TRANG SINH HOẠT CỦA BÀ CON QUẢNG TRỊ BẮC CALIFORNIA & THÂN HỮU YÊU MẾN QUẢNG TRỊ
▼
Wednesday, March 30, 2022
Tiếng Còi
Tàu! - Hoàng Long Hải Gởi mấy cô cậu học trò Quảng Trị
tùy bút
“Tôi thấy
tôi thương những chiếc tàu,
Ngàn đời
không đủ sức đi mau”
Tế Hanh
Hình ảnh nước ta đấy!
hoànglonghải
Lần họp mặt
“Đồng hương Quảng Trị” ở Houston, tôi có nói chuyện với một số anh em về “Ô
Châu ác địa”. Hai năm sau, lại mặt “Đồng hương Quảng Trị” ở Atlanta, tôi lại
nói chuyện về “tiếng còi tầu” trên những ga xe lửa ở Quảng Trị, Đông Hà. Tôi
khẳng định rằng bởi vì “tiếng còi tàu” đó mà một số “eng, ả” (anh chị) Quảng
Trị có “máu văn nghệ”, ưa làm thơ, làm văn. Ít thì vài ba bài, tham gia làm báo
làm bung cho lớp, cho trường hay báo chí ở Saigon, có người in vài ba tập thơ. Trong các
tác phẩm của họ thấp thoáng hình ảnh những “con tàu đen đi lầm lũi” hay thoảng
nghe đâu đó trong những “trang văn nghệ” có tiếng còi xe lửa. Dĩ nhiên,
cũng có người không đồng ý với tôi. Nhạc sĩ Trúc Phương quê ở Cầu Ngang, tỉnh
Bến Tre, nhạc sĩ Lam Phương quê ở Rạch Giá, mấy nơi nầy có xe lửa đâu mà nhạc
của họ cũng có nghe “tiếng còi tàu thét vang” vậy. Điều đó
không là vấn đề! Họ là nghệ sĩ. Họ chỉ cần nghe tiếng còi tầu trong… văn chương
hay nghe ở ga Saigon hay ga nào đó, cũng có thể làm họ xúc cảm và làm cho sáng
tác của họ có hình ảnh những người đưa tiễn ở… sân ga. Sân ga là nơi ly biệt và
gặp gỡ. Ly biệt hay trùng phùng là đề tài của thơ nhạc, v.v… Thông
thường, ngoại cảnh có tác động ít nhiều đến tâm tình con người. Không ai phủ
nhận ca dao, thậm chí cả chuyện cổ tích trong Văn chương Bình dân không thiếu
phần lãng mạn. Cái lãng mạn đó từ đâu ra? Không phải từ những cánh đồng lúa,
con sông nhỏ, lũy tre làng, những đêm trăng, tiếng gió rì rào… gây nên lòng yêu
mến trong tâm hồn người nông dân Việt Nam; không những chỉ yêu mến mà có khi
còn say đắm, làm cho tác phẩm văn chương của họ, ca dao và truyện cổ tích có ít
nhiều lãng mạn và tình yêu quê hương đậm đà! Các quí vị thử nghe “Chiều làng
em”, “Lối về xóm nhỏ”… mà xem. Nghe những bài hát loại như thế mà dửng dưng với
quê hương thì nước ta sẽ bị Tầu đô hộ lần nữa, mau lắm. Vậy
thì “tiếng còi trên sân ga” không ít nhiều làm xoáy động tâm tư những “eng, ả”
học trò Quảng Trị, để từ đó, họ làm ra những câu thơ, bài văn, ngoại trừ những
“anh chị nào “vô tri bất mộ.” Những
tiếng còi tầu đó, không chỉ làm xúc động những cô cậu học trò Quảng Trị mà thôi
