Khí tiết của sử gia
và thái độ kiểm duyệt
sáng suốt
- Bác sĩ Trần Văn Tích
(Xin cám ơn nhị vị Nguyễn Vy Khanh và Lâm Văn Bé đã cung cấp thêm tài liệu để giúp tôi hoàn tất được bài viết này.)
Phần 1.- Giới thiệu tài liệu
Trong bộ Việt sử Toàn thư (Từ Thượng-Cổ đến Hiện-Đại), Tủ Sách Sử Học, ấn bản đầu tiên phát hành theo giấy phép số 951/XB cấp ngày 27-05-1960, Đại Nam in lại ở quốc ngoại, nơi trang 713, cố Đại tá Phạm Văn Sơn viết nguyên văn như sau
: “Hơn nữa Pháp-quân đi đâu cũng hãm-hiếp phụ-nữ, cướp của giết người, nên càng khiến nhân-dân căm-hờn, sự cộng-tác của dân-chúng với kháng-chiến vì thế mà thêm chặt-chẽ. Sau này tướng Carpentier và Gambièze cố gỡ các lỗi lầm này bằng các biện-pháp chính-trị nhưng đã quá muộn.“ Rồi tiếp đến trang 715, cố Đại tá lại viết nhắc lại lần nữa : “Nhưng Pháp-quân đi tới đâu tàn phá đến đấy, gieo căm-thù tang-tóc khắp nơi, Pháp-quân lại là quân xâm-lược thì cũng đủ là kẻ địch của nhân dân rồi...“.Trong Tập 4 bộ
Quân sử Quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong giai đoạn hình thành 1946-1955 do
Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu thực hiện, Cơ sở Đại Nam tái bản ở quốc
ngoại, nơi trang 61, cột trái, gần cuối trang, sử gia Phạm Văn Sơn lại
viết : “Quân Pháp quen đánh dàn trận không quen với lối đánh quấy rối này (của
Việt Minh, TVT chú). Họ hành quân mà không tìm thấy địch, khí hậu nóng bức đã
khiến lính Pháp thêm nóng nảy, phạm nhiều hành động thất nhân tâm. Một tên lính
Pháp nổi nóng có khi cả làng bị đốt, đàn bà con gái bị hiếp.“
Đại tá Phạm Văn Sơn
nguyên là Trưởng ban Quân sử thuộc Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt
Nam Cộng Hoà. Sau ngày 30.04.75, Đại tá bị tù khổ sai cộng sản và hy sinh
ngày 06.12.1978 tại trại K1 Tân Lập, Vĩnh Phú, Bắc Việt. .
Sách Việt sử
Toàn thư in lần thứ nhất vào ngày 15.07.1960, nghĩa là thời Đệ
Nhất Cộng Hoà.
Sách Quân lực
Việt Nam Cộng Hoà trong giai đoạn hình thành cũng do Phòng 5 Bộ Tổng Tham
Mưu thực hiện với sự đóng góp của nhiều sĩ quan và nhân viên dân sự. Phần Giới
thiệu sách do Đại tá Hoàng Hữu Bạn, Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu chấp bút
tại KBC 4002, ngày 6 tháng 8 năm 1972, nghĩa là thời Đệ Nhị Cộng Hoà.
Ngoài ra sách còn liệt kê nhiều cơ quan cung cấp tài liệu quân sử trong số có
Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn hợp. Tên tiếng Anh viết tắt của Trung tâm
này là CDEC. Hai năm 1966 và 1967 các chiến lược gia Hoa Kỳ bắt đầu chiến
lược phản tấn công và bình định, đồng thời Mỹ cũng can thiệp mạnh mẽ hơn, cung
cấp nhiều phương tiện tài chánh và quân sự hơn cho Việt Nam Cộng Hoà.
MACV (Military Assistance Command in Vietnam) thiết lập và/hay củng cố bốn
cơ sở quân báo hỗn hợp Việt-Mỹ mà bộ phận quan trọng là do phía Mỹ đảm trách :
CDEC, Combined Document Exploitation Center, Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn
hợp Việt-Mỹ; CMEC, Combined Material Exploitation Center, Trung tâm Khai thác
Quân dụng Hỗn hợp Việt-Mỹ; CMIC, Combined Military Interrogation Center, Trung
tâm Thẩm vấn Hỗn hợp Việt-Mỹ; CICV, Combined Intelligence Center Vietnam, Trung
tâm Tình báo Hỗn hợp Việt-Mỹ. Cục Quân y bố trí tôi làm việc ở CMEC, Trung tâm
Khai thác Quân dụng Việt-Mỹ, trụ sở bí mật đặt trong phi trường Tân Sơn Nhứt.
