Chữ Tâm Của Một Ông Tướng
- Hoàng Long Hải
Tạc hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu, không như thuỷ nguyệt,
Vật trước hữu không không?
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt lòng sông
Ai hay không có, có không là gì?
Hữu Không
Đạo Hạnh Thiền Sư
(Đời Lý)
Ở Huế có một “danh từ” người Huế rất thường dùng mà các nơi khác không có. Đó là hai tiếng “Cậu Tôn”. Cậu Tôn, có người hiểu là các cậu “Tôn Thất”, tức là người thuộc dòng dõi vua nhà Nguyễn, mà cũng có nghĩa là “Vương Tôn Công Tử” hay gọi một cách kính cẩn là “bậc vương tôn công tử”.
Chinh
Phụ Ngâm có câu:
Thiếp
chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng
há từng học lũ vương tôn
Hai
câu nầy là của chinh phụ, cứ tưởng có chồng rồi thì được một đời sum họp, yên
lành, sung sướng. Ai ngờ bây giờ phải buồn rầu vì “cách trở nước non.”
Với
Huế, tướng Nam, khi ông còn trẻ, chính hiệu là một “cậu tôn”.
Nguyễn
Khoa là một họ lớn ở Huế, giống như họ Thân (Trọng), họ Hà (Thúc)…
Có lần vua Tự Đức nói: “Thân, Thân, Hà, Hà thiên hạ vô gia; Hà, Hà, Thân, Thân,
thiên hạ vô dân.” Có nghĩa thiên hạ mà cứ họ Thân, họ Hà hết thì làm quan hết,
không còn ai là dân; ở nhà quan hết, không còn ở nhà dân.
Họ
Thân, họ Hà, họ Nguyễn Khoa, họ Hoàng Trọng, Trương Như… là những họ lớn của
Huế, “đông con cháu, làm quan to”. Tướng Nguyễn Khoa Nam thuộc họ Nguyễn Khoa
là họ lớn. Mẹ ông là Công Tôn Nữ Mộc Cần, thuộc dòng Tuy Lý Vương, “nguyên súy
Mạc Vân thi xã”, tức Miên Trinh, “Ông Hoàng Mười Một” (con trai thứ 11 của vua
Minh Mạng, vua thứ hai nhà Nguyễn). Công Tôn Nữ Mộc Cần là chắt nội vua Minh
Mạng - như vậy, tướng Nam là “chắt ngoại” của Ông Hoàng 11 (con gái vua là Công
Chúa, cháu gái vua Công Nữ, xuống một “hệ” nữa là Công Tôn Nữ, Công Tằng Tôn
Nữ, Công Huyền Tôn Nữ. Hàng dưới nữa và cuối cùng là Tôn Nữ.
Do
đó, theo “Đế Hệ”, phía nữ, bà mẹ Tướng Nam là cháu (nội) Tuy Lý Vương. Ông là
chắt (ngoại). Trong nhiều tài liệu, nói Tướng Nam “thuộc dòng Tuy Lý Vương” là vậy.
Trong dòng nầy, còn có Giáo Sư Bửu Hội, Thủ Tướng Bửu Lộc cũng là chắt (nội)
Tuy Lý Vương.
Cậu
Tôn ở Huế, là nói về Tướng Nam khi còn trẻ. Ông là cựu học sinh trường Khải
Định Huế, khi trường nầy có tên Tây là Lycée Khải Định. Ông đậu bàng Tú Tài 1
vào khoảng năm 1944 hay 45.
Khi
Tây tái chiếm thành phố Huế, mỗi ngày lính Tây hành quân, lùng sục Huế và các
làng chung quanh, đốt nhà dân, hãm hiếp phụ nữ, một số người không theo kháng
chiến được, phải ra làm việc với Tây nhằm mục đích ngăn chặn sự tàn ác, phá
phách của lính Tây, trong đó ông Trần Văn Lý, quê ở làng Hưng Nhơn, Quảng Trị,
nguyên là “tổng đốc Lâm/Đồng/Bình/ Ninh” (Lâm Viên/ Đồng Nai/ Bình Thuận/ Ninh
Thuận) thời chính phủ Trần Trọng Kim, ra “hợp tác” với Tây, làm “Chủ Tịch Hội
Đồng Chấp Chánh Lâm Thời Trung Kỳ” (sau nầy là Thủ Hiến). Năm 1949, cựu hoàng
Hoàng Bảo Đại trở về nước, lãnh đạo “Chính phủ Quốc Gia”. Một số cơ quan ở Huế
và các tỉnh được Tây trao lại cho chính quyền Quốc Gia, v.v… Chính quyền Quốc
Gia và Quân Đội Quốc Gia hình thành.
