Bạn Vàng - Hoàng Long Hải
Bạn vàng chơi
với bạn vàng
Không tiền mua thuốc, lượm tàn hút chơi! Ca dao
Hiếu lắng nghe tiếng còi tàu từ sân ga vẳng lại, tiếng đứt quãng, không dài như khi tàu sắp rời ga hay sắp qua Cầu Ga. Có lẽ tàu đang “mơ-nê”, (1) chờ chuyến tàu sáng sớm mai, từ Đông Hà vào, ráp vào đuôi để đi Huế. Cái kinh nghiệm đi chơi lang thang những năm học trung học ở cái thành phố bé nhỏ này cho Hiếu biết vậy.
Kim đi giỗ
ở nhà bà ngoại, phải tới 10 giờ đêm mới về, khiến Hiếu chờ. Ít ra cũng phải hai
giờ đồng hồ nữa. Muốn gặp Kim, hồi chiều, khi xuống sân ga, Hiếu vội vã về nhà
Kim, mong gặp cô ta sớm, để còn về Đông Hà thăm mẹ. Hiếu tính toán giờ giấc thật
kỹ, thế mà cũng trật. Thăm Kim, kể cho Kim nghe vài chuyện về Đăng, chồng của
Kim, trước khi Đăng tử trận, trao lại cho Kim cái đồng hồ Titanum, cái đồng hồ
kỷ niệm, Kim mua bằng tháng lương đầu tiên của cô, tặng cho Đăng, trước khi hai
người kết hôn, theo lời dặn của Đăng cùng với ước nguyện của Đăng trong việc thủy
táng, rồi Hiếu sẽ về Đông Hà thăm mẹ, trở lại Huế cho kịp chuyến tàu suốt
Saigon, khởi hành lúc 5 giờ. Tới Huế, Hiếu ra phi trường Phú Bài kịp trở về đơn
vị đang hành quân.
Cuộc đời
nhà binh, những giờ phép bao giờ cũng ngắn ngủi, eo hẹp, làm người lính phải tất
bật.
Việc thăm Kim chắc phải trễ, hơn một tiếng đồng hồ mới xong chuyện trò, Hiếu phải tìm cách làm thế nào để ra Đông Hà, thăm mẹ ít giờ trước khi trời sáng rồi lên ga. Ga cuối cùng của một đường tàu đi xa ngút ngàn về phương nam. Lạ thật, cái ga xe lửa nhỏ bé cuối một đường tàu chẳng có gì đặc biệt, vậy mà bao giờ nó cũng để lại những ấn tượng buồn bã sâu sắc về những ly biệt cho Hiếu và bạn bè.
Vậy là
coi như Hiếu sẽ có một đêm không ngủ. Mất ngủ, không cần thiết, Hiếu đã quen với
những đêm không ngủ, đêm chờ giặc ngoài chiến trường.
Khi thăm
Kim xong, Hiếu sẽ ra Đông Hà bằng cách nào? Ít ra, lúc ấy cũng đã quá nửa đêm.
Phải chi còn vài thằng bạn cũ, đánh thức nó dậy, kiếm một chiếc xe gắn máy,
cùng “dông” ra Đông Hà. Tình hình bấy giờ an ninh, khi lực lượng quân sự Mỹ còn
đóng ở Ái Tử.
Nhưng bạn
bè của Hiếu ở thị xã này chẳng còn ai. Bọn nó, cũng như chàng và Đăng vậy, nhập
ngủ hết rồi. Được chục anh còn đi học, lên đại học, đi xa, chẳng anh nào ở lại
đây mà nhờ cậy. Có lẽ gặp Kim xong, Hiếu sẽ lên cầu Ga, đón đường một chiếc xe
nhà binh nào đấy, Việt hay Mỹ, quá giang ra Đông Hà. Nếu xe chỉ đi tới Ái Tử,
không tới được Đông Hà thì Hiếu cuốc bộ ra Lai Phước, bên kia căn cứ Ái Tử. Hiếu
có người cậu đang dạy học ở đó, nhờ cậu lấy xe gắn máy đưa ra Đông Hà, chỉ cách
có mấy cây số.