đâu. Tế Hanh chẳng hạn, có lẽ ông từng nghe tiếng còi tầu đó ở Quảng Nam - Tế
Hanh quê ở Quảng Nam - Đà Nẵng hay Huế, nơi ông “đi học”. Ông cũng thấy tiếng
còi tầu “réo” gọi lòng ông: “Lâu lâu còi
rúc nghe rền rĩ, Lòng của người đi réo kẻ về!” Tiếng “réo” ông dùng
ở đây là hay lắm. Réo là réo gọi, nghe mãnh liệt và tha thiết, gợi buồn, gợi
nhớ hơn khi người ta dùng một danh từ nào khác, như “gọi kẻ về” hay “nhắn kẻ
về” chẳng hạn. Chữ réo là hay nhứt. Ngày
xưa, tầu thủy cũng chạy bằng máy hơi nước, còi tầu thủy cũng giống như còi tàu
xe lửa, cũng gọi mời, cũng réo rắt như còi xe lửa vậy: “Tàu Cờ-Lốt
Sáp trước khi nhỏ neo, theo lệ thường, rít lên ba hồi còi. Còi rúc thật dài,
hùng dũng bao nhiêu thì ai oán bấy nhiêu….” Đó
là tiếng còi tầu ở Bến Sáu Kho, Hải Phòng do nhà văn Lê Văn Trương mô tả lại
trong tiểu thuyết “Tôi là mẹ”. Sau đây là tiếng còi tầu ở “bến Bắc Cần Thơ”: Tàu “xúp-lê” một còn thương còn nhớ! Tàu
“xúp-lê” hai còn đợi còn chờ! Tàu
“xúp-lê” ba, tàu ra biển Bắc. Tay
vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng! Đôi
ta mới ngộ mà ông trời không thương! Đâu
phải “ông Trời” không thương! “Ông Tây” không thương thì đúng hơn. Bấy giờ bên
Tây có chiến tranh Pháp - Đức. Tây Thực dân ở Đông Dương bắt lính, bắt người
Việt Nam đi đánh giặc Đức ở bên Tây, làm “bia đỡ đạn” cho Tây. Người thanh niên
“mới ngộ” - ngộ là gặp -người yêu thì
đã bị bắt đi “nghĩa vụ quân sư” hay “đi quân dịch” như thời bây giờ vậy. Năm
1956, đường tầu thống nhất Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu có tầu chạy. Ga đầu là
Saigon, ga cuối là Đông Hà. Chín giờ tối, khi chuyến “xe lửa thống nhứt” sắp
tới ga Đông Hà thì người tài xế “kéo ba hồi còi” như báo tin mừng “tàu đã về
tới nơi”. Hồi thứ nhứt thật dài, ngưng lại một tíc-tắc, rồi tiếp theo hồi còi
thứ hai, ngắn hơn, và hồi còi thứ ba, ngắn nhứt. Tàu xình xịch dừng lại ở sân
ga, xịt ra một làm hơi nước trắng và dài, như tiếng thở mệt nhọc sau một tuyến
đường xa. Ba
giờ sáng, tàu lại xình xịch móc toa, lại ba hồi còi dài rít lên, trước khi rời
ga Đồng Hà cho kịp nối toa ở Huế, thực hiện một chuyến đi mới, cho một ngày
mới, dài về phương Nam, “về thủ đô Việt Nam Cộng Hòa”. Tiếng còi tàu giữa đêm
hôm khuya khoắt, có những “tác dụng” khác nhau: Người học trò học bài thi biết
“trời đêm dần tàn”, gắng ngủ một chút để sáng mai còn đi học. Người đi ngủ sớm