Nói
lại hoàn cảnh lịch sử như thế để quý độc giả biết thêm một chút tại sao ông
Nguyễn Khoa Nam “ra làm công chức” và nhập ngũ Khóa 3/ Thủ Đức.
Bấy
giờ, ông Nguyễn Khoa Nam theo học một khóa “Hành Chánh Cao Cấp” (cùng khóa nầy
có ông Bửu Viên, sau nầy là thứ trưởng Bộ Nội Vụ thời Đệ Nhị Cộng Hòa), được bổ
nhiệm làm việc tại sở “Kho Bạc Huế”.
Phong
cách của ông Nguyễn Khoa Nam bấy giờ (trước khi ông nhập ngũ năm 1953), đúng là
một bậc “vương tôn công tử”. Kho Bạc Huế tọa lạc gần Nhà Hàng Morin, nhà hàng
sang nhất và đắt nhất ở Huế thời bấy giờ. Buổi trưa, “cậu Tôn” Nguyễn Khoa Nam
ăn trưa ở nhà hàng nầy, khi nào cũng có “bồi bàn” đứng hầu.
Dáng bộ, tác phong “cậu tôn” lúc nào cũng chững chạc, nghiêm nghị.
Thế
rồi, ông có lệnh nhập ngũ. (Ông không tình nguyện) khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ
Đức, khóa Đống Đa, khai giảng tháng 4/ 1953. Tốt nghiệp cùng năm đó, ông chọn
(binh chủng) Nhảy Dù, tiếp tục con đường binh nghiệp với nhiều khóa học ở trong
nước, ở Pháp rồi ở Hoa Kỳ, cùng nhiều chiến công, nhiều huy chương, thăng cấp
tại mặt trận, v.v….
Tại
sao ông nhập ngũ?
Tại
sao ông “đi nhảy dù”?
Đó
là vài câu hỏi người ta suy nghĩ về ông!
Khi
ông nhập ngũ thì “các mệ” ở Huế cũng đã có người nhập ngũ rồi, nhập ngũ vì tinh
thần, vì thất phu hữu trách, vì thù nhà, nợ nước, theo hoàn cảnh cũng từng
người, cũng có kẻ coi việc “đi lính” như một nghề, một kế sinh nhai.
Cậu
Tôn Nguyễn Khoa Nam không ở trong những trường hợp như thế. Cậu đang là một
“công chức” trung cấp - chức trưởng phòng - có thể có “tương lai” - như ông Bửu
Viên, nói ở trên. Ông theo lệnh gọi là vì gì? “Lệnh vua, hành quân, trống kêu
dồn” như mọi người. Thất phu còn hữu trách nữa là.
Thuộc
gia đình “hoàng phái”, vua chúa. Vua chúa, hoàng tộc cũng chống Pháp, như Hàm
Nghi, Thành Thái, Duy Tân hay những người từng “theo phò” các ông vua nầy khi
họ bị lưu đày. Nhưng họ không thể theo Cộng Sản. Con đường không thể theo Cộng
Sản ấy, hàng quan lại, hoàng tộc nhà Nguyễn, cả người Huế nữa, và nhiều người
khác nữa, từng biết, từng có kinh nghiệm từ trước 1945.
Bấy
giờ, những người không theo kháng chiến, không thể theo kháng chiến, những
“người Quốc Gia” đã có chính nghĩa: Vua Bao Đại đã “hồi loan”, đã làm Quốc
Trưởng, lãnh đạo chính quyền Quốc Gia, vừa chống Cộng Sản độc tài, vừa đấu
tranh với Pháp để giành độc lập. Con đường đấu tranh với Pháp nầy, không dùng
vũ lực như Việt Cộng, là không sai, bởi vì đó là con đường nối dài “Pháp Việt
đề huề” của Phan Chu Trinh ngày trước. Đó cũng là con đường chống Pháp bất bạo
động – “bạo động là chết” - như cụ Phan nói - của Phan
Bội Châu. Không phải cụ Phan sợ chết, nhưng cụ thấy không cần phải tốn hao
xương máu. Người Pháp, dù ngoan cố, cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam,
trong một tình hình “giải thực” hiện nay trên toàn thế giới.