Vậy là Hiếu
về nhà sau nửa đêm, đánh thức mẹ dậy để thăm mẹ. Mẹ Hiếu sẽ vui mừng, mắng Hiếu
một vài câu vu vơ, kiểu mắng yêu vậy mà. Mẹ sẽ lục đục nấu một nồi xôi, nướng
vài khúc lạp xưởng, để Hiếu ăn cho “chắc bụng”, khỏi “bị gió máy”, theo phong tục
quê mùa ở quê chàng, như ngày trước, khi Hiếu còn đi học.
Đăng, chồng
của Kim, bạn của Hiếu, tử trận cách đây hai tháng, khi Đăng và Hiếu, tham gia một
trận đánh khá căng thẳng ở Kontum. Núi rừng
mù mịt, tin tình báo không nắm chắc. Cứ tưởng tiểu đoàn của Đăng và Hiếu sẽ đụng
với một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập, ai ngờ lại là một sư đoàn, sư
đoàn 10.
Bộ tư lệnh
chiến trường tăng cường một tiểu đoàn Biệt Động Quân nữa. Hai bên cầm chân nhau
đã hai ngày. Thế rồi hôm ấy địch tăng cường pháo mãnh liệt, nhất là phía đại đội
của Đăng, bên kia đồi, cách nhau bằng một cái khe cạn, tre, mây, cây lá rậm rạp.
Trước khi
bị địch pháo kích, Đăng gọi cho Hiếu:
-“Hiếu
giang, Đăng xương gọi.”
Hiếu giang và Đăng xương là danh hiệu truyền tin của hai
người. Hiếu sinh trưởng ở Đông Hà, chỗ có sông Đông Hà, tên chữ là Hiếu Giang
chảy qua, nên danh hiệu truyền tin là tên con sông ở quê anh. Đăng, sinh trưởng
ở thị xã Quảng Trị, xưa, trong lịch sử, thuộc huyện Đăng Xương. Đăng chọn cái
danh hiệu ấy.
Đăng nói
qua máy truyền tin:
-“Nhớ mẹ
không mày?”
-“Không
nhớ mẹ thì nhớ ai! Còn mẹ để mà nhớ là còn may.” Nói tới đó, bỗng Hiếu khựng lại. Anh chợt nhớ
ra Đăng mồ côi mẹ từ nhỏ. Anh đánh lãng ra chuyện khác:
-“Mày có
nhận được thư Kim không?”
-“Nhận đều.
Chắc Kim trông “moa” lắm. Kỳ này mày về nhớ ghé thăm dùm tao.”
Hiếu thấy
có cái gì đó hơi kỳ ở câu nói của Đăng. Tại sao Đăng không nghĩ là anh ta sẽ về
mà lại bảo “mày về”. Hiếu nói:
“Trận này
xong, mày xin đại bàng về đi. Về thăm vợ một chuyến.”
Hiếu chỉ
nghe tiếng Đăng thở dài ở đầu máy.
Sau khi
Đăng chết rồi, Hiếu nhớ lại câu chuyện hai người nói với nhau hôm ấy. “Điểu chi
tương tử, kỳ minh giả ai. Nhân chi tương tử, kỳ ngôn giả thiện.” - Con chim trước
khi chết, tiếng kêu bi thương, Con người trước khi chết, nói lời nói thiện - Thật
ra, trước khi chết, Đăng không nói một lời nào với Hiếu. Cái không nói, nhiều
khi lại là nói rất nhiều, là những tâm sự, là nỗi nhớ nhung, tình nghĩa vợ chồng
và quê hương... Tất cả gom lại trong một
tiếng thở dài của Đăng trước khi Đăng “cúp” máy.
Ngay chiều
hôm ấy, khi địch đang pháo kích dữ dội bên phía của Đăng, Hiếu nghe tiếng máy gọi:
-“Hiếu
giang đây Phẩm chất"
Hiếu hơi ngạc nhiên và bỗng đâm lo, như có cái gì đó không
may. Sao Đăng không gọi cho Hiếu mà lại là ông thượng sĩ thường vụ đại đội, ông
Chất.
Thượng sĩ
Chất nói ngay, giọng hốt hoảng:
-“Đích
thân của tui bị pháo!"
-“Nặng
không?” Hiếu hỏi.
-“Nặng lắm”.
Thượng sĩ Chất trả lời.
-“Tui qua
ngay”. Hiếu nói.
-“Khoan,
để tui cho mấy đứa xuống đề phòng dưới ghe.
Hôm qua, có mấy “thằng cùi” (2) chém dzè xuống đó. Tui gọi lại Hiếu
giang.”