thấy mình đang ngon giấc, bị tiếng còi tàu đánh thức, lên tiếng cằn nhằn. Trên
đường tầu “Thống nhứt” hồi ấy, Quảng Trị - Đông Hà được coi như hai ga cuối
cùng của con đường sắt xuyên Việt. Ga cuối cùng. Hai tiếng cuối cùng, hay cuối
đường tàu mà lại là “hai ga nhỏ” thường làm cho người nghe có môt chút gì bâng
khuâng. Cuộc tình nào rồi cũng đi qua Một đường tàu biết
mấy sân ga Xin em, xem anh
như một ga nhỏ dọc đường (1) Một đường tàu biết
mấy sân ga Xin em, xem anh
như một ga nhỏ dọc đường (1) Cái lãng
mạn của các cô cậu dẫn dắt họ đến những cuộc tình nào rồi đấy, mà cuộc tình nào
không có “những lời đắng cay”, như trong câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.” Sân
ga nào là nơi tiễn nhau đi mà anh chỉ là cái ga nhỏ, mỗi ngày chờ em đi qua, để
được nhìn em, và em lạnh lùng rời ga trong tiếng còi tàu nức nở, xé lòng người? Văn chương
lãng mạn nhiều khi lãng… xẹt. Độc giả thử đọc mấy câu thơ nầy của Tế Hanh xem: Những chiều nghỉ học, tôi hay tới, Đón chuyến tầu đi, đến
những ga. Tôi đứng bơ vơ xem tiễn
biệt, Lòng buồn đau xót nỗi
chia xa Tác giả
chẳng có đón đưa ai mà đến ga. Rồi lại “bơ vơ xem tiễn biệt”, mắc mớ chi mà
“đau xót” vì sự chia tay của… người khác. Kiều khóc mộ Đạm Tiên còn bị cho là
“vô duyên” nữa kia, “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”, huống chi đây chỉ
mới là “chia xa”, chưa hẳn chết chóc, mệnh bạc. Lãng xẹt là
chuyện thông thường nhưng nhiều khi không phải là không có lợi, biết đâu nhờ
lửng thửng ở sân ga mà gặp một… người nào đó. Như Quỳnh
giải bày cái không hẹn mà gặp đó, của nhạc sĩ Thượng Ngàn, ông nhạc sĩ may mắn
hơn ông thi sĩ Tế Hanh: Tôi quen biết anh giữa
một đêm thật tình cờ Sân ga vắng thưa
người và ngoài kia vẫn mưa rơi Tình chưa thành
lời vì còn ngại tình gian dối Rồi ta đã quen nhau
và cho nhau phút hẹn hò Có lẽ các
“cậu” học trò Quảng Trị chẳng có anh nào lên sân ga để “cua” gái. Việc ấy dễ
bị… thất bại, nhưng đến sân ga vào những lúc chiều tàn, tình cờ, - tôi nói là
tình cờ - đón một chuyến tàu mà không quen biết ai về trên chuyến tàu chiều đó
là cái vớ vẩn của những người đứng ở ngưỡng cửa tình yêu: chuyến tàu cuối ngày Tôi đến sân ga
trời chiều lộng gió, Hun hút đường tàu,
lất phất mưa bay Ga vắng thưa chưa
người nào đến, mới
một mình tôi Cảnh tượng
“mưa chiều sân ga” dễ làm cho người ta nhớ đến những ngày mưa phùn dài lê thê ở
sân ga Đông Hà, Quảng Trị, vùng “Châu Á gió mùa” có những cơn mưa bấc làm “lạnh
buốt tâm hồn”.