Phần 2.- Chức năng của sử học và trách nhiệm của sử gia
Cả sử học lẫn văn học
đều có cùng một đối tượng là mô tả con người trong cộng đồng. Nhà sử học có
lương tâm luôn luôn là người vượt ra khỏi thời cuộc để có cái nhìn bao quát, là
người tường thuật trung thực các biến chuyển liên quan đến từng thời đại để lưu
lại cho đời. Trước tác lịch sử là trình bày chân lý của những sự kiện lịch sử
để làm sáng tỏ các qui luật của lịch sử, khai thác tinh thần của lịch sử. Sử
liệu xây dựng trên sự tồn tại của người thật việc thật, năm tháng, tên tuổi
nhất nhất đều phải phù hợp với chân lý khoa học, không thể có một điểm hư cấu,
một tý bịa đặt. Sử học dấn thân theo con đường “khởi đi từ hiện thực xã hội hèn
mọn nhất, từ ngôi chợ làng quê, từ cửa hàng con phố thị, từ cái quán của người
cho vay nặng lãi để mà đi lên, qua từng ‘lớp lang‘, từ thời gian địa lý chuyển
sang thời gian xã hội“ (À partir de la réalité sociale la plus humble, du
marché de village, de l‘échoppe citadine, de la boutique de l‘usurier, à
travers les ‘plans étagés‘, du temps géographique au temps social. Pierre de
Boisdeffre.- Histoire de la littérature française des années
30 aux années 80). Cicero (106-43 tr. KN) nói rõ ràng hơn, nói
trực tiếp hơn : “Luật đầu tiên của lịch sử là không được nói gì mà không
đúng sự thật và không có gì thật mà không nói đến.“
Thời gian xã hội trong
khung thời gian vật lý 1945-1955 ghi nhận sự kiện lịch sử, hiện tượng có thực
là quân đội Pháp trong Đoàn quân Viễn chinh, Corps Expéditionnaire, từng phạm
nhiều hành động thất nhân tâm, cụ thể là từng hãm hiếp phụ nữ, cướp của giết
người, đốt nhà dân chúng. Sử gia Phạm Văn Sơn đã viết như vậy. Viết một cách
can đảm, thẳng thắn, cương trực.
Đề tựa cho Tập
Quân sử 4, vị Đại tá Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu nhận xét rằng “Người
viết đã viết trên một tinh thần vô tư và đã chứng tỏ thiện tâm trong việc biên
khảo.“
Riêng
về tình huống Đại tá Phạm Văn Sơn hy sinh trong tù cộng sản, một độc giả ký tên
Trường Xuân Phu tử Hồ Quang, đã viết vào ngày 18.05.2010 : “Ðại Tá Phạm Văn Sơn
tuyệt thực trong nhà kỷ luật, chấp nhận cái chết, vì muốn đòi quyền lợi cho các
anh em tù nhân chính trị khác được hưởng đúng theo quy chế của một tù binh theo
luật quốc tế, tuy kết quả không như ông mong muốn, nhưng dầu sao cũng làm cho
những anh em còn sống được dễ thở hơn…Đại Tá Sơn chịu chết để cho anh em chúng
tôi sống...“.
Phần 3.- Kinh nghiệm sống
Làng tôi, làng Quảng
Lượng, nằm bên trái tỉnh lộ đi từ thị xã Quảng Trị đến Cửa Việt. Nằm cạnh làng
có hai đồn Tây là đồn Đại Hào và đồn Bồ Bản. Lâu lâu Tây lại mở cuộc hành quân
truy lùng Việt Minh. Tây từ Đại Hào qua phải vượt một con rào (rào là một nhánh
sông rất nhỏ) còn từ Bồ Bản lên thì phải đi dọc theo tỉnh lộ. Chỉ mới thoáng
thấy bóng lính Tây là đã có người la lên “Tây bố, Tây bố“. Thế là các phụ nữ
trong làng – ngoại trừ những cụ già lụm cụm – lập tức theo nhau tông
cửa chạy trốn bán sống bán chết sang các làng khác, càng xa làng
Quảng lượng càng tốt. Mẹ tôi không chạy được như họ nên nguỵ trang bằng cách
như đang có kinh : bà mặc áo quần cũ kỹ, rách rưới, thân thể cố
tình tỏ ra dơ dáy bẩn thỉu, bà còn lấy lá chuối lót để ngồi. Tôi có
con em gái út, lúc đó chỉ bảy, tám tuổi không biết chuyện gì nhưng
cũng khiếp đảm đến tái mét mặt. Nhờ Trời mẹ và em tôi không gặp
tai ương gì nhưng trong làng ít nhất cũng có ba bốn người bị hiếp; có