Cậu
Tôn Nguyễn Khoa Nam trong tình trạng đất nước như thế, “cậu” nhập ngũ! Đâu có
phải cậu đi lính Tây như thầy Đội Khố Đỏ Nguyễn Ngọc Lễ (sau nầy là trung
tướng) hay thầy Đội Khố Xanh Đỗ Mậu (sau nầy là thiếu tướng kiêm phó thủ tướng
đặc trách văn hóa) hay Đội Thông Ngôn Nguyễn Chánh Thi (sau nầy là trung tướng
tư lệnh quân đoàn I/ quân khu I).
Ngoài
“lệnh vua”, ông là người noi gương Trần Quốc Toản. Hoài Vân Hầu Trần Quốc Toản
là cháu nội vua Trần Thái Tông. Tháng 10/ 1282, vua Trần Nhân Tông họp “hội
nghị Bình Than” cùng các tôn thích và các quan bàn việc chống quân Mông Cổ xâm
lược nước ta. Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép:
“Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương
Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẩn
khích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.
Sau
đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ
khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận
với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không
dám chống lại.
Nếu
giống như những người khác, thuộc dòng dõi vua quan, nhiều thế lực, ông Nguyễn
Khoa Nam tuy vào lính nhưng cũng có thể kiếm được một “chỗ ngồi ấm thân”, “văn
phòng”, khỏi xông pha trận mạc gian khổ, “đánh giặc mồm hơn xiết cò súng”, “có
chữ thọ to tướng” thì ông lại xin “đi lính nhảy dù” - ông đi dù suốt một thời
gian rất dài, từ thiếu úy - khi tốt nghiệp, - lên tới đại tá - bao giờ cũng là
một người lính chiến đấu. Có phải ông mang trong lòng cái ý chí “phá cường
địch” như Trần Quốc Toản ngày xưa? Cũng trong ý nghĩa đó, vì muốn “báo hoàng
ân” mà ông nhập ngũ với một thái độ bình thản, không ngại ngùng vì ông là một
“hoàng tôn”??
Quả
thật Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh của Hoài Văn Hầu của thời đại
chúng ta.
Việc
ông Diệm không lấy vợ làm cho người bàn tán không ít, nhất là với người Huế. Cụ
Võ Úy, xưa làm tri phủ Điện Bàn, bạn đồng liêu với ông Ngô Đình Khôi, thường
nói đùa với các con: “Chú Diệm bây không cu.” Ông Văn Bia, một người từng hầu
cận ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm ở Saigon, khoảng trước năm 1954, từng tò mò
“coi lén” ông Diệm khi đi tiểu tiện thì nói rằng ông Diệm cũng “bình thường”
như mọi người. Việc ông Diệm không lấy vợ là vì ông muốn để toàn tâm toàn ý cho
việc giành độc lập, xây dựng đất nước, làm cho “dân giàu nước mạnh”. Ngoài Bắc,
Cộng Sản cũng tuyên truyền như thế với “bác” Hồ của họ, nhưng tới bây giờ, bí
mật bị bật mí thì Hồ Chí Minh vợ con tùm lum; thậm
chí ông còn ngủ cả với “Cháu Ngoan Bác Hồ” Nông Thị Xuân nên Xuân đẻ ra Hồ Chí
Trung. Tính thử coi, khoảng năm 1945, 46 khi “cụ” Hồ cầm quyền chính phủ, “cụ”
khoảng 55, 56 tuổi thì Thị Xuân mới 10 tuổi, là “cháu của cụ” chớ gì!
Tướng
Nam cũng là người không có vợ nhưng không nghe ai nói ông “không cu” như cụ
Diệm. Ở lính, đời sống tập thể, người “không cu” mà giấu ai được. Người ta nói
khi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho, tướng Nam cũng có một “cô nường” nào
đó ở Saigon thường xuống thăm ông. Bà nầy là dược sĩ, có người nói là giáo sư
trường Dược. Sao họ không lấy nhau? Không làm đám cưới “cho vui”.
Tướng
Nam nghĩ gì?
