Làng Nại Cửu Của Tôi - Võ Thị Tuyết
Cách đây không lâu có người bạn gợi ý với tôi : “Chị Tuyết
ơi chị hãy viết một bài về làng Nại Cửu của
chị, để tôi đăng vào đặc san QUẢNG TRỊ nơi đây …”. Tôi liền từ chối, bởi vì mình đã nghỉ viết và làm thơ hơn 10 năm nay do
bệnh nhức đầu trầm trọng, khó ngủ. Hơn nữa từ nhỏ đến lúc rời
làng, những người lớn trong gia đình không nghe ai nói gì về lịch sử của làng Nại Cửu nên tôi cũng không biết
gì hiện hình ngôi làng trước mặt.
Nhưng hôm nay tình cờ đọc trên mạng có người viết về làng
Nại Cửu, thế là tôi dùng tài liệu ấy để viết kèm vào những kỷ niệm của mình với ngôi làng. Mong ra sau này con cháu của
tôi nếu có đọc được, chúng nó sẽ biết một chút về ngôi làng của mẹ chúng, bà
ngoại, bà nội chúng, nếu có lần về cũng ghé đến thăm .
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, trong thập niên 60 của thế kỷ
XV, chúa Nguyễn Hoàng đưa dân chúng các tỉnh ở phía Bắc vào khai hoang lập ấp
xây dựng Dinh Cát ở Ái Tử, huyện Đăng Xương Quảng Trị (nay là huyện Triệu Phong)
lập nên nhiều dinh cơ làng mạc, làng Nại Cửu là một địa danh được hình thành từ
đó .
Nhưng theo một thuyết khác tôi nghĩ chắc đúng hơn thì từ năm
1306, khi vua Trần Nhân Tông bằng một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị Việt
- Chiêm, nhà vua gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua nước Chiêm là Chế
Mân để lấy hai châu Ô, châu Rí, cho dân từ miền Bắc đã di cư vào Nam để lập
nghiệp, thì tỉnh Quảng Trị (thuộc về Châu Ô) và các làng mạc trong đó có làng
Nại Cửu cũng được hình thành.
Nại có nghĩa là bền. Cửu là lâu dài. Nại Cửu có nghĩa là lâu
bền. Làng Nại Cửu gồm có 6 xóm và một phường bên ngoài làng ở gần Ái Tử. Có 6
họ là: Lê, Nguyễn, Võ, Hoàng, Phan, Trần.
Tôi được sinh ra ở xóm Côi, là một xóm nhỏ ở đầu làng tiếp
giáp với đường quan chạy về biển Cửa Việt. Xóm Côi nghèo, một xóm chỉ có vài ba
nhà ngói còn toàn nhà tranh vách đất, dân trong xóm sống với nhau vui vẻ, hoà
đồng.
Thương sao những con đường bùn đất lầy lội mỗi lần đi học
phải xăn quần vén áo để lội bùn. Xóm có một cái hói (hồ) nhỏ, mùa đông nước đầy
những ngày nghỉ học ra ngồi câu cá, mùa hè nước khô tận đáy, lòng đất nứt nẻ,
lúc đó hói thành nơi xả chất bẩn tiêu tiện cho dân ở gần bên.
Hằng năm, cứ đến mùa hè, một số người cùng nhau dùng xe đạp
nước cho khô (tát hói) để bắt cá.
Sáp nhỏ chúng tôi ngồi trên bờ, thích nhất là xem người ta
bắt được nhiều con cá tràu (cá lóc) to tướng, nhiều con cá hẻn (cá trê) to vàng
rươi, cá giét cũng to vàng, ngoài ra còn có cá rô cá gáy và cá mại v.v....
Mỗi lần tát hói mạ tôi thường mua cá nhốt vào hai ba thùng
dầu hỏa để ăn dần dần. Bây giờ có đập thủy lợi nên hói lúc nào cũng đầy nước
khác lúc xưa.