điều lạ là không hiểu sao các bà này không có thai. Một đồng nghiệp của tôi,
thuộc phe phủ nhận điều ác, cho rằng hành quân tiểu cộng như vậy thì làm sao có
libido mà cưỡng bức phụ nữ. Anh bạn không thể nào hiểu được rằng những người
lính gốc Phi châu tham gia càn quét đã hầu như chỉ có thú tính và hành động
theo bản năng dâm dục của con vật, chúng đã trở thành những con quỷ dâm
dục. Còn chuyện đốt nhà thì xảy ra ngay bên cạnh nhà tôi; chẳng biết vì lý
do gì Tây châm lửa đốt ngôi nhà của ông bác họ. Một anh bạn đồng nghiệp với tôi
hiện ở Na Uy xác nhận chuyện đốt nhà : nhà ông nội Anh ở Kim Long (ngoại
thành Huế) bị đốt. Một anh bạn khác cùng tuổi Thân với tôi hiện ở bên Mỹ thì kể
chuyện con gái đàn bà làng anh bị xâm phạm tình dục một cách tàn bạo dã man, có
cá trẻ vị thành niên bị hiếp đến trở thành cái tả rách! Về phần các người lính
Việt thì họ chuyên môn núp bắn gà do chúng tôi nuôi trong nương. Một anh
bạn ở bên Mỹ kể chuyện chi tiết hơn. Bọn thân binh gốc Việt vào làng, bắt thiếu
niên phải ne gà cho chúng bắt. Gặp chuối hay mãng cầu chín cây là chúng thản
nhiên hái bỏ vào mấy cái túi quần lùng thùng của chúng.
Tiến sĩ Lê Đình Cai
trong “Tạp ghi.- Hồi ức về tuổi thơ trên làng quê khói lửa“tường thuật
như sau đây : “Một hình ảnh khác nữa là vào khoảng xế chiều, khi làng
tôi (làng Bồ Bản, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, TVT chú) bị Tây càn qua
lùng sục. Mẹ tôi, khi ấy đang mang thai em trai tôi, vội lấy mồ hóng bôi lên
mặt và bôi lên khắp người và lấy loại cây gì đó sau hè nhai nhỏ và xát khắp
người để tạo một mùi hôi nồng nặc. Khi đó tôi quả không hiểu tại sao mẹ tôi làm
vậy và cũng không có thì giờ để hỏi han mẹ vì bọn giặc Tây đa số là Tây đen đã
vào đến đầu làng và đang lục soát từng nhà. Một thằng Tây đen (hồi đó dân làng
thường gọi là tụi Ma-rốc) cầm súng xăm xăm đi vào ngõ nhà tôi. Tôi ngước lên
thấy vẻ mặt lo sợ của mẹ. Mẹ bảo tôi ôm chặt lấy mẹ và anh tôi ngồi kế bên.
Thằng lính Tây đen này đến gần thấy mẹ tôi mặt mày đen bẩn và hôi hám nên bỏ đi
qua căn nhà đối diện ngõ vào của nhà tôi. Căn nhà đó là nhà của chú thím bà con
trong họ của tôi. Thằng Tây đen ấy cầm súng xô cửa bước vào nhà. Từ khe cửa nhà
tôi nhìn qua nhà chú thím rất rõ vì thế hình ảnh thằng lính Ma-rốc đó lôi xềnh
xệch bà thím tôi lên chiếc chõng tre đặt ở góc nhà đập vào mằt tôi thật rõ
nét, lại nữa thằng Tây đâu cần đóng cửa ngõ gì. Cứ thế một tay đè bà thím tôi
xuống và tay kia sau khi đặt khẩu súng bên cạnh, đã tụt chiếc quần xuống mà làm
chuyện “trời ơi đất hỡi“ mà lúc đó đầu óc tôi chưa đủ trí khôn để mường tượng
ra được. Đâu chừng vài phút sau, thằng Tây đen cứ lồ lộ như vậy bước ra chiếc lu
nước để trước nhà và tỉnh bơ làm “vệ sinh của quý“ như chẳng nhìn thấy ai chung
quanh cả. (…) Quả thật là một nỗi bất hạnh lớn lao cho thím tôi bị Tây hãm
hiếp. Sau đó thím tôi như người mất hồn.“
Chuyện chúng tôi đã thấy
đã nghe như vậy khi kể lại vẫn cứ bị cho là bày đặt! Ngoài ra bà xã tôi còn kể
là ngày cát-toóc-duy-dzết, lính gốc Châu Phi uống rượu say bí tỉ rồi đi
nghênh ngang khắp phố phường Hà Nội, gặp các cô các bà đồng hương của
chúng ta là ngang nhiên công xúc tu sỉ mà chẳng ai làm được gì hết. Ở Hội
An tình trạng cũng y như vậy, cho nên thuở bấy giờ có câu ca dao
“Cát-toóc-duy-dzết đánh chết không tội“. Những thành phần phủ nhận chuyện
lính Tây làm bậy và làm ác thản nhiên lờ hẳn lời tố cáo
này.
