Hai Đồng Bạc Sắn - Nguyễn Ngọc Luật
tản văn
… Mùa hè năm 1975 sau khi “tan hàng mà không cố gắng” ở một đơn vị đóng ở Sài Gòn tôi đem hai bàn tay trắng trở về quê trình diện với gia đình và chính quyền. Gia đình mà cụ thể là mẹ tôi thì rất mừng vì dù sao thì đứa con trai duy nhất cũng đã trở về, đất nước qua cơn binh lửa từ nay khỏi phải phập phồng nghe tin chiến trận từ khắp nơi loan tin hằng ngày và cũng không còn thót tim hồi hộp lo sợ có tin dữ khi thấy ngườì lạ mặt hỏi thăm nhà như mẹ tôi hay nói. Nhưng chỉ chưa tròn một tháng sum họp với gia đình tôi lại được đưa đi học tập cải tạo tại Ái Tử. Mặc dù biết chắc cái ngày này sẽ đến nhưng khi được báo tin tôi phải chuẩn bị ba ngày lương thực cùng tư trang là mẹ tôi lo sốt vó suốt đêm không ngủ được. Tôi cũng trăn trở không biết số phận mình sẽ ra sao ngày mai nên trằn trọc mãi, trên chiếc giường tre ở phía đầu kia nhà mẹ tôi cũng thao thức trăn qua trở lại, thỉnh thoảng chép miệng thở dài làm cho tôi thêm buồn. Thao thức suốt đêm gà vừa gáy sáng là mẹ con tôi đã dậy, mẹ nấu vội cho tôi nồi cơm ăn với tép kho và ngồi một bên xem tôi ăn và dặn dò đủ thứ khiến tôi nghẹn ngào cố nuốt hết chén cơm nóng cho mẹ vui lòng rồi mang cái gùi chỉ có mấy bộ quần áo và ba ngày gạo, một lon muối đậu phụng, chục viên thuốc ký ninh mẹ tôi đã năn nỉ cô y tá của trạm y tế xã để lại và một vài thứ lặt vặt. Tôi chào mẹ rồi mở cửa bước ra ngoài sân đầy bóng tối, mẹ tôi tựa cửa trông theo, tôi không dám nhìn lui nhưng biết nước mắt mẹ đang trào ra…
Trại 4 Ái Tử, nơi cải tạo những Sĩ
Quan QLVNCH cấp bậc Chuẩn Úy, Thiếu Úy sau này có thêm một số trung đội trưởng
Nghĩa Quân của Thừa Thiên, Quảng Trị được đưa đến. Tôi mới lên trại sau nên
được đưa vào khối 5. Ở khối 5 ngoài một số SQ trẻ còn lại là số anh em Trung
đội trưởng Nghĩa Quân đã lớn tuổi. Điều thần kỳ ở đây là tôi được gặp lại chú
Diệu người ở Diên Sanh. Năm 1964 tôi thi hỏng đệ thất trường Nguyễn Hoàng được
ông chú đem vào học trường Bán Công Hải Lăng và xin ở trọ nhà chú Diệu được một
năm, năm sau tôi thi đậu Đệ Thất trường Nguyễn Hoàng nên ra thị xã Quảng Trị
học. Hồi đó chú Diệu là trung đội trưởng Nghĩa Quân ở Chi Khu Hải Lăng, dưới
mắt một đứa con nít mười hai tuổi lần đầu tiên sống xa vòng tay mẹ như tôi
trông chú cũng oai vệ lắm. Gia đình chú rất thương tôi xem như con cái trong
nhà, vì gia đình nghèo nên tôi thường hay nợ tiền cơm nhưng chú thím khi nào
cũng vui vẻ không hối thúc. Chú sống tình cảm và hay quan tâm hỏi han chuyện
học hành của tôi, chú tuy tốt bụng nhưng nét mặt nghiêm và ít nói nên tôi cũng
cảm thấy chờn chờn… Từ khi ra thị xã học tôi chỉ có một vài lần vào Hải Lăng để
thăm gia đình chú, nhưng không ngờ quả đất xoay tròn, sau mười năm chú cháu gặp
lại trong một hoàn cảnh hết sức éo le!