Xóm thứ hai là xóm Ngoài, là một xóm tiếp liền với xóm Côi,
đó là xóm của ông mệ ngoại của tôi, nhà tôi đi bộ ra nhà ông ngoại khoảng mười
phút, xóm Ngoài cũng là một xóm nhỏ, nhà ông ngoại là một cái nhà ngói không
lớn lắm, cứ lúc nào rảnh học, nhất là Thứ Bảy, Chúa Nhật là tôi thường chạy vô
chạy ra nhà ông ngoại. Ông ngoại tôi hay say rượu. Mỗi lần say ông hay chưởi mệ
tội mệ. Còn mệ ngoại tôi già rồi mà vẫn đẹp, áo quần lúc nào cũng tươm tất sạch
sẽ, lúc nào trong túi cũng có một cái gương nhỏ, lâu lâu mệ lấy ra soi mặt.
Năm 1972, ông ngoại nằm một chỗ, mệ ngoại theo gia đình tôi chạy đến mé sông,
rồi chắc mệ thương ông, nên mệ chạy trở về, gặp lúc tối trời mệ bị lính thủy
quân lục chiến bắn chết, năm đó ông ngoại nằm một chỗ không ai săn sóc nên cũng
chết theo mệ.
Tôi thương ông mệ ngoại lắm, nhất là mệ ngoại tôi cứ nhớ đến
là tôi thương hoài .
Xóm thứ ba là xóm Chùa, vì đầu xóm có một cái chùa cũng khá
lớn .
Tôi là Phật tử khi còn nhỏ, nên cứ mỗi đêm rằm, mồng một ,
hoặc đêm vía hay lễ là chúng tôi đi Chùa, lễ Phật xong chúng tôi sinh hoạt, học
Phật Pháp, ca hát rất vui .
Khi lễ Phật Đản thì Phật tử cả tỉnh Quảng Trị cắm trại trước
chùa Tỉnh Hội. Những giây phút thân ái đó in sâu vào tâm trí tôi không thể nào
quên. Gần sát bên chùa là đình làng Nại Cửu, đình cũng lớn phong cảnh rất đẹp,
trước mặt là ruộng lúa, xung quanh cây cối xanh tươi.
Hàng năm cứ ngày mồng một Tết, dân làng tập trung cúng bái
để nhớ ơn cái ngài khai khẩn, tổ tiên ông bà, cầu Trời mưa thuận gió hoà, dân
chúng của làng được sống an vui.
Xóm thứ tư là xóm Rôộc. Xóm nào tôi cũng có nhiều bà con.
Xóm Rôộc ở một bên sông Vĩnh Định cũng đẹp thơ mộng lắm, năm tôi lên khoảng 7-8
tuổi Cậu tôi đem tôi về nhà ông Viên Trợ chụp cho tôi một “pô” ảnh đẹp lắm, tôi
rất thích. Cậu tôi mua một cuốn album nhỏ, bỏ ảnh vào cho tôi, sau này tôi làm
mất album tiếc mãi không thôi.
Rồi đến năm Mậu Thân cả nhà tôi và nhà O Đội và chú Tuệ tôi
mới rạng sáng ngày mồng một Tết, ba gia đình chạy về xóm Rộôc ngồi trong chuồng
heo nhà ông đội Ngô một ngày, rồi chiều đến đi qua cầu Ba Bến chạy lên làng
Thạch Hãn ở trong nhà ông Hộ (ông Hộ người làng Nại Cửu). Mấy ngày sau về lại
thì nhà trên bị ca-nông sập tan tành, còn chết 6 con bò, trong đó có con đang
mang thai.
Xóm thứ năm là xóm Cát. Xóm này cũng nằm cạnh bên sông Vĩnh
Định, cứ mỗi mùa hè , cậu tôi đem chúng tôi về tập bơi, nước sông trong veo mát
lạnh. Tập bơi xong, cậu tôi đem chúng tôi đi tới nhà bà con, có khi ở lại ăn
cơm. Chúng tôi tập mãi chẳng có đứa nào bơi được, rồi nghe đồn có ma rà là
chúng tôi hết tập.
Xóm thứ sáu là xóm Cát Bội, bên kia sông Vĩnh Định. Xóm này
quá xa và đi lại khó khăn nên chúng tôi chưa bao giờ đi tới.
