▼

Wednesday, June 22, 2022

 
Hai Đồng Bạc Sắn - Nguyễn Ngọc Luật
tản văn


… Mùa hè năm 1975 sau khi “tan hàng mà không cố gắng” ở một đơn vị đóng ở Sài Gòn tôi đem hai bàn tay trắng trở về quê trình diện với gia đình và chính quyền. Gia đình mà cụ thể là mẹ tôi thì rất mừng vì dù sao thì đứa con trai duy nhất cũng đã trở về, đất nước qua cơn binh lửa từ nay khỏi phải phập phồng nghe tin chiến trận từ khắp nơi loan tin hằng ngày và cũng không còn thót tim hồi hộp lo sợ có tin dữ khi thấy ngườì lạ mặt hỏi thăm nhà như mẹ tôi hay nói. Nhưng chỉ chưa tròn một tháng sum họp với gia đình tôi lại được đưa đi học tập cải tạo tại Ái Tử. Mặc dù biết chắc cái ngày này sẽ đến nhưng khi được báo tin tôi phải chuẩn bị ba ngày lương thực cùng tư trang là mẹ tôi lo sốt vó suốt đêm không ngủ được. Tôi cũng trăn trở không biết số phận mình sẽ ra sao ngày mai nên trằn trọc mãi, trên chiếc giường tre ở phía đầu kia nhà mẹ tôi cũng thao thức trăn qua trở lại, thỉnh thoảng chép miệng thở dài làm cho tôi thêm buồn. Thao thức suốt đêm gà vừa gáy sáng là mẹ con tôi đã dậy, mẹ nấu vội cho tôi nồi cơm ăn với tép kho và ngồi một bên xem tôi ăn và dặn dò đủ thứ khiến tôi nghẹn ngào cố nuốt hết chén cơm nóng cho mẹ vui lòng rồi mang cái gùi chỉ có mấy bộ quần áo và ba ngày gạo, một lon muối đậu phụng, chục viên thuốc ký ninh mẹ tôi đã năn nỉ cô y tá của trạm y tế xã để lại và một vài thứ lặt vặt. Tôi chào mẹ rồi mở cửa bước ra ngoài sân đầy bóng tối, mẹ tôi tựa cửa trông theo, tôi không dám nhìn lui nhưng biết nước mắt mẹ đang trào ra…

Trại 4 Ái Tử, nơi cải tạo những Sĩ Quan QLVNCH cấp bậc Chuẩn Úy, Thiếu Úy sau này có thêm một số trung đội trưởng Nghĩa Quân của Thừa Thiên, Quảng Trị được đưa đến. Tôi mới lên trại sau nên được đưa vào khối 5. Ở khối 5 ngoài một số SQ trẻ còn lại là số anh em Trung đội trưởng Nghĩa Quân đã lớn tuổi. Điều thần kỳ ở đây là tôi được gặp lại chú Diệu người ở Diên Sanh. Năm 1964 tôi thi hỏng đệ thất trường Nguyễn Hoàng được ông chú đem vào học trường Bán Công Hải Lăng và xin ở trọ nhà chú Diệu được một năm, năm sau tôi thi đậu Đệ Thất trường Nguyễn Hoàng nên ra thị xã Quảng Trị học. Hồi đó chú Diệu là trung đội trưởng Nghĩa Quân ở Chi Khu Hải Lăng, dưới mắt một đứa con nít mười hai tuổi lần đầu tiên sống xa vòng tay mẹ như tôi trông chú cũng oai vệ lắm. Gia đình chú rất thương tôi xem như con cái trong nhà, vì gia đình nghèo nên tôi thường hay nợ tiền cơm nhưng chú thím khi nào cũng vui vẻ không hối thúc. Chú sống tình cảm và hay quan tâm hỏi han chuyện học hành của tôi, chú tuy tốt bụng nhưng nét mặt nghiêm và ít nói nên tôi cũng cảm thấy chờn chờn… Từ khi ra thị xã học tôi chỉ có một vài lần vào Hải Lăng để thăm gia đình chú, nhưng không ngờ quả đất xoay tròn, sau mười năm chú cháu gặp lại trong một hoàn cảnh hết sức éo le!

Tôi còn nhớ ở trại cải tạo có một câu vè mà ai cũng thuộc.