Tôi còn nhớ ở trại cải tạo có một
câu vè mà ai cũng thuộc.
Lên đây phải nhớ cho rành
Nhất ri, nhì củi, tam rừng, tứ tranh
Nhất ri là những tấm ri sắt lót sân
bay Ái Tử nặng trên 70 kg mà trại viên phải ra cạy , hai người gánh một tấm về,
cưa ra làm nhà, làm giường ngủ, làm bàn ghế v.v…đa số trại viên là những anh
em chưa gột hết lớp vỏ học trò nên phải gánh một tấm ri nặng như thế đi bộ ngót
mười cây số là một cực hình, đi củi về để nấu ăn và đổi hàng hóa, đi rừng chặt
cây về làm nhà, đi cắt tranh về lợp nhà là những công việc hàng ngày của chúng
tôi. Mỗi tối khối trưởng lên nhận công tác về phân công lại cho anh em, toàn là
công việc nặng nhọc, chúng tôi hầu hết là chưa quen lao động nên rất sợ công
việc, nhất là khi nghe ngày mai đi rừng chặt “cột mệ” (tức là cột cái vừa to,
vừa dài, vừa nặng), là đêm đó cứ mơ màng lo sợ không ngủ được. Chú Diệu lúc đó
già cả, ốm yếu rồi nên chú làm công việc được giao một cách khó khăn, thấy chú
cũng tội nghiệp nhưng tôi lo cái thân mình chưa xong nên làm sao mà giúp chú
được!
Mùa đông năm 1976, đó là một mùa
đông khắc nghiệt nhất trong đời mà tôi đã trải qua, một mùa đông giá rét kinh
hoàng nhất từ trước đến nay, đã mấy mươi năm trôi qua nhưng có lẽ giờ đây khi
nhắc lại có nhiều người vẫn chưa quên được. Ban ngày thì phải đi làm trong cái
lạnh và gió bấc thổi rét cắt da cắt thịt, mặc dù đã trùm kín đầu nhưng anh nào
cũng chảy nước mũi lòng thòng. Để chống rét chúng tôi có sáng kiến kiếm bao gai
đựng gạo may thành cái áo ấm, anh nào khéo tay thì cắt may lại trông như cái áo
len, còn anh nào vụng về hoặc làm biếng là khoét ba lỗ để lòn đầu và hai tay
vào là xong. Thực tình mà nói cái áo ầm bằng bao gai cũng ấm ra phết , có điều
bất tiện là khi làm việc nặng dưới ánh nắng là cảm thấy ngứa ngày và xót vô
cùng. Nhưng dù sao thì nó cũng đã giúp cho anh em trại viên chống chọi với cái
rét khốc liệt khi đi lao động ngoài trời. Ban đêm về thì chúng tôi “sinh hoạt,
kiểm điểm công tác” trong ngày dưới cái bếp lửa và những điếu thuốc lào cứ
thỉnh thoảng rít lên sòng sọc nên cũng thấy ấm áp, nhưng khi lên giường ngủ là
chịu đựng cái lạnh từ trong ruột lạnh ra, cái lạnh thấu xương tủy cứ rúc rỉa
trong gan ruột cộng theo cái đói cào ruột không tài nào ngủ được.
Cái mùa đông năm đó không biết những
người ở nhà cảm nhận cái rét như thế nào ở trại cải tạo như chúng tôi thì thật
là kinh hoàng. Khi cái lạnh đã lên đỉnh điểm, ở dưới đồng bằng nghe nói cá dưới
ruộng chết trân nổi lờ đờ người ta đi bắt về ăn nhiều lắm, còn trâu bò nhiều
con chịu không nổi đã chết trân trên đồng, bà con xã viên hợp tác xã lại được
miếng thịt ăn cho qua ngày đông tháng giá nên có lẽ đa số đều buồn ngoài mặt
nhưng vui trong lòng!