-“Đại đội
phó đâu? Hiếu hỏi.
-“Ông
đang phản công phía hông. Tụi nó đang lên”.
Hiếu nghĩ phải sang với bạn, nhất là khi biết Đăng bị nặng.
“Sống chết có nhau” mà, nhất là ở chiến trường.
Hiếu giao
đại đội cho đại đội phó rồi cùng “tà-lọt” bươn bả xuống suối. Chẳng có “thằng
cùi” nào đón đường Hiếu. Bọn chúng sợ, nằm im hay tối hôm qua đã trốn hết rồi.
Khi Hiếu tới chỗ, Đăng đang nằm trên tấm poncho, máu ướt hết vạt áo ngoài, mặc
dù y tá đã băng vết thương. Đăng không nói được nhưng còn tỉnh. Có tiếng động
cơ trực thăng phành phạch. Hiếu gọi cho Tiểu Đoàn trưởng nói: “Đại bàng, tui muốn
đưa Đăng về.”
Đại bàng
hốt hoảng:
-“Ở phía
đó, không có Đăng thì còn ông. Ông đi luôn, hở sườn, ai đỡ đòn cho tiểu đoàn?”
-“Nhưng
Đăng là bạn…”
Tiểu Đoàn trưởng nói ngay:
-“Tôi biết.
Nhưng phía đó không có ông, nguy hiểm cho ba trăm lính của tôi. Tình cảm thì
tôi xin ông ở lại, không thì tôi ra lệnh cho ông. Ông phải bảo vệ tiểu đoàn cho
tôi”.
Nghĩ tới
đơn vị, Hiếu không theo mấy người lính khiêng Đăng ra trực thăng. Đăng chỉ thều
thào được một tiếng nhỏ: “Về…”. Hiếu gật
đầu… nghĩ rằng đó là lời trối, dặn Hiếu phải về thăm Kim, kể lại những giây
phút cuối cùng của Đăng như hai người đã từng chuyện trò, dặn dò.
Khi trực
thăng bốc cao, thấy binh nhì Tất cũng đứng nhìn theo trực thăng như chàng, Hiếu
hỏi:
-“Sao mày
không về với ông thầy?”
-“Hôm qua, bỗng nhiên ông giận em. Ổng
nói em xui xẻo, em tự ái. Trước khi chết, ông đâm ra khó tánh. Ổng linh lắm
trung úy à.”
Thấy trên
tay Tất cầm cái đồng hồ của Đăng, Hiếu hỏi:
-“Mày lấy
đồng hồ của ông thầy?”
-“Lấy
đâu! Ông đưa em giữ, nói đùa “Tao cho mày.”
-“Sao mày
biết nói đùa?” Hiếu hỏi.
-“Em biết
đồng hồ này của cô mua biếu ông thầy. Nhưng ông thầy chết rồi, em cũng bán
thôi.” Tất nói.
-“Mày bán
để làm gì?” Hiếu hỏi.
-“Nhậu
chơi. Nhậu mà nhớ ông thầy chớ!”
Hiếu nói:
“Mày đưa đây tao. Muốn nhậu, hành quân về, tao cho mày một ngàn đi nhậu”. Hiếu
muốn đem cái đồng hồ về trả lại cho Kim.
Đời lính
buồn cười thật. Nhậu để nhớ ông thầy. Cũng lắm đứa vừa uống rượu vừa khóc cho bạn
đã chết. Rượu làm cho người ta quên được thật sao, hay uống rượu là để khóc cho
người mà cũng để khóc trước cho mình? “Ngày mai ra trận ta còn sống, Về ghé
sông Mao phá phách chơi.” Phá phách? Có phải phá phách thật? Không! Phá phách
chơi thôi, là biểu lộ một sự phẫn nộ trước con đường chông gai, đầy hiểm nguy,
không xa cái chết bao nhiêu nhưng chẳng có lối thoát nào.