“Chinh
chiến kỷ nhân hồi” như xưa nay trong lịch sử nước ta cũng như lịch sử nhân
loại. Nếu Tướng Nam biết mình “học lũ vương tôn” thì ông cũng sợ cho người ông
kết hôn thành “ra người chinh phụ”. Chương trình tiếng Việt thời Pháp thuộc học
rất ít về văn chương Việt Nam, nhưng có lẽ thuộc dòng dõi Tuy Lý Vương, người
từng làm “nguyên súy” Mạc Vân Thi Xã nên Tướng Nam có đọc hay có học Chinh Phụ
Ngâm từ khi ông còn trẻ hay chăng? Một người như thế, lòng thương người như
thế, lòng cao thượng như thế, sự hy sinh của ông là lớn lắm.
Nói
về chuyện tôn giáo, làm tướng như ông cũng có nhiều điều đặc biệt. Không rõ
những nơi làm việc khác của ông như thế nào, nhưng ngay tại Bộ Tư Lệnh Quân
Đoàn IV có bàn thờ Phật.
Đêm
30 tháng Tư/ 1975, (trong câu chuyện do) trung úy Trần Ngọc Danh, tùy viên của
Tướng Nam thuật lại, nếu lưu ý, người ta thấy Tướng Nam thắp hương và đánh 3
tiếng chuông trên bàn thờ Phật hai lần: Một lần đầu hôm khi ông đi thăm thương/
bệnh binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản về, và một lần nữa khi gần sáng ngày 1
tháng 5, trước khi ông tự tử. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hai, nguyên bạn
học cũ với Tướng Nam khi họ học chung với nhau ở trường Khải Định, nguyên Phó
Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, em rể Tướng Nam (rể cụ Ưng Thiều), Tướng Nam là
người “trì chú” kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, theo tôi hiểu một cách sơ lược – tôi không phải là một Phật tử
thuần thành - tôi “theo Phật” như một truyền thống của dân tộc - là kinh chuyên
về chữ “tâm”, tâm là lòng, là tình thương, nói theo nhà Phật
là “Từ Bi”. Từ chữ “tâm” mà nhìn vào cuộc đời Tướng Nam, người ta phải nhận
rằng, ông là một người lính, một sĩ quan, một ông Tướng có chữ “tâm” rất lớn.
Vì vậy, tuy phải mang súng hằng ngày, ra lệnh hành quân hằng ngày, hô quân tiến
lên, tấn công vào vị trí địch, vào mục tiêu mà không ưa sự chém giết, không
muốn giết người.
Đây
là một tấm lòng rất hiếm trong hàng tướng lãnh, bởi một lẽ rất dễ hiểu, họ
không có “hận thù” - không như trong hàng ngũ Cộng Sản - “Nhắm vào kẻ thù mà
bắn - Lê Mã Lương – “Giết! Giết nữa, bàn tay không ngừng nghỉ” như Tố Hữu và
khát máu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!”
Kutuzov,
một tướng lãnh của Nga Hoàng, cũng là người làm tướng có cái tâm như thế nên
không ưa sự chém giết. Năm 1812, thất bại trước “Đại Tướng Mùa Đông”, Napoleon
rút chạy khỏi lãnh thổ nước Nga. Kutuzov chỉ cho quân Nga đuổi theo “cầm chừng”.
Ông thấy quân Pháp bại trận hốt hoảng rút chạy nhanh ra khỏi lãnh thổ nước ông:
Thế là được rồi. Nếu truy đuổi, quân Pháp chết chóc nhiều hơn, thì quân Nga
cũng hao mà thành công cũng chỉ thế. Tạo thêm cảnh chết chóc để làm gì. Đoạn
sau đây, tôi trích lại trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Leo Tolstoy:
Tất
cả các hành động của ông - không hề có một trường hợp ngoại lệ nào dù nhỏ nhặt
đến đâu - đều nhằm vào một mục đích duy nhất gồm ba điểm:
1. Huy động hết lực lượng để đường đầu với quân Pháp.
2. Chiến thắng quân Pháp.
3. Đuổi chúng ra khỏi nước Nga, đồng thời, trong
chừng mực có thể, giảm nhẹ những nỗi điêu đứng của nhân dân và quân
đội.