*
Tôi từng
gặp những “đứa” bạn mới trên mười tuổi đến chơi nơi nầy vào “những ngày nghỉ
học”. Ngồi trên “goòng” để những đứa bạn khác đẩy chạy trên đường sắt là cái
thú vui nghèo nàn của đám trẻ con ở thành phố nhỏ, thành phố không có chỗ giải
trí cho trẻ con. Tôi và Nguyễn Cẩm, và Trương Văn Thông, Lê Văn Tịnh đã chơi
cái trò nghịch ngợm bất đắc dĩ đó. Thế hệ sau, có “Hùng móm” với những đứa bạn
của nó như Định và Hoài… Thế rồi đi
xa! Vì sinh kế
- như tôi chẳng hạn - và vì “trai thời loạn”, như Lô, Hàm, “Hùng móm” và bạn
của nó lần lượt lên xe lửa đi về phương Nam, theo một con đường tàu dài hun
hút, hy vọng tìm ở phương trời xa xôi đó, có bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn hơn
ở thành phố quê hương quá quen thưộc, nhỏ bé, quen hết ngõ ngách của những con
đường phố không dài, và những khuôn mặt “cô nường” nào đó, quá quen, quen đến
nỗi không dám nói một lời bông đùa, chọc ghẹo… Bọn trẻ sau
thế hệ tôi có lý tưởng cao cả hơn, thỏa chí “tang bồng hồ thỉ”, như những mũi
tên được bắn lên bốn phía trong đêm “khai trường” trên dỉnh Lâm Viên. Vậy mà
chúng nó - cũng như tôi vậy - có người đưa, người tiễn, khi chúng muốn mang
“hành trang người lính” đi đây đó “trên bốn vùng Chiến thuật”. Có kẻ ra đi
lại về: Một đêm mùa hè tôi đến sân ga Vui đón người trai lính trở về Tàu cũ năm xưa mang về trả cho
tôi người xưa Vui đón người trai lính trở về Tàu cũ năm xưa mang về trả cho
tôi người xưa… Không
hẳn ai đi rồi cũng về, những người ra đi “chinh chiến địa”, như “Hùng móm”
chẳng hạn, không thấy về, hay chỉ “về tới sân ga” thì lại ra đi bằng một chuyến
tàu cuối cùng, chuyến tầu cuối cùng trong đời “Hùng móm”. Người
ta cũng nghĩ tới những người “tiễn người đi”. Trở lại sân ga đón tàu tôi về một
mình Bao nhiêu ước mơ đầu chìm vào
cơn nước trôi mau (bài đã dẫn) Những
con tàu đã đưa “người đi không về, chắc rằng có người nhớ”. Không chỉ một người
nhớ mà vạn người nhớ, nhớ những người vì đất nước nằm lại trên chiến trường.
*
Tôi
sinh ra ở thị xã Quảng Trị, bên bờ sông Thạch Hãn, nhà tôi ở bên bờ sông Thạch
Hãn, trường tôi học cũng bên bờ sông Thạch Hãn, và tôi từng nghe tiếng còi tàu
vang dội trên sông nầy khi tôi còn tuổi ấu thơ. Khi
con tàu sắp rời ga để đi ra phía Bắc - Đông Hà, tàu rít lên một hồi còi. Khi
tàu đang ngang cầu ga - cầu trên sông Thạch Hãn - còi tàu lại rít lên một hồi
nữa, để chuẩn bị qua cầu Bầu Vịt, kế cầu ga. Những khi thanh vắng, tôi có thể
nghe thêm một hồi còi tàu nữa, khi tàu sắp qua cầu Ái Tử. Có lẽ còn những tiếng
còi tàu khác nữa, trước khi qua cầu Lai Phước hay tiếng còi tàu giục giã, khi
tới ga Đông Hà. Đêm
khuya, khi trời thanh vắng, nghe một hồi còi tàu từ xa vẳng lại, tôi đoán chừng
tàu từ Đông Hà đi vào. Tiếng còi hơi xa, từ phía cầu Ái Tử, rõ hơn, khi tới cầu
Bầu Vịt, và mấy hồi thúc hối khi tới cầu ga; con tầu từ từ đi vào ga Quảng Trị. Từ
những năm cuối thập niên 1940, đầu thập niên 50, khi còn là học sinh, tôi từng
bị tiếng còi tàu ám ảnh. Nằm trong chăn ấm, nghe tiếng còi tàu từ xa vọng, tôi
tưởng chừng như tiếng còi tàu gọi tôi ra, biểu tôi đi, đi càng xa, người càng
vui… như dó là tiếng gọi của thiên nhai, tiếng gọi của “chân trời viễn mộng”. Tiếng
còi tàu nếu không là tiếng gọi của Saigon thì cũng là tiếng gọi của cố đô; nếu
không là “Ra khơi biết mặt trùng dương,
biết trời mênh mông, biết đời viễn vông…” thì đó cũng là tiếng gọi của
người ngàn xưa “Bên hào Vạn Lý” của
Lê Minh Hoàng Thái Sơn. Tiếng gọi mơ
hồ ấy khiến tôi thường ưa hát những bài hát về những tiếng còi tầu, về những ga
nhỏ: “Chuyến tàu hoàng hôn”, “Tàu đêm năm cũ”, “Chiều sân ga”, “Ga chiều phố
nhỏ”... Có bài nào trong những bài hát nầy không mang hình ảnh những ga nhỏ ở
quê tôi?! Chỉ
vài năm sau, tôi đã lên đường, “bỏ nhà ra đi”, khi tôi chưa tròn 16 tuổi. Và
cuộc đời đưa tôi đi thật xa: Gò Công, Cà Mâu, Hà Tiên, Hòn Phụ Tử… Rồi những
đêm trong trại tù Xuân Lộc, nằm nghe tiếng còi tàu réo gọi khi con tàu từ
phương Bắc về tới ga Giá Rây bên chân núi Chứa Chan - Núi Chứa Cha! Chán Chưa?