Trước khi vào “trận”, dù có học như chàng
hay Đăng, hoặc học hành ít hơn, người ta nghĩ đến bao nhiêu cái hay, cái đẹp đã
thu nhận dưới mái trường. Đã “Thất phu hữu trách” thì người ta không thể hèn
nhát. Và còn bao nhiêu cái đẹp khác nữa. Không là “áo chàng đỏ tựa ráng pha”
thì cái áo trận ngày nay không làm cho người thanh niên cảm thấy mình hào hùng
hơn hay sao? Vậy nhưng khi đối diện với cái chết, người đời nay cũng bi quan
như người xưa vậy: “Kỷ kiến hữu nhân hồi.” Người xưa còn say rượu nằm ngoài sa
trường “ôm yên gối trống” thì ngày nay “đốt tiền mua vội một ngày vui” với gái
điếm, thế vẫn còn hiền lắm.
Hiếu đi dọc
theo con đường từ cửa thành cổ ra bờ sông, nơi có một cái bến nước của bọn học
trò như Hiếu, khi anh còn học ở đây. Hiếu
ngồi dựa lưng vào một gốc dương liễu già, chờ cơn gió mát từ ngoài sông thổi lại. Hình như có mấy người, có lẽ là lính, đang tắm
ở bến sông.Những cái đầu nhấp nhô và tiếng đập nước của người bơi ra xa rồi lại
bơi vào.
Bến sông
này và con sông này, với Hiếu, nó có những sự “quấn quít” kỳ lạ. Nước nhà độc lập đã mấy chục năm mà người ta
không thể dựng lại một cái nhà máy nước như thời còn Tây đô hộ. Có nhà tự đào lấy
giếng nước mà dùng. Phần đông thì “gạo chợ nước sông.” Nhà Hiếu trọ không có giếng,
cho nên những ngày nắng, cái bến sông nầy là nơi Hiếu “gìn giữ vệ sinh.” Không
phải Hiếu chỉ tắm mà đây còn là nơi bơi lội, bơi thi với bạn bè, nơi đùa giỡn với
bạn bè. Kỷ niệm ấy nói không hết được. Ngoài những ngày mưa, nhất là những ngày
“mưa phùn gió bấc” lạnh như “cắt da cắt thịt”, hễ có nắng nóng là có Hiếu tắm
giặt ở bến sông này. Ngay cả những ngày nắng đầu hay giữa thu, trời đang nắng
mà có nước sỉa (3), Hiếu cũng không sợ nước, vẫn tắm ở đây. Dĩ nhiên, ngày lụt,
là khi nước lũ dâng cao, tưởng như nước có thể tràn ra khỏi bờ sông, những đám
rều rều, củi, trôi cuồn cuộn giữa dòng thì Hiếu sợ thật, chẳng thể tắm bao giờ.
Thế rồi
khi học Việt Văn cuối cấp 2, đầu cấp 3, Hiếu gặp các giáo sư văn chương, tưởng
như họ mở ra một chân trời mới văn học cho trí óc Hiếu, với thi văn thời tiền
chiến, với bốn bản đàn của cô Kiều, với “hình ảnh kẻ chinh phu, trong lòng người
cô phụ”, với Chinh Phụ Ngâm. Nó đưa Hiếu về một thời kỳ xa nữa trong văn học, về
một thế giới đầy tiếng lẻng xẻng gươm đao, ở một nơi xa ngút ngàn nào đó tận xứ
sở của người Hồi Đột, với Thái Sơn, Tần Lĩnh, với Sơn Hải Quan, với Lũng Tây, với
Tương giang mà Hiếu không thể ngờ trong cuộc đời này, trong thế giới này, lại
có những khung cảnh huyền ảo, những hình ảnh trong đời thật mà mơ hồ như tiên cảnh
của Hoàng Hạc Lâu, những chiến trận hùng vĩ mà đau xót, dữ dội như Xích Bích,
Đương Dương Trường Bản…
Nhiều khi
bất chợt, Hiếu tưởng như Tương Giang không xa chừng ấy. Nó ở chính ngay con
sông nầy của Hiếu vậy. “Tương giang đầu” ở ngay phía Trường Sơn, là Động Ông
Đô, đèo Lao Bảo, sông Dakrong… nơi có những ngọn núi xanh nhấp nhô, “ngọn nọ ngọn
kia không dứt” như làng Từ Lâm trong “Người Quay Tơ” của Nhất Linh. “Tương
giang vĩ” là ngay chỗ hai con sông Hiếu giang và Thạch Hãn gặp nhau, là ngã ba
làng Gia Độ, nơi hai bờ xa nhau đến nỗi tiếng gọi đò không tới. Ai là “Quân” ở
“Tương giang đầu”? Ai là “Thiếp” ở “Tương giang vĩ” để ai “đồng ẩm Tương giang
thủy”. Thủy ấy là giòng nước đang chảy qua trước mặt chàng.