Với
tâm niệm như thế, ông Tướng Kutuzov nói với lính của ông:
“Anh em ạ. Tôi biết các anh em khổ lắm, nhưng biết làm thế nào được? Cố kiên nhẫn một chút: chẳng còn lâu nữa đâu. Khi nào tiễn hết các ông khách ta sẽ nghỉ ngơi cho bõ. Sa Hoàng sẽ không quên công lao của anh em. Anh em khổ thật, nhưng dù sao anh em cũng đang ở trên đất nhà, chứ như bọn chúng - anh em xem nông nỗi chúng nó đến thế nào, - ông chỉ đám tù binh nói - Còn tệ hơn lũ ăn mày cùng khốn nhất. Khi chúng còn mạnh, chúng ta không thương xót gì chúng hết, còn bây giờ thì có thể thương hại chúng. Chúng cũng là người. Có phải thế không anh em? Nhưng nói cho phải, ai khiến chúng đến đất chúng ta? Đáng đời quân chó đẻ, đ. mẹ chúng nó! - ông bỗng ngẩng đầu lên sau khi nói xong.”
Tôi
từng phục vụ trong Quân Đội VNCH, từng đánh nhau với Việt Cộng, từng bị “tù cải
tạo”, từng đọc “Chủ Nghĩa Mác” và “học 10 bài” khi ở trong tù, tôi biết chắc
người Cộng Sản không có cái “tâm” như thế!
Ngược
lại, các ông tướng VNCH, dù theo tôn giáo nào, cũng có một tấm lòng thương
lính, thương dân rất lớn.
Lời
người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh
thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ
tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công
cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm
thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương
nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về
Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.
Hai
mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đày của cả đạo quân
nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi
ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu.
Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái
cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin
ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng.
Người
làm tướng Cộng Sản không có được cái tâm như thế! Tại sao? Tại tôi định kiến
hay chủ quan? Không phải vậy! Tại chủ nghĩa đấy, tại văn hóa đấy. Nó khác với
chủ nghĩa và văn hóa của chúng ta. Chúng ta không có chủ nghĩa Cộng Sản nên
không có thù hận: thù hận giai cấp, thù hận giàu nghèo, thù hận “trí phú địa
hào…” Bởi vì có thù hận nên Stalin đã giết hàng triệu người Nga. Mao cũng thế
thôi. Ở nước ta, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn có khác chi không?! Không
khác được. Các ông tướng Việt Cộng ở chiến trường Miền Nam, trong việc “đánh
cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” cũng không làm khác đi được. Nếu họ làm khác đi
thì làm sao có vụ “tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế”. Đó là cảnh trước mắt. Còn những
cảnh khuất mắt xảy ra trong các buôn trên rừng, trong các xóm nhà tranh vách lá
ở những miền đất xa xôi thì ai thấy. Chỉ có những người lính từng tham gia
những trận đánh đó, mới tận mắt chứng kiến thảm cảnh của người dân vô tội, mới
thấy, mới hiểu rõ hơn rằng “Việt Cộng tàn ác như thế nào!”
Tại
sao người Cộng Sản tàn ác như thế?
Bởi
vì văn hóa của họ là “văn hóa vô sản”. Văn hóa vô sản ở nước ta là văn hóa của
người cùng đinh, của người “ngoài xã hội” dù thành thị hay thôn quê, “ngoài
sinh hoạt của làng”, ngoài phong tục tập quán của làng, ngoài văn hóa làng xã.
Văn hóa của họ là văn hóa Chí Phèo, Thị Nở. Họ không theo “phép vua”, cũng
không theo “lệ làng”, họ theo Cộng Sản, theo đấu tranh giai cấp và theo “Cải
cách ruộng đất”. Như thế, họ mới có… quyền lợi.
Họ
theo chủ nghĩa Cộng Sản!
Chủ
nghĩa Mác là Chủ nghĩa Cách mạng triệt để. Thế nào gọi là
“triệt để”? Trong việc chiến đấu giữa hai bên, “ta và địch” thì khi chiến thắng
phải là“chiến thắng triệt để, đạt tới mức cao nhất”, có nghĩa là ta phải thắng
lợi hoàn toàn, tối đa, đạt tới đỉnh cao nhất. Còn phía địch? Địch cũng phải
thất bại tối đa, thất bại hoàn toàn, sức mạnh của địch bị tiêu diệt hoàn toàn,
địch phải quì xuống, van lạy, cầu khẩn mới được “cách mạng tha tội
chết”. (3)Vì vậy, trong sự chiến thắng của Cộng Sản, ta, phía bại trận thì
còn lại được gì, còn cái mạng sống là may mắn lắm rồi.
