Đường Về Nha Trang - Đào Dân
tản văn
Trời vừa sáng hẳn. Trên không, không
phải một áng mây mà là cả một màn sương mù trắng đục che khuất bầu trời. Gió
nhẹ và mát lạnh làm mặt mũi thì nổi gai ốc trong khi tóc tai với lông mi lông
mày thì lấm tấm sương điểm trắng như được đính bạc. Ở đây, mùa hạ dường như
đang đi qua và khung trời mùa thu cũng đang chờ đến. Tôi và Mãn cầm túi xách đi
bộ giữa lòng thành phố Đà Nẵng còn mơ màng chưa thức dậy. Vẽ ngái ngủ của
đêm vẫn còn váng vất đâu đây, lẩn quất cả trong những hạt sương còn đọng lại
trên từng ngọn cỏ hiếm hoi bên lề đường. Những cây cao lác đác bên hè phố cũng
đang nhỏ lệ. Thỉnh thoảng đâu đó vài tiếng rao bánh mì nóng vang lên lạc lõng
rồi chìm lĩm giưã luồng âm thanh ròn rã cuả vài chiếc xe nhà binh chạy
vụt qua rồi biến mất, để lại những làn khói mịt mù. Dầu đang vội, như một quán
tính, tôi hít mạnh làn hơi sương buổi sáng để đón nhận hết cái êm đềm của đất
trời, để nghe mình trở về với quá khứ tuổi thơ chưa mất đi mà chỉ vừa mới lùi
xa trong một không gian chỉ cách hơn trăm cây số. Tôi cố mở lòng mình ra
, làm căng đầy lồng ngực, ăn tươi nuốt sống từng hơi gió dịu dàng đang mơn man
da thịt. Giưã niềm vui hiện tại được thưởng thức cái không khí
trong lành và thuần khiết cùng cái háo hức sắp được vào Nha trang, một nơi chốn
xa lạ huyền hoặc, tôi cảm nghe một nổi bùi ngùi khi sẽ phải rời xa cái
thành phố mới làm quen cùng ngôi nhà tuềnh toàng của anh chị
Minh mà tôi vừa bắt đầu thấy thân thiết sau hơn 10 ngày tạm trú.
Tôi và Mãn là bạn học cùng lớp từ
hồi đệ thất của trường Nguyễn Hoàng Quảng trị. Vốn tính nhút nhát nên mấy năm ở
trung học đệ nhất cấp tôi như cái bóng mờ sống âm thầm lạc lõng giữa
những anh chị bạn lớn tuổi khôn ngoan chững chạc cùng với đám bạn học sinh nhỏ
tuổi nhưng lanh lợi hoang nghịch vốn lớn lên từ phố thị. Bởi vậy giữa tôi và
Mãn chỉ như hai ốc đảo sống lặng lẽ xa cách, gần như không ai để ý đến ai. Chỉ
đến khi lên đệ nhị cấp, tôi bắt đầu chú ý đến Mãn vì Mãn bỗng nổi lên là một
học sinh giỏi toán. Và rồi cái anh chàng hiền lành với dáng cao gầy, khuôn mặt
dài ngoằng và làn tóc rễ tre cứng ngắc đã làm tôi ngạc nhiên thực sự khi bị một
cô bạn cùng lớp Pháp văn năm học đệ nhị thưa thầy vì tội đã ném nhầm cặp sách
lên đầu cô trong lúc chơi đùa với nhóm học sinh ngồi cuối lớp. Tuy vậy chúng
tôi vẫn chưa có mối liên hệ nào cho đến khi cùng ngồi trong một giảng
đường nhỏ xíu chỉ có đâu khoảng 25 sinh viên của lớp MGP (toán đại cương và vật
lý) thuộc trường đại học khoa học Huế. Trong thời gian đầu mới vô Huế nhập học,
Mãn đã tìm giúp cho tôi một chổ dạy kèm để tôi kiếm thêm ít tiền cho cuộc sống
xa nhà của một sinh viên nghèo đi học xa. Rồi hai đứa cùng ghi danh vô học lớp
Karate của thầy Ngô Đồng, một huyền đai Không thủ đạo và cũng là một giảng
nghiệm viên của lớp SPCN (lý hóa và vạn vật). Nhưng chúng tôi chỉ thực sự gắn
kết với nhau khi cả hai cùng rủ nhau nộp đơn thi vô khóa 18 của trường Sĩ quan
Hải quân Nha Trang và may mắn là cả hai cùng trúng tuyển.