Hiếu rất
ngưỡng mộ cô giáo dạy Việt Văn. Cô là biểu tượng cho “gái Huế lãng mạn”. Dường
như cô dành hết trái tim cô cho văn chương, cho những tác phẩm văn chương do cô
dạy, mà những câu thơ, bài thơ, những Loan của “Đôi Bạn”, Nhung của “Lạnh
Lùng”, Thu của “Bướm Trắng” trong Tự Lực Văn Đoàn chính là tâm hồn của cô vậy.
Mặc dù
ngưỡng mộ cô giáo, Hiếu đã có lần đụng độ với cô. Khi cô giảng về bài thơ
“Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế, đến câu thơ “giang phong ngư hỏa đối sầu
miên” thì cô giải thích “giang phong” có nghĩa là hàng cây phong ở bên sông. Hiếu
không tin như vậy. Kinh nghiệm từ thời niên thiếu làm Hiếu nhớ những đêm dân
chài đốt lửa bên sông.
Mùa hạ, để
bảo vệ thuyền, người ta thường kéo thuyền lên bãi, kê chiếc thuyền lên khỏi mặt
đất, ngoài việc sửa chữa những chỗ hư hỏng, ngư dân đốt đuốc để đốt những con
hà bám phía ngoài mạn thuyền vì hà thường ăn hư gỗ. Việc thắp đuốc đốt hà phải
cẩn thận vì hà thường ăn sâu vào gỗ và đốt đi đốt lại nhiều lần. Ngọn lửa bập
bùng trong cơn gió ngoài sông thổi vào.
Dù ngọn lửa
chập chờn bên kia sông Hiếu giang, - ngang làng Điếu Ngao của Hiếu, - hay bên
kia sông Thạch Hãn, ngang thành phố Quảng Trị, - nơi Hiếu học trung học -,
trong đêm khuya, như bóng những con “ma đuốc” đuổi bắt nhau trong bóng tối, để
lại trong trí Hiếu những ấn tượng sâu sắc, khi Hiếu còn trẻ.
Chính cái
ấn tượng ấy, với lòng chân thật và ngay thẳng, Hiếu đã làm mất lòng cô giáo khi
phát biểu:
-“Thưa
cô, theo em nghĩ, “giang phong” không có nghĩa là hàng cây phong ở bên sông, mà
phong đây nghĩa là gió. Ngọn đuốc “ngư hỏa” của thuyền chài chập chờn là vì gió
thổi trên sông… Thạch Hãn.”
Cả lớp cười
ồ vì hai chữ Thạch Hãn của Hiếu.
Cô giáo
nói:
-“Trong chữ Hán, có bộ kèm theo. Nếu có bộ mộc thì đây là cây phong. Cây phong thuộc bộ mộc.”
Hiếu vẫn chưa chịu thua:
-“Theo em
nghĩ, chữ phong nầy thuộc bộ phong.” Hiếu nói liều như thế, chứ thật ra, Hiếu
chưa từng học chữ Nho nên Hiếu không biết có bộ phong hay không?
“Để cô
xem lại.”
Có lẽ cô
cũng không rành chữ Nho nên đó là kế hoãn binh.
Kể từ đó,
cô thường để ý đến Hiếu. Có lần gặp cô đi với chồng mới cưới ở rạp Ciné Tân
Tân, Huế. Hiếu cũng đi xem ciné, tình nguyện mua giúp vé cho thầy cô. Hiếu mua
ba vé liền ghế nhau. Vào rạp, cô ngồi giữa, ông chồng cô ngồi bên kia, Hiếu ngồi
phía bên này. Lợi dụng bóng tối trong rạp, cô giáo nắm tay Hiếu, bóp những mấy
lần làm Hiếu bàng hoàng, sững sờ. Hiếu có cái cảm tưởng mơ hồ như đang “trôi”
trong cuốn tiểu thuyết “Vòng Tay Học Trò.”
Sau cuộc
gặp gỡ kỳ lạ đó, đôi khi Hiếu thấy lòng mình bâng khuâng. Không ít lần, khi trời
đã tối hẳn, một mình Hiếu lang thang bên bờ sông Thạch Hãn, con đường đi dạo của
đám học trò nam nữ.