Những ngày nhiệt độ xuống quá thấp
trại viên chúng tôi được ban quản giáo cho nghĩ ở nhà.
Nhưng than ôi! Mừng vì khỏi đi làm
việc đâu không thấy mà lại mang họa vào thân, chẳng qua cũng là cái nguyên nhân
“nhàn cư vi bất thiện” mà ra cả!
Số là sáng hôm đó đang ngồi hút
thuốc lào tán chuyện vặt với anh em thì chú Diệu khều tôi nói nhỏ
- Đi “cải thiện” Luật, hẹn
anh Thỉ đi nữa.
Cũng cần giải thích thêm từ “cải
thiện” được dùng trong trại cải tạo có nghĩa là kiếm thêm thức ăn ngoài
tiêu chuẩn cấp phát. Thường thì khẩu phần ăn của chúng tôi mỗi ngày được 500
gram gạo, còn thức ăn thì độc một món canh “toàn quốc”, tức là mỗi khối có một
trăm người phát cho mấy lon thịt hộp Hungari và một gói chà bông nấu với nước. Gạo
thì quá cũ nên mất chất, khi đem vò thì nổi trên mặt nước chỉ còn một ít là còn
chắc hạt, gạo nấu lên cơm nở như bông ăn với canh toàn quốc nên chúng tôi có
cảm giác đói triền miên, thế là anh em tranh thủ giờ rảnh kiếm thêm rau má, rau
tàu bay… bỏ vô nồi canh cho có xác để no thêm một chút gọi là “cải thiện”.
Chú Diệu, anh Thỉ và tôi âm thầm rời
trại đi “cải thiện”, chúng tôi mon men vào một xóm nhà dân nhổ rau má, anh Thỉ
mới nói với tôi
- Tau có hai đồng đây để đi vô nhà
ni mua hai đồng bạc sắn ăn (sắn miền Nam gọi là khoai mì).
Chúng tôi vào nhà nói với chủ nhà
mua hai đồng bạc sắn nhờ nấu luôn. Trong khi chủ nhà ra nhổ sắn ngoài vườn và
nấu trên bếp thì chúng tôi cũng ở ngoài vườn nhổ rau má không dám vào nhà, đến
khi sắn chín thì chủ nhà kêu vô ăn.
Ngồi chung quanh rổ sắn luộc bốc
khói thơm lừng có kèm dĩa muối ớt, chúng tôi vừa thổi vừa ăn “ngon như chả”!.
Nhưng mới ăn được một khúc sắn thì có bóng dáng một người mặc đồ bộ đội đi vào
nhà.
Bà chủ nhà hốt hoảng kêu lên
- Thôi chết! cán bộ trại đó mấy chú.
Tôi và chú Diệu hoảng vía trốn vào
góc xép nhà còn anh Thỉ thì giả đò xách giỏ rau má đi ra, rổ sắn được chủ nhà
đậy lại. Trong góc xép tôi nghe loáng thoáng vị cán bộ hỏi anh Thỉ cái gì đó.
Chốc lát nghe anh ta nói gì đó với chủ nhà và đến bên góc xép vén màn nhìn vào,
chúng tôi líu ríu bước ra vị cán bộ trại 4 ( lâu ngày quá tôi quên mất tên) hỏi
chúng tôi.
- Các anh ở khối nào.
- Dạ khối 5. Chú Diệu đáp
- Hai giờ chiều nay lên trình diện
tôi. Giờ thì về đi
Chúng tôi thất thểu lê đôi chân nặng
nề bước thấp bước cao trên con đường đất lầy lội trở về trại không ai nói với
ai câu nào, trong lòng bất an vì chúng tôi đã vi phạm quy định của trại là quan
hệ với dân chúng, một điều cấm kỵ ai vi phạm sẽ bị phạt nặng.
Hai giờ chiều hôm đó chúng tôi lên
trình diện với ban quản lý trại, một cán bộ cảnh vệ tên Đắng “tiếp” chúng tôi.