Năm 1973 khi ở Đà Nẵng về hồi cư, cậu tôi xin một khoảng đất
trong nhà ông Lớn, cậu tôi làm một cái nhà tôn nho nhỏ để ở. Lúc đó tôi học ở
trường Cán Sự Huế, mùa hè về thăm nhà, tôi phải đi đò máy từ Hải Lăng. Ngồi
trong nhà buổi trưa mà giống như ngồi trong lò lửa, tôi phải ra ngoài bụi tre
ngồi mà vẫn nóng chịu không nổi.
Sau khi ra trường tháng 9.1974, tôi về làm bệnh viện Quảng
Trị ở Hải Lăng.
Một lần khi tôi mới lãnh lương, cất tiền trong bóp để trong
cái xách lưới thêm một cái dù, hôm ấy về thăm nhà,
tôi cất giỏ đựng tiền dưới bàn thờ. Khoảng gần nửa đêm kẻ trộm vào nhà, dạo đó chị Huệ tôi bán vải, chắc kẻ trộm nghĩ chị tôi có tiền nên
mới vào ăn có, lúc kẻ trộm đi ngang giường hai
chị em tôi, chị Huệ nằm phía ngoài tay để
ra ngoài giường, như phản xạ chị ngồi dậy chụp lấy tay kẻ trộm và la lên, kẻ
trộm giựt tay ra và chạy, như người mộng du chị Huệ tôi chạy theo ra đến cửa,
kẻ trộm lấy cái gàu múc nước ném lại chị, nhờ vậy chị mới tỉnh ngủ, cả nhà thức dậy thắp đèn lên để kiểm tra,
thì không thấy xách lưới tiền của tôi đâu cả, tôi buồn quá lãnh lương chưa tiêu
đồng nào. Thật may, sáng mai thức dậy thì thấy xách tiền của tôi nằm trong bụi
tre và một con gà đã chết, trẻ trộm này đi không đúng giờ hoàng đạo.
Quán vải chị tôi bán cũng được, có một cô thợ may, may cũng
đắt, tôi cũng học may áo quần để mặc. Thỉnh thoảng tôi và chị tôi đi về làng
Bích La đông để đi chợ, chợ dã chiến nằm trên một khu đất không
rộng, nhưng mua bán vui vẻ.
Ở xóm này đời sống tuy khổ cực nhưng cũng chan hòa ấm áp.
Đầu năm 1975 nhà tôi cũng phải từ giã ngôi nhà tôn nho nhỏ
thân mến này để chạy vào Đà Nẵng.
Ngoài ra làng tôi còn có một xóm phường
gọi là Phường Nại Cửu, đó là một xóm
nhỏ ở gần Ái Tử đi lên gần núi.
Mạ tôi kể rằng, lúc xưa có một người đi ở giữ trâu cho một ông trưởng làng ở
đó, người này ăn cắp danh bạ đất đai của phường đem về đưa cho làng, nên làng
mới có phường Nại Cửu từ lúc đó (đây chỉ là truyền thuyết)
Mạ tôi kể rằng, lúc xưa có một người đi ở giữ trâu cho một ông trưởng làng ở
đó, người này ăn cắp danh bạ đất đai của phường đem về đưa cho làng, nên làng
mới có phường Nại Cửu từ lúc đó (đây chỉ là truyền thuyết)
Tôi có ba nhà bà con là O Bút, O Chỉ và thím Anh.
Lúc tôi còn nhỏ chị tôi hay dắt tôi lên nhà O Bút ở lại
chơi, chúng tôi đi vào rừng hái sim và muồng để ăn rất vui, O Bút rất đẹp, O
không những bà con mà còn là con nuôi của ông bà nội tôi nên tôi cũng thương O
như O ruột O Bút rất đẹp O thương cậu tôi lắm.