Theo
hồi ký của trung úy Trần Ngọc Danh, tùy viên của Tướng Nam, ông Danh thấy ông
Tướng “rơi nước mắt” hai lần:
Lần thứ nhất, chiều ngày 30 tháng Tư, sau khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, Tướng Năm đi thăm thương, bệnh binh ở Quân Y viện Phan Thanh Giản (Cần Thơ):
“Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra đỏ lòm cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
Vết
thương của em đã lành chưa?
Thưa
Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.
Với
nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa
kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:
Thiếu
tướng đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!
Qua
không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.
Qua
ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai
giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén
xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự
nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
Em
cố gắng điều trị… có qua ở đây…”
Lần
thứ hai, khi ông đứng trên sân thượng Bộ Tư Lệnh, nhìn cảnh quê hương, đất nước
một lần cuối cùng:
“Tôi
linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng
trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan
can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh,
anh Việt đứng bên trái.
Vài
xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt
Thiếu Tướng bật khóc. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng
những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh
trước cảnh nước mất nhà tan.
Tôi
và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do
chảy…”
***
Cuối
tháng Tư/ 1975, tôi đang phục vụ ở Quân Khu IV, khu 42 Chiến thuật. Ngày 29
tháng Tư, qua hệ thống truyền tin của Quân Đội, lệnh Tướng Nam là phải giữ vững
vị trí, không được “tự ý di tản”, nôm na là không được bỏ chạy. Quân Khu
IV còn đủ “sức chơi” với Việt
Cộng ít nhất là 3 tháng nữa, sẵn sàng đón “chính phủ” từ Saigon về. Sông Bến
Lức sẽ là phòng tuyến chặn địch. (4)
Thế
mà sáng ngày 1 tháng 5 khi tôi về tới Cần Thơ thì binh sĩ và dân chúng ở đây
xôn xao vì tin Tướng Nam mới tự tử sáng hôm đó. Tại sao ông Tướng tự tử. “Mình
còn đủ sức chơi lại tụi nó mà!” Người ta hỏi nhau như
thế.
Mãi lâu về sau, tôi dần dà tìm hiểu: À! Ông Tướng nhìn vấn đề theo lăng kính của ông, đâu có “hăng máu” như tôi nghĩ cạn! Quyền hạn càng to thì trách nhiệm càng lớn. Hành động của ông có hậu quả lớn nhỏ là do ở quyền hạn ấy: Nếu tiếp tục đánh nhau ba tháng nữa, đánh trong tuyệt vọng vì súng còn ít đạn, xe tăng, máy bay không còn xăng, không thắng được chúng, binh lính sẽ chết thêm, dân chúng thêm điêu linh. Vùng IV có ba sư đoàn chính qui, hai liên đoàn Biệt Động Quân, 16 tiểu khu với các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ… và dân chúng. Hậu quả hành động của ông lớn lắm, bởi vì ông đâu chỉ là tư lệnh một sư đoàn, một khu chiến thuật. Ông chỉ huy một quân khu, 16 tỉnh, dân đông, trù phú. Một mệnh lệnh ông đưa ra, hậu quả lớn như thế nào… đối với tất cả binh lính, dân chúng trong vùng trách nhiệm của ông. Bao nhiêu sinh mạng binh lính, bao nhiêu sinh linh trong tay Tướng Nam. Ông chọn con đường nào! Con đường nào ngoài con đường ông tự sát để cứu lính của ông, cứu đồng bào của ông. Một mình ông nằm xuống, bao nhiêu người được sống!
***
Trưa
ngày 30 tháng Tư, Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Tổng thống VNCH là “Tổng
Tư Lệnh Tối Cao” Quân Đội. Tổng Thống ra lệnh đầu hàng. Là một người lính
nghiêm chỉnh thi hành “Quân Phong Quân Kỷ”, Tướng Nam biết ông phải làm gì.
Tác
giả Lê Chu thuật lại trong hồi ký của ông:
“Tướng
Nam trở lại phòng họp, nét mặt ông lộ vẻ buồn, rất buồn. Giọng nói còn xúc
động, ông nói với chúng tôi: “Chúng ta là quân nhân. Quân nhân phải thi hành
lệnh thượng cấp. Nay Tổng Thống ra lệnh ngưng chiến đấu, ở vị trí tại chỗ, chờ
bàn giao. Thôi chào anh em và anh em trở về đơn vị.” Ông lại nói tiếp: “Tôi
không chủ trương ra đi. Với cương vị của tôi, ra đi lúc nào cũng được, nhưng
nghĩ đến anh em chiến sĩ ngoài mặt trận, gia đình vợ con binh sĩ và đồng bào
nên tôi không ra đi.”