Trong khi chúng tôi sắp hàng ngang nghe cán bộ Đắng thuyết giáo nào là các anh
tự ý quan hệ mua bán với dân chúng như thế là vi phạm, như thế là chống lệnh,
như thế là mất quan điểm, như thế là v.v…cả mấy chục thứ “như thế” quy chụp lên
đầu chúng tôi chỉ vì 2 đồng bạc sắn! Một cán bộ hậu cần tên Búa đi ngang hỏi
cán bộ Đắng
- Ba tên quan hệ với dân mua sắn hồi
sáng đây phải không?
Cán bộ Đắng gật đầu. Tên Búa phán
một câu xanh rờn.
- Nhốt mẹ chúng nó vào nhà “gi” cho
rồi!
Cũng xin giải thích thêm, nhà “gi”
là cái nhà làm bằng những tấm ri sắt lót phi trường Ái Tử do trại viên ra cạy
mang về như đã nói ở trên, nó có bề rộng chuông vuông độ 1 mét, cao khoảng
1m40, bên trong được rào bằng những sợi kẽm gai chằng chịt dùng để giam những
ai phạm lỗi. Khi bị giam vào nhà gi người bị kỷ luật chỉ được mặc mỗi cái quần
đùi, vì khuôn khổ độc đáo của nó nên không nằm được chỉ có một thế ngồi không
dựa lưng vào tường vì đã bị giăng kẽm gai dày đặc..
Sau một hồi nghe thuyết giáo chúng
tôi được cho về làm bản tự kiểm và phải học thuộc lòng 10 điều quy định của
trại và chờ lệnh.
Tối hôm đó trong lán chúng tôi ngồi
quây quần bên bếp lửa như thường lệ chờ trưởng khối lên nhận công tác về giao,
anh em vẫn vô tư chuyện trò không hay biết gì, riêng ba chúng tôi thì cũng
chuyện trò như không có chuyện gì xảy ra nhưng trong lòng thì ngổn ngang thấp
thỏm “ngoài tươi trong héo”. Chốc lát thì khối trưởng về phổ biến lệnh
của quản giáo họp kiểm điểm ba chúng tôi vì tội vi phạm quy định của trại, tự
tiện quan hệ với dân chúng. Anh em nghe xong câu chuyện ai nấy đều ngỡ ngàng
nhưng cũng phát biểu góp ý là chúng tôi đã làm sai trái phải chịu hình thức kỷ
luật. Do thường xuyên kiểm điểm những vi phạm của anh em trong khối nên tôi
biết anh em phải nói để chứng minh lập trường quan điểm của mình thôi chứ cũng
thấy xót xa lắm!
Họp kiểm điểm xong lúc đó khoảng 9
giờ tối, bên ngoài gió bấc thổi vù vù lại thêm mưa phùn lất phất, ba chúng tôi
phải cởi trần chỉ mặc mỗi tấm quần đùi rời khỏi bếp lửa lên phòng cán bộ trại
trình diện. Mở cửa lán bước ra ngoài trời tối thui chỉ nghe tiếng gió bấc gào
thét và mưa lất phất, lạnh buốt thấu xương khiến chúng tôi run lập cập.
Cán bộ Hùng trại phó đang trùm chăn,
nghe chúng tôi gỏ cửa phòng đã dở chăn ra khỏi đầu nhìn ba chúng tôi. Trong số
ba người thì tôi trẻ nhất mới ngoài hai mươi tuổi thân thể còn có da có thịt,
còn anh Thỉ thì cũng ốm yếu còm cỏi, riêng chú Diệu là thê thảm nhất, vừa già
vừa gầy ốm hom hem đưa bộ xương cách trí ra trình diện.
Trại phó Hùng vẫn trùm kín chăn chỉ
để lộ khuôn mặt hỏi
- Ba anh vi phạm quan hệ với dân hồi
sáng đây phải không? Sao mà các anh dại thế, chính sách, quy định của trại các
anh đã được học tập. sao các anh dại thế, vi phạm quy định trại sẽ bị kỷ luật
kéo dài thời gian cải tạo các anh có biết không?