Có chiếc
thuyền đánh cá bên sông. Sau khi giăng lưới xong, người thuyền chài chèo thuyền
chạy vòng quanh, vừa chèo vừa gõ vào mạn thuyền, tạo ra những âm thanh mạnh và
đều, để đuổi cá chạy vào lưới. Chiếc thuyền nhỏ có cắm đuốc, ngọn đuốc chập chờn
trong gió như muốn tắt.
Hình ảnh đó làm Hiếu nhớ tới câu chuyện Trương Chi mà cô giáo dạy Việt Văn đã kể ở lớp. Có thể nào Hiếu là một Trương Chi. Hiếu đâu có tiếng hát hay hoặc tiếng sáo tuyệt vời của Trương Chi, làm cho Mỵ Nương, con quan Tể Tướng phải yêu mến đến độ mắc bệnh tương tư. Nhưng Hiếu vẫn muốn mình là một Trương Chi của thời đại, một Trương Chi không có Mỵ Nương bởi vì thành phố này không có quan Tể Tướng, không có lâu đài nào ở bên sông, cũng không có cửa sổ bán nguyệt, để mỗi chiều Mỵ Nương đứng đó, nhìn xuống dòng sông dài, tìm hình bóng anh thuyền chài đang neo thuyền bên kia sông.
Cuối
cùng, Trương Chi chết trong cảnh cô đơn, nghèo khổ. Hiếu tự cho mình có thể là
một người hát hay, thổi sáo hay như Trương Chi, nhưng không thể chết như vậy vì
Hiếu không bao giờ thất tình, bởi vì Hiếu không tìm thấy Mỵ Nương, và ngay cả
cô giáo Việt Văn của Hiếu, dù cô có giảng bài hay như thế nào, dù cô có lãng mạn
như thế nào, lãng mạn hơn cả việc Mỵ Nương mê tiếng hát của Trương Chi, trái
tim Hiếu không bao giờ biến thành đá, và cũng không thể tan hòa với giọt nước mắt
của Mỵ Nương mà biến thành nước.
Trương
Chi Mỵ Nương chết rồi, đời chỉ còn lại một câu chuyện tình lãng mạn và chung thủy.
Có lẽ câu chuyện Trương Chi Mỵ Nương là câu chuyện tình lãng mạn nhất, chung thủy
nhất, và dĩ nhiên cũng là bi thảm nhất, kỳ lạ nhất trong văn học, trong cả văn
chương bình dân cũng như văn chương bác học, và cả trong văn học thế giới. Có lẽ
thế giới không có câu chuyện tình nào chung tình với người tình bằng trái tim
hóa đá của anh thuyền chài, và cũng không có giọt nước mắt chung thủy nào có đủ
mãnh lực làm cho đá tan thành nước theo giòng nước mắt của Mỵ Nương.
Hiếu yêu
thích văn chương lãng mạn, yêu những mối tình chung thủy. Hiếu cũng biết chắc,
văn chương lãng mạn thì nhiều, mà chung thủy thì chỉ là điều trong trí tưởng. Đời
làm gì có chung thủy! Đường Minh Hoàng, Dương Quý Phi yêu nhau biết bao nhiêu.
Có biết bao nhiêu thơ văn viết về mối tính của hai người, đến nỗi cả ngàn năm
sau, người ta vẫn còn mơ ước. “Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng, Ta yêu nàng
Dương Quý Phi” (4). Có mối tình nào say đắm như Châu U Vương mê nàng Bao Tự. Có
mối tình nào như Phạm Lãi với cô gái “Bên cầu dệt lụa”.
Thế rồi có mối tình nào là chung thủy?
Nếu Dương
Quý Phi chung thủy với Đường Minh Hoàng thì sao có loạn An Lộc Sơn? Nếu Bao Tự
chung thủy với Châu U Vương thì làm sao vua lại có thể chết thảm trong đám loạn
quân thua trận. Phạm Lãi chỉ có thể sống mãn đời với Tây Thi khi hai người bỏ xứ
đi sâu vào Động Đình Hồ mà người đời không biết họ đi đâu!
Đó là
ngày xưa, còn như ngày nay. Nếu có chung thủy thì làm sao có cái nắm tay trong
rạp ciné?
Văn
chương là mộng mị. Hiếu thấy rõ như vậy.