Vậy
mà ông vẫn bình tĩnh, vẫn hòa nhã, như bản tính của ông vậy. Chiều 30 tháng Tư,
hai tên Việt Cộng không mang súng, xin gặp ông. Tướng Nam đón ở phòng khách Bộ
Tư Lệnh. Ông nói gì mà hai tên Việt Cộng lặng lẽ ra về. Nửa khuya hôm đó, bốn
tên Việt Cộng khác lại xin gặp ông. Chúng có mang theo vũ khí. Một tên súng lên
đạn sẵn, có thể bắt ông, bắn ông bất cứ lúc nào. Ông cũng tiếp chúng ại phòng
khách như tiếp hai tên trước. Ông nói gì với chúng, khiến chúng cũng lặng lẽ ra
về.
Trước
tình thế tuyệt vọng như thế, ông vẫn “đàng hoàng”. Kẻ chiến thắng đứng trước
mặt ông, không dám nói một lời dữ dằn, kiêu ngạo, không dám có thái độ hung
hãn. Nói theo sách tướng, ông có cái gì mà kẻ thù đang ở trong cái thế chiến
thắng mà phải kiêng dè.
Ông
qua đời rồi, bác sĩ Hoàng Như Tùng lo việc an táng ông ở “Nghĩa Trang Quân Đội”
ở Cần Thơ.
Tôi
chưa từng “trình diện” Tướng Nam bao giờ. Chỉ nhớ một lần, đầu năm 1975, khi
tôi lái xe từ Hà Tiên về Rạch Giá thì gặp xe ông đi ngược chiều ở xã Mỹ Lâm, xã
nổi tiếng Việt Cộng, là “xã quê hương” của Nguyễn Tấn Dũng. Tôi cầm “vô-lăng”,
tà lọt ngồi bên cạnh, băng sau còn thêm hai “ngoe” nữa. Xe ông qua rồi, tôi mới
thấy một ông “mang hai sao” ngồi ghế trưởng xa. “Băng” sau chỉ có một “tà-lọt”
hay hiệu thính viên truyền tin. Thấy ông tướng, tôi hơi giựt e, hỏi trung sĩ
Thành bên cạnh:
-“Ông
Tướng nào mà gan cùng mình, đi lang thang vậy mày?”
Thành
nói: “Chắc là ông Tướng Quân Khu!”
Tôi
nói đùa: “Gặp ông Tướng Quân Khu mà không chào, coi như hai bên… ngang nhau.”
Các
sĩ quan phục vụ quân đội gần ông, biết rõ ông Tướng nhiều hơn. Tôi xin trích
một đoạn sau đây của Lê Chu:
“Shakespeare,
qua các nhân vật của một vở kịch, có viết rằng, mỗi người xuất hiện trên sân
khấu một lần, diễn xuất một cách vụng về rồi biến mất. Điều này có thể đúng với
tôi, với nhiều người khác nhưng không đúng với Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Ông
không diễn xuất vụng về, trái lại, ông diễn xuất rất đạt, rất thành công. Ông
không biến mất - Ông vẫn trường tồn. Ông được nhiều người ca tụng là anh hùng.
Theo tôi, ông có những cái gì khác hơn anh hùng. Anh hùng dựa vào dân tộc, dựa
vào lịch sử mà trường tồn, được xem như người chiến thắng, được bỏ qua những
lỗi lầm. Còn ở ông còn toát ra những gì thanh cao, khí tiết. Ông là kết tụ của
tinh thần bất khuất Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu - ninh thọ tử bất ninh thọ
nhục - thà chết chứ không chịu nhục. Ông là tiếp nối của truyền thống hào hùng
tiết tháo của Võ Tánh, Hoàng Diệu - tướng chết theo thành. Cái chết của ông
thật lặng lẽ, âm thầm và cô đơn nhưng lại chuyển vào mạch sống của dân tộc. Ông
đã để lại cho lịch sử khúc ca chính khí.
Hôm
tôi về VN, nói chuyện với người bạn còn ở Saigon, người bạn nói, bà Chị của
Tướng Nam đã bốc mộ cho ông và đem về thờ ở chùa Quảng Hương Già Lam ở đường Lê
Quang Định (cũ) gia Định. Trong nước, cũng có người đến thăm nhưng không nhiều,
còn ở hải ngoại về mà ghé thăm thì rất ít.