Lúc đầu, tôi cứ nghĩ việc nộp đơn
thi Hải quân như là một giải pháp của tình thế. Năm đó tôi đã 22 tuổi, tuổi mà
bộ quốc phòng có thể gọi đi trình diện nhập ngũ bất cứ lúc nào. Việc học cũng
đang bế tắc vì sau tết, trong một lần tập karaté, tôi bị gảy tay. Tai nạn
làm tôi mất hết ý chí phấn đấu. Không những bỏ học võ mà bỏ luôn cả mấy lớp
toán ở đại học nữa. Từ đó, tôi bỗng trở thành kẻ vô công rồi nghề, lông
bông cùng Lê Kim Đạt đang học bên MPC (toán lý hóa) đạp xe lang
thang khắp thành phố Huế, có khi chui vô uống cà phê ở các quán phở gần
như lộ thiên bên bờ sông Hương, nhìn thiên hạ qua lại để dỏi theo một bóng hình
thiếu nữ nào đó. Có khi lò dò tìm đến nhà trọ thăm nhau, cả hai cùng lười
biếng nằm dài ra giường để nói chuyện phiếm trên trời dưới biển. Cũng có khi
một mình tôi mò vô thư viện của viện đại học, lục tìm những cuốn triết
học hiện sinh dày cộm của Heiddeiger do Bùi Giáng dịch hay những tác phẩm của
một người tự nhận là thiên tài Phạm công Thiện để nghiền ngẫm, suy nghiệm như
thử đang đi tìm ý nghĩa cuộc đời, rồi ra về, mặt ngẩn ngơ như một triết gia
chính cống, mặc dù lắm khi đọc mà chẳng hiểu mấy cha này nói gì.
Giữa một cuộc sống chán chường như
vậy, tôi cảm thấy bế tắc khi xung quanh bạn bè tiếp tục lên đường, kẻ bên này
người bên kia. Không lẽ cứ ngày ngày ngồi ỳ ra chờ bị gọi vô trường Bộ
Binh Thủ Đức? Phải chạy thôi. Phải thoát ra khỏi cái không khí nhàm chán của xứ
Huế trầm mặc này, nhưng cũng phải làm sao tận dụng hết giá trị của bằng tú tài
2 toán mà mình đang có. May mắn là lúc đó tôi đang xà quần ở Huế nên biết được
tin tức về hai trường Bưu điện và Hải quân đang cần tuyển sinh viên vô
học. Lối thoát đã mở ra và tôi như con thiêu thân lao vào. Tôi nộp đơn cả hai
nơi. Không biết là xui xẻo hay may mắn khi tôi chỉ biết tin đã đậu
thủ khoa vô trường Bưu điện khi tôi đã như cá mắc câu, đang ở quân trường vào
thời kỳ huấn nhục, với những buổi trưa nắng cháy lăn lộn trên thao trường,
những buổi tối kinh hòang vì những tiếng thét rùng rợn hay những giọng cười ma quái
của các sinh viên khóa đàn anh đang quay brimade (phạt huấn nhục) những bạn bè
cùng khóa khác, hoặc những ngày mệt mỏi ngủ gục trên giảng đường, nhức đầu vì
những bài toán vi phân tích phân hay lượng giác cầu của môn thiên văn...
Trúng tuyển vào Hải quân lúc đó,
trong tôi, cũng đã gợi lại cái ý nghĩ mơ hồ về một cuộc sống giang hồ sông biển
đầy vẽ lãng mạn và quyến rũ vẫn thấp thoáng từ tuổi mới lớn mà
những cuốn tiểu thuyết trinh thám như Triệu Duy Ó Biển hay Cánh
Buồm Đen cuả Lê Minh Hoàng Thái Sơn đã ươm mầm. Hay như cái không khí vừa lãng
mạn vừa bí mật của Dũng nơi đồn điền của Độ vào một đêm giao thừa để cùng lắng
nghe niềm đau của đất nước và cái hơi thở của dân nghèo trong cuốn tiểu thuyết
Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Hay như những câu thơ mô tả hình ảnh của người dứt áo
ra đi trong sương gió trong bài Giây Phút Chạnh Lòng của Thế Lữ mà
tôi đã nắn nót ghi vào cuốn sổ các-nê từ ngày còn học đệ ngũ để thỉnh thoảng
lại mang ra ê a đọc lại mà nghe lòng cảm khái:
Non nước đang chờ gót lãng du,
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu,
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.