Năm 1971, cậu mạ tôi xây một cái nhà rất lớn như biệt thự,
cậu mạ tôi đã mượn của O Bút một số tiền khá nhiều, năm 1972 nhà bị bom đạn tan
tành rồi chạy giặc, sau năm 1975 trở về hồi cư không có tiền. Cậu mạ tôi chỉ
trả cho O Bút nhỏ giọt chút ít và O cũng vui vẻ bỏ qua.
Như tôi đã nói làng tôi có 6 họ: Lê, Nguyễn, Võ, Hoàng,
Phan, Trần (đặc biệt họ Phan này chỉ có một gia đình ông Phan Ngãi, ông này là
người cày ruộng cho nhà tôi).
Gốc gác những người đầu tiên đến làng Nại Cửu là ở Thanh
Hoá, Nghệ An.
Theo một số truyền thuyết còn lưu lại ở các họ thì 6 ngài
thủy tổ của họ gồm có :
Lê Nghi Dân, Nguyễn Xí, Phan Bá Đạt, Hoàng Phùng Anh, Võ Duy
Bẫm, Trần Phái. Họ vốn là vương tôn công thần của nhà Lê, do dính líu vào vụ án
" Lệ Chi Viên " của Nguyễn Trãi (Nguyễn Thị Lộ) nên các ngài phải
lánh nạn đến vùng Thuận Hoá.
Sau khi vượt sông Thạch Hãn thấy phong cảnh hữu tình, đất
đai mầu mỡ các ngài mới chiếm cứ nơi này.
Đến đời Lê thánh Tông, khi nhà Vua ban chiếu chiêu an, các
ngài trao toàn bộ sự nghiệp cho con cháu rồi phụng mệnh trở về đất Bắc và qua
đời luôn ở đó. Con cháu trên vùng đất mới suy tôn các Ngài làm tiền khai khẩn
và tiếp tục khai hoang lập ấp, từ đó có tên làng Nại Cửu ra đời (có một thời
gọi là Nại Diên).
Dân chúng của làng đa số làm nghề nông, có một ít người buôn
bán nhỏ, hay làm thợ nề, thợ mộc, thợ may nhưng cũng vẫn làm ruộng. Họ sống yên
phận bên lũy tre xanh, vườn rau, vườn cây ăn trái và đặc biệt là cánh đồng lúa
vàng đẹp mênh mông của làng được chia đều cho người dân.
Tuy đời sống nghèo cực nhưng con em của làng nổi tiếng hiếu
học.
Từ xưa qua nhiều đời có các vị đỗ đạt làm quan ở các triều
đại phong kiến, trở thành niềm tự hào cho con cháu.
Đó là tiến sĩ Trần Văn Thoại tức Trần Gia Thuỵ , làm thượng
thư bộ Lễ đời vua Lê Hiển Tông, cử nhân Lê Trọng Điều làm quan phủ đời vua Minh
Mạng, cử nhân Nguyễn Đức Nghi làm tham tri bộ Lễ đời vua Tự Đức, ông Võ Tử Văn
đỗ Phó Bảng đời vua Tự Đức được tôn "Bậc thi thánh thổ thần " là Thái
tử Thiếu bảo Văn minh điện Học sĩ, một học khoa tài ba. Cậu tôi kể rằng khi ông
Võ Tử Văn cáo lão về hưu ở xóm Côi làng Nại Cửu. Có một năm Vua Tự Đức vi hành
tỉnh Quảng Trị, nhà vua ghé thăm Thầy, người ta trải vải đỏ cho Vua đi vào bái
Thầy và Vua cũng ngồi xuống chiếu với ông.
Đến đời vua Khải Định có bác ruột của tôi là Võ Đức Tiếu,
bác đậu Tú tài toàn phần Pháp, bác tôi làm Secretaire Tresorier (thư ký toà
Ngân Khố toàn quốc) Bác tôi cưới vợ làng Nhan Biều, nhà vợ đòi lễ vật là một
con heo tréo răng. Ông nội tôi phải thuê người lên thượng du để mua một con heo
tréo răng đóng vào một cái cụi để đi lễ. Bác tôi cưới vợ chưa được bao lâu thì
bác bị đau ruột thừa, bác sĩ người Pháp mổ và bác tôi bị chết tại bệnh viện Huế
(người ta đồn rằng vì bác tôi không chịu theo Pháp nên họ làm bác tôi chết). Vì
chưa có con nên bác gái sau đó đi lấy chồng.