Chưa Chán hay Chán Chứa tình hoài hương?! Đêm trong tù nghe tiếng còi tàu từ
chân núi xa vẳng lại, tôi lại nhớ về Quảng Trị, nhớ tiếng còi tàu khi tàu sắp
qua cầu Bầu Vịt, khi sắp tới cầu ga, và cả những tiếng còi tàu ở sân ga Đông Hà,
sân ga cuối cùng trên “đường tàu thống nhất”, nơi tôi đứng kế căn nhà lầu có
khắc ba chữ T (TTT) thật lớn, để nhìn con đường tàu hun hút chạy về phương Nam
mù mịt. Có
tiếng ai gọi ai từ cuối chân mây! hoànglonghải
(1) Lời
đắng cho cuộc tình - Nhật Ngân (2) Đón Em Ngược lại một đường tàu để đón em từ
một sân ga Ðường vô như rất xa Bánh tàu lăn không ăn hết đường
thương nhớ. Cùng một đường đi quanh co lối ngõ Nhìn hai bên thêm thấy rõ lòng em. Yêu nhau từ một ánh đèn Rồi trên những chuyến tàu để tàu đi,
đi mãi. Từ một điểm nhớ thương anh nôn nao
trở lại Ðón em Chiều nay Ðể đốt lên từ vầng mắt thâm gầy Một ánh lửa chong suốt đời, trọn
kiếp. Em ơi em, ngược một đường đi giờ này
em có biết Lắc lư nghiêng ngã con tàu Ta vẫn muốn đi mau Ði thật mau để nhìn em buồn bên cửa
gió. Nhìn em, đôi dòng mắt mở Trông tìm sân vắng, ga đơn. Ðể rồi khi chớm nở giận hờn Anh xuất hiện Màu hoa lên ánh mắt. Náo nức ngồi đây, thân tàu lay lắt Náo nức ngồi đây, thân tàu lay lắt Mà thương nhớ xót xa trông chờ quay
quắt. Ta viết mau để quên tiếng xa gần. Ðường dù dài nhưng chưa hết trăm năm Tàu có chậm nhưng đường đi có hạn. Ta sẽ gặp nhau giữa chiều hửng nắng, Ta sẽ ôm em hôn trắng môi hồng. Hôn thật lâu để trút nhớ cùng mong Lên môi thắm hiền, yêu, chân thật. Nghĩa là viết cho đến giờ gặp mặt. 1957 Ðỗ
Tấn Về bài thơ Ðón em: Mỗi buổi
chiều chủ nhật hàng tuần, chúng tôi thường đáp tàu lửa từ Huế ra Quảng Trị để
kịp dạy vào sáng thứ hai. Hôm đó vì có việc cần, anh phải ra Quảng Trị vào buổi
sáng. Trước giờ hẹn gặp nhau ở ga Huế, anh đáp tàu ngược trở lại để kịp đón tôi
cùng ra Quảng Trị trên một chuyến tàu như thường lệ. (Trích thư của Cô Cao Xuân Yến, cựu giáo sư trường Nguyễn
Hoàng gởi cho Hoàng Long Hải, cùng một số bài thơ của Đỗ Tấn, cựu giáo sư
trường Bồ Đề Quảng Trị - thư viết năm 2007)