).
Có lẽ, tâm
trạng muốn quên ơn bắt nguồn từ chỗ người ”thi ân có ý mưu đồ.” Ngoài ra, có
một loại ơn mà ít người muốn quên, lại luôn luôn nhắc nhở, có khi tự hứa là
sống để dạ, chết mang theo nữa: đó là ơn lòng, ơn tri ngộ. Ơn người hiểu được
tâm sự và chí hướng của mình, đó là Ơn người đã cứu mình thoát khỏi cảnh cô đơn
của tâm thức.
Nguyễn Châu