Năm đó là 1924 mệ nội mới đẻ chú Tuệ 7 ngày, nghe tin con
chết mệ tôi khóc lóc quá nên nổi máu sản hậu cũng chết theo . Tội nghiệp ông
nội tôi mới 7 ngày mà bị hai cái tang, còn có đứa con mới đỏ hỏn 7 ngày . Sau
này cậu tôi cho chú Tuệ vào Huế học trường Quốc học đậu Diplome xong chú bỏ học
đi sĩ quan khoá 2 tại Đập Đá Huế, chú nhát gan lại trốn về.
Nói thêm một chút là cậu (cha) của tôi khi cưới bà vợ trước
là bà Thệ ở xóm Roộc, nhà gái đòi lễ vật là một cặp bò đeo bông tai. Nhưng ở
với nhau chưa bao lâu, chưa có con thì ly dị và 7 năm sau mới cưới lại mạ tôi.
Người xưa đòi lễ vật kỳ quặc quá ha !
Thời Việt Nam Cộng hoà có ít người làm lớn như :
Kỹ sư Lê Tùng Mai (con ông đội Ngô, xóm Rộôc) làm Trưởng ty
Công Chánh tỉnh Quảng Ngãi, chú Võ Khai Đại Tá chỉ huy trường quân nhu vùng 1
chiến thuật sau này về làm Giám Đốc Kỹ Thương Ngân Hàng ở Huế, chú Võ An dạy
trường Quốc Học, hai chú nầy là anh em ruột được sinh ra ở Huế ít về làng .
Đặc biệt là ông Phan Nhật Nam nổi tiếng về ký sự "Mùa
Hè đỏ lửa" 1972 của Đại lộ kinh hoàng. Nhưng ông này đã mất gốc vì ông
chưa bao giờ về làng để thăm họ Phan nghèo khổ của ông.
Thời Việt Nam Cộng Sản làng có những người làm lớn như Ông
Trần Quỳnh làm Phó thủ tướng Chính phủ, ông Lê Lãng - nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại
thương, ông Hoàng Hữu Bình - tiến sĩ cục hoá chất, có hai người thiếu tướng
trong quân đội, nhưng những người này họ đi tập kết lúc tôi mới sinh ra nên tôi
chỉ nghe tên thôi chưa bao giờ thấy mặt họ.
Làng tôi cũng có nhiều kỹ sư, bác sĩ nhưng nổi tiếng là một
Làng thầy giáo, từ giáo viên sơ cấp đến đại học sư phạm, đi đâu cũng có thầy
giáo nên báo chí và đài phát thanh Quảng Trị đều nói đến làng Thầy giáo của
thôn Nại Cửu.
Đó là những ký ức của tôi về làng Nại
Cửu.
Tuy đã đi xa quê từ năm 18-19 tuổi nhưng dù bất cứ ở đâu tôi
cũng luôn nhớ về làng, nhất là xóm Côi của tôi, nơi ngôi nhà mà cha mẹ đã sinh
ra chị em chúng tôi, mọi người trong gia đình đều hết lòng thương yêu đùm bọc
nhau. Nhớ nhiều những đêm lạnh giá mùa đông, cả nhà ngồi quanh bếp than đỏ
hồng, nhớ những bữa cơm có đông người làm về mùa gặt, nhớ những đêm trâu đạp
lúa, những đêm người ngồi bóc và vẻ bắp dưới ngọn đèn măng sông sáng rực ....
Nhưng thương nhớ nhiều nhất là cậu mạ tôi đã qua đời, hằng đêm tôi nguyện cầu
cho bao nhiêu kiếp tiếp nối tôi vẫn được làm con của cậu mạ tôi, có chị em tôi
sống êm đềm như thuở ấu thơ ...........
Và tôi buâng khuâng thương nhớ mãi không nguôi.....
Võ Thị Tuyết.
Seattle, viết xong tháng 18.5.2021