Vì cuộc sống,
người ta phải sống. Cô Kiều phải yêu Từ Hải mà quên Kim Trọng vì cô muốn thoát
ra khỏi cảnh thanh lâu, khuyên Từ Hải ra hàng cũng chỉ là để thực hiện “giấc mơ
hồi hương”. Người ta phải quên để mà sống.
Ý nghĩa của thời gian là quên. “Cái nghĩa hợp ly là thế đó, Thời gian thường đổi
nhớ ra quên.” (5) Đó là lẽ sống ở đời, là lẽ sinh tồn nếu người ta không muốn…
tự tử.
Kim, vợ của
Đăng, rồi vài ba năm sau, cô ta sẽ lấy chồng khác. Đăng sẽ bị quên lãng. Cả
ngày kỵ, ngày giỗ, biết còn ai nhớ để đốt cho Đăng một nén hương. Đó là “định
luật” tàn nhẫn của cuộc sống. Cũng may, trước khi nhắm mắt, Đăng đã không nói
câu mà những người bạn khi sắp trút hơi thở cuối cùng ở chiến trường thường nói
với bạn: “Mày hãy rán chăm sóc cô ấy…” nghĩa là thay mặt người quá cố để chăm
sóc cho người vợ trẻ góa bụa. Nghĩ tới đó, Hiếu cảm thấy nhẹ nhõm.
Cuộc chiến
này kéo dài quá lâu khiến cho mọi người chán nản. Thế hệ cha chú của Hiếu đã vì
cuộc chiến này mà hy sinh, mà qua đời. Hiếu có cảm tưởng như thanh gươm báu đời
cha đã trao lại cho đời con như “Chiếc hùng gươm danh tướng dưới tà huy” mà
trong vở kịch “Hòn Vọng Phu”, Đăng đã được chọn đóng vai người ra trận.
Hiếu,
Đăng và các bạn bè đã lên đường vì thanh gươm báu ấy. Nhưng Đăng có vợ mà chưa
có con, còn Hiếu thì không nghĩ đến chuyện lấy vợ, mặc dù mẹ Hiếu nhắc nhở nhiều
lần. Thế hệ của Hiếu có nhiều hay ít những “đứa bé đang nhìn cha chờ giặc dưới
giao thông hào” như câu hát của Duy Khánh, để tiếp nối cha nó cầm súng chờ giặc?
Hiếu thấy
nặng ở ngực, buông tiếng thở dài khi nghĩ đến thế hệ mai sau. Chúng nó sẽ tiếp
nối công cuộc của thệ hệ Hiếu hay cam chịu số phận như câu thơ của Đỗ Tấn: “Ta
sợ một ngày Cộng Sản, Về đây xé nát tâm tư. Chắn ngăn những dòng lệ nhỏ, Đời
như chết tự bao giờ".
Hiếu
không muốn sống bằng “xé nát tâm tư”. Hiếu muốn được chết trong chiến trận,
trong kiêu hùng, như Đăng vậy. Và Hiếu cũng muốn một việc như Đăng đã trăn trối:
“Đốt xác của mình đi, rồi đứng trên Cầu Ga, thả cho tro cốt trôi theo nước sông
Thạch Hãn.
Về với sông, cũng là về với quê hương, cũng là về với mẹ.
Hiếu hiểu
rất rõ Đăng. Ba của Đăng là mộng đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng từ khi Pháp
còn cai trị. Ông vào đảng để giành lại độc lập cho đất nước. Góa vợ sớm, ông ở vậy, không tục huyền, chăm
sóc nuôi dạy Đăng. Mỗi khi Đăng ham chơi hơn ham học, ông không mắng “Giá áo
túi cơm” mà ông gọi là “Sống chi cho chật đất.”
Vậy thì
chết, giành một chỗ đất, xây mồ to mả đẹp để làm gì? Có phải đó là nguồn gốc ý
nghĩ Đăng muốn thủy táng. Việc ấy, Đăng không muốn cha của anh làm mà giao cho
Kim. Ngày sau, khi trở về cố hương, nhìn dòng sông là Kim và Hiếu cũng như bè
bạn đều nhớ tới chàng.
Lại có tiếng còi tàu giục giã ở sân Ga vẳng lại.
Có lẽ gần tới 10 giờ. Hiếu đứng lên, lững thững đi về hướng nhà Kim để thực hiện
lời trối trăn của bạn.
Hoàng Long Hải