Nhưng sử gia Phạm Văn
Sơn thì không. Ông đã nêu rõ điều Cicero nhắn nhủ :“Không có gì
thật mà không nói đến“.
Phần 4.- Chính sách kiểm duyệt sáng suốt ngày trước và thái
độ phủ nhận ngày nay
Các tác
phẩm của Sử gia Phạm Văn Sơn đều được xuất bản dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Dưới chế độ này có thời gian có một Hội đồng Kiểm duyệt. Sách Việt sử
Toàn thư ghi rõ ở trang chót là sách xuất bản theo Giấy phép Xuất bản
số 951/XB cấp ngày 27.05.1960 của Hội đồng Kiểm duyệt.
Tuy
nhiên Hội đồng Kiểm duyệt đã chấp nhận để người viết sử hoàn tất chức năng của
mình. Tình trạng nước Pháp giúp đỡ nước Việt Nam trong giai đoạn 1945-1955 thực
ra chỉ là với thái độ đế quốc thực dân. Một số trang thuộc bộ Việt sử
Toàn thư đã sử dụng trung thực các từ ngữ như vậy (trang 704 : từ “đế
quốc“, trang 717 : từ “thực dân“).
Thay vì
dùng quyền pháp định để đục bỏ những từ ngữ hay những đoạn văn được xem như bất
lợi cho phe quốc gia, Hội đồng Kiểm duyệt đã sáng suốt thừa nhận các đoạn văn
và các từ ngữ liên hệ.
Mấy
chục năm sau và ở hải ngoại, một số người Việt không có thái độ sáng suốt, hợp
lý đó. Trước hết những người thuộc giai đoạn 1945-1955 sinh ra và trưởng thành
trong các vùng đô thị hoàn toàn bác bỏ các hành động thất nhân tâm được qui cho
quân đội viễn chinh Pháp. Hơn nữa, họ cho rằng đó là tuyên truyền của cộng sản.
Có người nặng lời qui tội cho cố Đại tá Sử gia Phạm Văn Sơn là ăn cơm quốc gia
thờ ma cộng sản, còn Hội đồng Kiểm duyệt thì bị kết án là sơ sót, không ngăn
chặn hữu hiệu những hành vi tư tưởng trái với quy định của luật pháp. Những
người sống trong vùng lãnh thổ rộng lớn ngoài các đô thị hạn hẹp là chứng nhân
và họ tường thuật những sự việc, những sự kiện mà họ đã sống trực tiếp qua thu
thập kinh nghiệm bản thân. Trong số những sự kiện này có chuyện lính Pháp nhất
là lính gốc Châu Phi và lính thuộc đoàn quân Lê Dương hãm hiếp phụ nữ, giết
người vô tội, đốt nhà dân chúng còn những người lính gốc Việt Nam thì có thói
quen thổ phỉ như bắt sống vịt, bắn què gà khi tham gia hành quân gọi là tiểu
cộng, chống Việt Minh. Ngay tại thủ đô Hà Nội, ngày Quốc khánh Pháp 14.07 hằng
năm là dịp để lính Châu Phi và lính Lê Dương uống rượu say bí tỉ rồi đi lang
thang khắp phố phường Hà Nội và công khai công súc tu sỉ đối với phụ nữ đồng
hương của chúng ta nhưng không có bất cứ giới chức chính trị hay tổ chức an
ninh nào có thái độ đối phó cả. Cũng có người biện bạch rằng chiến tranh là
thế, làm sao thoát khỏi thiệt hại cho dân chúng được. Quân đội Mỹ, quân đội Anh
v.v.. cũng vậy thôi. Lý luận như vậy là sai lầm bởi vì vấn đề không phải là
chấp nhận tội ác chiến tranh nói chung mà vấn đề là có những người Việt Nam phủ
nhận tội ác của Corps Expéditionnaire nói riêng. Bài Tựa Tập 4 Quân
sử viết : “Còn quân sử, không những chỉ viết riêng về chiến sử mà
(còn, TVT thêm) viết chung về cách hoạt động quân sự, nghiên cứu tỉ mỉ, chính
xác và nếu viết được đầy đủ sẽ là những kinh nghiệm quý để cho quân nhân thuộc
mọi ngành khai thác và thích dụng.“
Kẻ chấp
bút những dòng này đã khai thác quân sử theo tinh thần Tập 4 Quân
sử mà tác giả Chủ biên là cố Đại tá Phạm Văn Sơn thuộc Bộ TổngTham Mưu
Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.
3.12.2021
Trần Văn Tích
* Bài nhận qua email của Bác sĩ Trần Văn Tích, gởi từ Cộng Hòa Liên Bang Đức