Hay:
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan.
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ.
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.
.....
Vô được trường sĩ quan Hải quân cũng
làm tôi thực sự vui mừng và cả thỏa mãn lòng tự ái khi đã thực hiện được điều
mà bác Chơn, ông bác họ cuả tôi đang làm thầy giáo ở thị xã Quảng trị,
cho là bất-khả với tôi, một thằng nhà quê mới lớn, vụng về, nhút nhát, và cả cù
lần nữa.
Hơn năm trước, tôi rời nhà để vào
Huế trọ học. Vào dịp lễ tết hay những ngày cuối tuần, lại ra quê, tôi thường
ghé nhà bác ngủ lại. Một là cho an toàn vì quê tôi là vùng xôi đậu, ban ngày
Quốc gia, ban đêm Cọng sãn. Hai là để tránh gặp mấy ông cán bộ hay du kích,
phần lớn là người trong làng xã thoát ly lên rừng, về tổ chức học tập chính
trị, mà thỉnh thoảng họ lại tổ chức ngay tại nhà tôi, nhất là sau ngày anh
Phương tôi gia nhập lực lượng Cảnh sát Bến Hải. Một buổi tối, tôi
nói với anh Thiệt, con trai đầu cuả bác, nhỏ hơn tôi hai tuổi đang học đệ
nhị trường Nguyễn Hoàng, về việc Hải quân đang mở khoa thi tuyển vào học khoá
sĩ quan mà tôi cùng với Mãn đã nộp đơn thi. Bác ngồi bên nghe được và đã phán
một câu làm tôi đau lòng không ít:
- Sĩ quan Hãi quân thì ngon
rồi nhưng mần chi mà mi thi đậu.
Tôi không trả lời bác nhưng trong
lòng thì ấm ức vì bị chạm tự ái. Một sinh viên đang theo học lớp MGP, lớp được
xem là khó nhất dành cho sinh viên năm thứ nhất, muà thi năm ngoái lại vừa đậu
Tú tài 2 ban Toán hạng Bình thứ mà lại bị xem thường như vậy thì còn gì đau cho
bằng. Tuy nhiên cũng từ câu chê bai đó mà hình thành trong tôi hình ảnh
một ông sĩ quan hải quân tuy mơ hồ nhưng cao xa khó với tới. Mơ hồ vì lần độc
nhất mà tôi biết về cái quân chủng này khi tôi đang học lớp đệ thất. Cũng tại
nhà bác Chơn nhưng hồi đó còn thanh bình nên tuy dạy ngoài thị xã, bác lại
sống trong quê, nhà nằm trên đường quốc lộ I cách thị xã khỏang gần 3 cây
số. Một hôm một ông lính còn trẻ mặc toàn đồ trắng đang nói chuyện với bác khi
cậu bé hơn 13 tuổi là tôi trên đường đi học về sớm ghé vào nhà bác để tìm sách
báo cũ đọc và nhất là truyện Bàn Tay Máu cuả Phi Long đăng trên báo Sài Gòn Mới
mà bác vẫn đặt mua hàng ngày. Tôi len lén dòm và thực sự ngưỡng mộ cái màu
trắng trinh nguyên trên thân hình của một người lính trẻ, nhưng vốn nhút nhát,
tôi nhẹ nhàng đi xuống nhà dưới kiếm tờ báo mà bác đọc xong thường để trên bàn
ăn. Tuy cầm tờ báo mà mắt tôi vẫn lắng tai nghe và đôi khi ngẩng lên dòm lén
qua khe cửa cái con người có sức quyến rũ với bộ áo quần trắng toát đó.