Chú Diệu thay mặt ba chúng tôi trả
lời
- Thưa cán bộ biết. Tôi thấy tôi già
rồi mà dại khi vi phạm quy định của trại.
Cán bộ Hùng thuyết giáo ba chúng tôi
thêm một hồi lâu, bài thuyết giáo cũng na ná như tên Đắng nói hồi chiều nhưng
có vẻ hay hơn, súc tích hơn và quy chụp cũng nặng nề hơn, chúng tôi đứng nghe
mà rét run lập cập. Cuối cùng thì ông ta phán .
- Thôi cho các anh về, mai làm bản
tự kiểm gởi cho ban quản giáo trại chờ xét kỷ luật.
Chúng tôi va về đêm đã khuya, anh em
trong lán đã đi ngủ, trời quá lạnh, vã lại lòng ngổn ngang trăm mối tôi trăn
trở thao thức suốt đêm không tài nào ngủ được.
Những ngày kế tiếp cả ba chúng tôi
vẫn thấp thỏm chờ nghe bản án dành cho mình, nhưng mọi việc vẫn diễn tiến bình
thường khiến nỗi lo cứ kéo dài như tội nhân không biết khi nào mới lãnh án.
Những tháng ngày nối tiếp nhau qua
đi, công việc nặng nhọc nối tiếp nhau nên tôi cũng quên chuyện hai đồng bạc
sắn. Cho đến một buổi tối tình cờ ông Thi cán bộ quản giáo của khối xuống lán
đem thuốc lào xuống cho anh em rồi ngồi nói chuyện vặt, bất chợt ông thấy chú
Diệu ngồi ho sù sụ, ông ngồi nhăn trán suy nghĩ một hồi rồi chợt buột miệng.
- Nhìn thấy anh Diệu tôi nhớ lại
cách đây mấy tháng anh Diệu cùng hai anh nữa vi phạm quy định của trại ra ngoài
dân quan hệ mua bán, theo tội trạng thì tối đó phải nhốt vào nhà “gi” nhưng
đồng chí Hùng trại phó nói tối đó trời lạnh quá mà thấy anh Diệu già nua ốm ỵếu
quá sợ chết vì chịu lạnh không nổi nên đã tha cho cả ba người, chứ nếu ba anh
đều còn trẻ như anh Luật thì nhốt một đêm cho biết mặt.
Thế là bao nhiêu thắc mắc lo lắng
mấy tháng nay đã được giải mã. Thì ra đêm đó vì thấy chú Diệu già nua ốm yếu
quá nên ông Hùng không nỡ nhốt vào nhà “gi” vì sợ chết, và tôi là người ăn theo
nên thoát nạn. Chứ giả sử cả ba người đều trai tráng khỏe mạnh như tôi thì đã
bị nhốt rồi và không khéo chịu lạnh không nổi đã chết trong đêm đó rồi cũng
nên!
Vậy là một cách vô tình chú Diệu đã
cứu tôi và anh Thỉ. Câu chuyện hai đồng bạc sắn trên trại cải tạo tôi không thể
nào quên, và người ân nhân cứu tôi một cách vô tình là chú Diệu tôi xem như quý
nhân, mặc dầu quý nhân này có vẻ không giống với quý nhân mà các ông thầy bói
và hai người đàn bà thân thiết nhất đời tôi là mẹ và vợ tôi thường quan niệm!
Năm tháng vẫn nối tiếp, sau khi ra
khỏi trại cải tạo tôi sống phiêu bạt và trở thành kẻ tha hương cầu thực cũng
không có cơ hội gặp lại quý nhân Diệu, không biết giờ đây chú ấy còn sống hay
đã ra người thiên cổ?.
Nguyễn Ngọc Luật
Nguồn: Trang Văn Chương Miền Nam