Tôi
nói: “Hoàn cảnh nầy, dù ba bốn mươi năm rồi, Cộng Sản còn xoen xoét cái mồm:
“Thống nhất đất nước”, “chiến thắng vẻ vang”, “đảng vinh quang” thì việc thăm
mộ những người chế độ cũ không dễ đâu. Công An còn theo dõi dữ lắm. Nhưng tinh
thần thì còn đó, chưa chết đâu. Hôm đám ma Đại Tá Nguyễn Văn Đông, khi xe tang
đi ngang, bỗng một số cựu quân nhân đua tay chào theo kiểu nhà binh, khiến
người xem xúc động dữ! Tui cũng vậy.
Đó
là những tình cảm chân thật, thương yêu kính trọng chân thật. Những người “chế
độ cũ”, có ai vào chùa Quảng Hương để viếng tro cốt của Tướng Nam, đứng nghiêm
và đưa tay chào ông Tướng, mắt nhìn vào hình ông, đó cũng là tình cảm chân thật.
Những
người đến Lái Thiêu ngày 1- tháng 11 mỗi năm để tưởng niệm anh em Cố Tổng Thống
Ngô Đình Diệm, cũng có không ít người có long thương kính chân thật. Bên cạnh
đó, không biết có ai vì những tham vọng riêng tư, mượn cái những cái chết đó để
mưu đồ cho mình, cho đạo của mình, giành lại những cái vô nghĩa mà tưởng nó có
nghĩa thật. Đời bao giờ cũng có những kẻ lòng dạ không ngay làm xấu đi những
cái hay của cuộc đời.
***
-“Mấy
ngôi chùa mà Việt Cộng cho là phản động” - người bạn tôi nói - “Công An thiếu
chi. Chúng còn giả dạng thầy chùa nữa. Ông có muốn đi thăm Tướng Nam thì phải
dè dặt đấy.”
Tôi
nói:
-“Sống
với Việt Cộng thì phải chọn một trong hai con đường: “Phải biết “hèn” như
Nguyễn Tuân để sống còn. Hai là phải chê Khổng Tử như Hữu Loan từng chê“Cả đời
đục ta trong làm sao được!” Khuất Nguyên lại bảo:
Sông
Tương nước chảy trong veo,
Thì
ta đem giặt cái lèo mũ ta!
Sông
Tương nước đục chảy ra
Thì
ta xuống đó để mà rửa chân!
-“Ông”
nói kỳ.” Người bạn trách tôi: “Ở một cái xã hội không có công lý thì người ta
mới phải chọn Khổng Tử hay Khuất Nguyên để mà sống. Ở Mỹ có cần phải vậy không?
“Ông” liều mạng sống đi tìm công lý, dù có chết cũng tìm cái chết trong công
lý. Còn nếu như xã hội Mỹ cũng như xã hội Việt Nam thì người ta đi đâu để làm
gì?
Hoàng Long Hải
TIẾC THƯƠNG TƯỚNG QUÂN NGUYỄN KHOA NAM
Vận nước nổi trôi đến
bước cùng
Tướng Quân thà chết
với non sông
Tang bồng xếp lại hoa
dù đỏ
Khí tiết vang theo
tiếng súng đồng
Núi Ngự xót thương cây
rủ lá
Sông Hương tiếc nhớ
nước khô dòng
Nghiêng mình kính cẩn
trang trung liệt
Gương sáng muôn đời
sóng Cửu Long..!!
Nguyễn Minh Thanh
TIẾT THÁO NGUYỄN KHOA NAM
Thâu gươm xếp giáp chết theo thành
Danh ấy lưu truyền sáng sử xanh
Xác sẽ tan về vùng cát bụi
Hồn còn tụ lại chốn quân binh
Quay lưng trở gót hèn nhân cách
Ngoảnh mặt bó tay nhục phận mình
Chói lọi tướng quân đầy tiết tháo
Chọn đường hòa nhập giữa sinh linh!
Sinh linh, bái biệt đúng thời gian
Quốc sự còn đâu chuyện luận bàn
Quyết giữ trung trinh tình kết hợp
Đã phò tận tụy nghĩa liên can
Trông ra biển đảo thương màn tối
Ngoảnh lại núi sông xót giấc vàng
Thời thế thì thôi đành phải thế
Nằm đây tuẫn tiết rạng nhà Nam.
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
2010
·
.jpg)