Ông khách đi rồi anh Thiệt mới cho biết đó là một anh lính hải quân, con người
bạn của bác vô thăm. Sau này tôi được biết thêm, đó chính là ông Lý
Thăng, khóa 7 sĩ quan hải quân, con ông trợ Sung người làng Trung Đơn gần quận
Hải lăng quê tôi. Tuy nhiên, hình ảnh đẹp đó rồi cũng qua đi theo năm tháng
cùng sự trưởng thành của chính mình nhưng tiềm ẩn sâu trong tâm thức là một
chút hoài vọng thầm kín khó tỏ bày. Hôm nay, mỗi bước chân của chúng tôi trên
đường Độc lập của thành phố Đà Nẵng này là một bước tiến gần đến mộng ước thủa
ban sơ đó.
Trong thời gian hơn 10 ngày trình
diện tại bộ chỉ huy Hải quân vùng 1 mà phần lớn là để được xe GMC chở qua các
trung tâm y tế hay bệnh viện quân y Duy Tân khám sức khỏe, thì ngoại trừ
một anh người Bắc là người nhà của Trung úy Thiệt, trưởng phòng tổng quản trị,
là có thể ở lại đâu đó bên Tiên Sa, 10 anh em chúng tôi, trong đó có một người
đậu dự khuyết, phải tự túc việc ăn ở. Tôi thì không có ai quen biết ở cái thành
phố đầy lính tráng với tiếng gầm rú của những chiếc phi cơ
phản lực cất và hạ cánh ở phi trường quân sự gần đó làm những nguời mới
đến như bọn tôi phải lên ruột khó ngủ. Vì vậy, Mãn đã rủ tôi đến cùng tạm trú
tại nhà anh Minh, anh ruột Mãn, một quân nhân hiện đang phục vụ tại một đơn vị
an ninh thiết lộ. Sáng nào hai chúng tôi cũng đi bộ xuống bến Bạch Đằng trước 7
giờ rưởi, cùng với các anh bạn khác tập trung ở một trạm tiếp liên Hải
quân, chờ đúng giờ xuống tàu há mồm LCVP nho nhỏ chở qua sông Hàn để cập cầu
cảng Tiên Sa, mà khi vừa bước chân rời khỏi tàu là vào ngay câu lạc bộ sĩ quan
hải quân thông thống bốn bề với gió lộng từ mặt sông và từ cửa biển thổi vào.
Cái câu lạc bộ sĩ quan Hải quân của
vùng 1 duyên hải này cũng là nơi tổ chức cuộc thi tuyển cho khoảng hơn 50 thanh
niên trẻ của mấy tỉnh địa đầu giới tuyến chúng tôi trong vòng hai ngày. Nhớ
ngày đầu, khi tất cả đã ngồi vào bàn và đang nói chuyện chờ đợi thì ông Trung
úy Thiệt tay cầm hồ sơ dắt theo một anh nói giọng Bắc, tuy còn trẻ nhưng dáng
dấp rất chững chạc. Người cao, nước da hơi đen, tóc chải ra sau láng mượt
làm lộ cái vầng trán cao và rộng. Ăn mặc chải chuốt, áo trắng bóng láng bỏ
trong quần Tây, đi giày đế cao trên nền xi măng nghe cộp cộp. Trông anh
có vẽ con nhà giàu có sang trọng khác hẵn với mọi người ăn mặc xuề xòa trong
phòng thi. Kỷ luật phòng thi cũng dễ dãi nên có một vài sĩ quan hải quân mặc đồ
kaki vàng nhạt đi đi lại lại coi bài của thí sinh, không biết có chỉ bảo
gì không, và cũng có người ghé tới dòm bài của anh ta. Sau mỗi buổi thi,
chúng tôi mua đồ ăn tại câu lạc bộ nhưng anh ta đi vào phía trong, khu phòng
làm việc của bộ chỉ huy.
Sau khi có kết quả cuộc thi toàn
quốc, ở trung tâm Đà Nẵng có 10 người trúng tuyển và anh ta là một trong số đó.
Trong thời gian tập trung tại câu lạc bộ để làm thủ tục giấy tờ và sức khỏe,
anh luôn im lặng đi kèm cặp bên cạnh ông Trung úy Thiệt, không bao
giờ nói chuyện với chúng tôi dù đã làm việc gần gũi nhau trong hơn 10
ngày. Những chuyện đó đã làm mất cảm tình của chúng tôi, nếu không muốn
nói là anh bị ghét bỏ. Tâm lý ghét bỏ những người thuộc con ông cháu cha dường
như đã ăn sâu trong xã hội VN rất lâu, nhất là anh ta không những sống xa cách
với đám đông bạn bè mà còn có vẽ kiêu kỳ nữa. Ngay cả khi lên GMC đi Đà Nẵng để
khám sức khỏe, anh ta cũng được ngồi phía trước với tài xế. Thái độ và
cách ứng xử này giải thích vì sao chúng tôi cảm thấy vui khi nghe tin anh bị
lao phổi, và nhân đó cả nhóm đã cùng nhau dẫn theo anh Hòa đậu dự
khuyết lên văn phòng của Trung úy Thiệt để khiếu nại, vì chúng tôi sợ bị
lây bệnh lao của anh khi đi làm việc chung đồng thời yêu cầu loại anh ta ra
khỏi dánh sách trúng tuyển và thay vào đó là anh Hòa. Nhưng yêu cầu đó đã không
được đáp ứng làm cho chúng tôi thất vọng. Cho đến chiều hôm trước khi đi, Trung
úy Thiệt đã đọc danh sách những người chính thức nhập ngủ, anh người Bắc bà con
của ông bị loại vì lý do sức khỏe, còn anh Hòa thì được báo cho biết là về nhà
chờ gọi sau, nếu cần.
*
Trời đã sáng hẳn, mặt trời từ đàng
đông nhô lên khỏi dãy núi Sơn Chà để tỏa ánh nắng xuống mặt nước sông Hàn
sáng lung linh. Dù vậy, Cổ Viện Chàm nằm cuối đường Độc Lập chỉ hơn hai
trăm mét đàng trước lẩn khuất sau rặng cây cổ thụ um tùm mà màn sương mai che
phủ vẫn chưa bị xua đi hết nên nó còn mang đầy vẽ huyền bí và mờ ảo như từ cỏi
quá khứ xa xăm nào. Như một quán tính, tôi và Mãn vội vàng rẻ trái, qua đường
Bạch Đằng đi một đoạn là đến cầu tàu mà hầu hết đã xuống tàu, đứng
ngồi hỗn độn. Ngoài đám bạn bè "sinh viên sĩ quan" chúng tôi đã quen
nhau trong mười mấy ngày và năm ba chị công chức quốc phòng - mà những tà
áo dài nhiều màu sắc tung bay trong gió sớm hay trong chiều tà đã phần nào tô
điểm thêm cho cuộc đời của những người thủy thủ vốn là những kẻ lãng tử xa nhà
- thì những khuôn mặt thủy thủ mang áo xanh nhạt quần jean ống
loe và đội chiếc mũ lật ngược trông rất ngộ nghĩnh nhưng làm cho tác
phong của họ không giống với những người lính bộ binh lăn lộn trên chiến
trường. Họ có vẽ thư sinh, tà tà và yếu đuối. Nhìn vào phục sức với cái quần
rộng thùng thình làm dáng đi có vẽ lệt bệt đó, tôi nhớ lại câu trả lời của bạn
Việt với trung tá Nguyễn văn Thông - chỉ huy trưởng vùng 1 duyên hải - ở buổi
viếng thăm của ông với các thí sinh vào ngày thi đầu tiên khi ông hỏi, tại sao
các anh gia nhập Hải quân: - Thưa trung tá, vì lính Hải quân ít chết. Câu trả
lời của Việt làm cả phòng cười ồ mà ông trung tá cũng phải cười theo. Vậy mà
cái anh bạn Việt nhỏ con vì sợ chết nên đi Hải quân đó sau này lại là hạm
trưởng của một chiếc cao tốc lái tàu chở người nhái ra Bắc như một cảm tử
quân!!!
Trên chiếc HQ 611 do trung úy hạm
trưởng Trần quang Thiệu chỉ huy đưa chúng tôi vào Nha Trang, chín thằng
chúng tôi như một đám trẻ con vui đùa, chọc phá nhau. Ra đi mà không ai có vẽ
lưu luyến quê nhà, không ai trầm ngâm mơ về dĩ vãng. Dường như cuộc sống mới
của một thủy thủ trên hành trình đi tìm đại dương đã như một hấp lực lôi cuốn
tuổi trẻ về với những ước mơ của riêng mình, bỏ lại quá khứ nhàm chán của cuộc
sống không lý tưởng, không ngày mai. Vui mừng đón làn gió biển lồng lộng thổi
từ xa khơi đã kích thích ba anh Bằng, Hà, và Chư yêu cầu ông cụ non Bang vất
cái mũ dạ màu xám cũ kỹ mà Bang đang đội trên đầu. Bang chỉ mỉm cười không nói
nhưng cuối cùng rồi cả ba chàng cũng đè được Bang để giật và quăng
cái mũ quý hóa đó xuống biển dưới những tràng cười khoái trá của số người
còn lại. Tôi không hiểu cái mũ có ý nghĩa gì với Bang nhưng có lẽ nó đã
đi với Bang từ lâu lắm. Khuôn mặt xương xương mạnh bạo và đầy nam tính của Bang
đã gây cho tôi sự chú ý và khó quên từ khi tôi vô Huế thi tú Tài 1 và cả tú tài
2 mà Bang và tôi ngồi chung một phòng, và sau đó lại cùng ngồi chung với
Mãn và tôi trong lớp MGP của trường đại học khoa học Huế. Ngoài chiếc mũ
dạ cũ màu xám đó, Bang còn mang đôi guốc gổ, mặc bộ đồ kaki vàng cũng cũ rích,
đạp chiếc xe đạp cao không biết đã từng sơn màu gì. Chiếc xe còn không đèn,
không còi, không thắng, không dè chắn bùn và không cả tấm che dây xích! Những
gì còn lại đủ để Bang đạp xe đi học hàng ngày là được!
Chiếc HQ 611 thả chúng tôi ở Cầu Đá,
rồi chiếc dodge nhà binh chở vô trường. Một vài đàn anh khóa 17 đến đón chúng
tôi và đưa vào các phòng ngủ đã được chỉ định. Cùng với 6 chàng từ trung tâm
Nha Trang, chúng tôi được phát một bộ áo quần trellis, mũ sắt và giày saut.
Khoảng 1 tuần chờ đợi nhóm sinh viên đã trúng tuyển từ hai trung tâm Sài Gòn và
Cần Thơ ra Nha Trang để cùng làm lễ nhập trường, mõi ngày 15 anh em chúng tôi
phải đi lặt cỏ giữa bãi cát của sân trường. Còn buổi trưa hay buổi tối
thì các sinh viên đàn anh khóa 17 thường vào các phòng nói chuyện, chọc
ghẹo hay phạt vài cái hít đất theo hình thức bước đầu của trò chơi huấn nhục.
Tuy nhiên tôi cũng không lo lắng lắm và chỉ mỉm cười cho là trò đùa
vui khi họ đọc cho nghe mấy câu thơ có vẽ cay đắng về cuộc đời thủy thủ:
Ôi biển cả giờ đây ta mới biết
Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta!
Có người còn lấy mấy câu thơ
của Chu Mạnh Trinh ra nhại để dọa nạt:
Bầu trời cảnh Chụt!
Thú hải quân ao ước bấy lâu nay
Kìa lăn lăn, lóc lóc, quay quay
Đệ nhất rách hỏi rằng đây có phải...
Một buổi chiều, chúng tôi được lệnh
tập họp tại sân cờ của trường để cùng với 85 anh em khác từ Sài Gòn ra làm
thành một đại đội đứng nghiêm trang nghe sinh viên đại đội trưởng khóa đàn anh
cao to, đẹp trai với khuôn mặt cương nghị và rất đàn ông Phạm trọng Thu đọc
diễn văn chào mừng mà xung quanh là các sinh viên đàn anh khác đang săm soi dò
xét và hò hét phụ họa với từng lời kêu gọi:
- Các sinh viên khóa 18 hãy nghe đây
( Nghe đây, nghe đây...)
- Trước mặt các anh là núi non hùng
vĩ,
- Sau lưng các anh là biển cả mênh
mông.
- Kể từ đây, số phận các anh gắn
liền với hải nghiệp, lấy chiến hạm làm nhà, lấy trăng sao làm bạn và lấy màu
xanh nước biển làm màu mắt người yêu...
Đào Dân