Lên đây phải nhớ cho rành

Nhất ri, nhì củi, tam rừng, tứ tranh

Nhất ri là những tấm ri sắt lót sân bay Ái Tử nặng trên 70 kg mà trại viên phải ra cạy , hai người gánh một tấm về, cưa ra làm nhà, làm giường ngủ, làm bàn ghế v.v…đa số trại viên là những anh em chưa gột hết lớp vỏ học trò nên phải gánh một tấm ri nặng như thế đi bộ ngót mười cây số là một cực hình, đi củi về để nấu ăn và đổi hàng hóa, đi rừng chặt cây về làm nhà, đi cắt tranh về lợp nhà là những công việc hàng ngày của chúng tôi. Mỗi tối khối trưởng lên nhận công tác về phân công lại cho anh em, toàn là công việc nặng nhọc, chúng tôi hầu hết là chưa quen lao động nên rất sợ công việc, nhất là khi nghe ngày mai đi rừng chặt “cột mệ” (tức là cột cái vừa to, vừa dài, vừa nặng), là đêm đó cứ mơ màng lo sợ không ngủ được. Chú Diệu lúc đó già cả, ốm yếu rồi nên chú làm công việc được giao một cách khó khăn, thấy chú cũng tội nghiệp nhưng tôi lo cái thân mình chưa xong nên làm sao mà giúp chú được!

Mùa đông năm 1976, đó là một mùa đông khắc nghiệt nhất trong đời mà tôi đã trải qua, một mùa đông giá rét kinh hoàng nhất từ trước đến nay, đã mấy mươi năm trôi qua nhưng có lẽ giờ đây khi nhắc lại có nhiều người vẫn chưa quên được. Ban ngày thì phải đi làm trong cái lạnh và gió bấc thổi rét cắt da cắt thịt, mặc dù đã trùm kín đầu nhưng anh nào cũng chảy nước mũi lòng thòng. Để chống rét chúng tôi có sáng kiến kiếm bao gai đựng gạo may thành cái áo ấm, anh nào khéo tay thì cắt may lại trông như cái áo len, còn anh nào vụng về hoặc làm biếng là khoét ba lỗ để lòn đầu và hai tay vào là xong. Thực tình mà nói cái áo ầm bằng bao gai cũng ấm ra phết , có điều bất tiện là khi làm việc nặng dưới ánh nắng là cảm thấy ngứa ngày và xót vô cùng. Nhưng dù sao thì nó cũng đã giúp cho anh em trại viên chống chọi với cái rét khốc liệt khi đi lao động ngoài trời. Ban đêm về thì chúng tôi “sinh hoạt, kiểm điểm công tác” trong ngày dưới cái bếp lửa và những điếu thuốc lào cứ thỉnh thoảng rít lên sòng sọc nên cũng thấy ấm áp, nhưng khi lên giường ngủ là chịu đựng cái lạnh từ trong ruột lạnh ra, cái lạnh thấu xương tủy cứ rúc rỉa trong gan ruột cộng theo cái đói cào ruột không tài nào ngủ được.

Cái mùa đông năm đó không biết những người ở nhà cảm nhận cái rét như thế nào ở trại cải tạo như chúng tôi thì thật là kinh hoàng. Khi cái lạnh đã lên đỉnh điểm, ở dưới đồng bằng nghe nói cá dưới ruộng chết trân nổi lờ đờ người ta đi bắt về ăn nhiều lắm, còn trâu bò nhiều con chịu không nổi đã chết trân trên đồng, bà con xã viên hợp tác xã lại được miếng thịt ăn cho qua ngày đông tháng giá nên có lẽ đa số đều buồn ngoài mặt nhưng vui trong lòng!

Những ngày nhiệt độ xuống quá thấp trại viên chúng tôi được ban quản giáo cho nghĩ ở nhà.

Nhưng than ôi! Mừng vì khỏi đi làm việc đâu không thấy mà lại mang họa vào thân, chẳng qua cũng là cái nguyên nhân “nhàn cư vi bất thiện” mà ra cả!

Số là sáng hôm đó đang ngồi hút thuốc lào tán chuyện vặt với anh em thì chú Diệu khều tôi nói nhỏ

- Đi “cải thiện” Luật, hẹn anh Thỉ đi nữa.

Cũng cần giải thích thêm từ “cải thiện” được dùng trong trại cải tạo có nghĩa là kiếm thêm thức ăn ngoài tiêu chuẩn cấp phát. Thường thì khẩu phần ăn của chúng tôi mỗi ngày được 500 gram gạo, còn thức ăn thì độc một món canh “toàn quốc”, tức là mỗi khối có một trăm người phát cho mấy lon thịt hộp Hungari và một gói chà bông nấu với nước. Gạo thì quá cũ nên mất chất, khi đem vò thì nổi trên mặt nước chỉ còn một ít là còn chắc hạt, gạo nấu lên cơm nở như bông ăn với canh toàn quốc nên chúng tôi có cảm giác đói triền miên, thế là anh em tranh thủ giờ rảnh kiếm thêm rau má, rau tàu bay… bỏ vô nồi canh cho có xác để no thêm một chút gọi là “cải thiện”.

Chú Diệu, anh Thỉ và tôi âm thầm rời trại đi “cải thiện”, chúng tôi mon men vào một xóm nhà dân nhổ rau má, anh Thỉ mới nói với tôi

- Tau có hai đồng đây để đi vô nhà ni mua hai đồng bạc sắn ăn (sắn miền Nam gọi là khoai mì).

Chúng tôi vào nhà nói với chủ nhà mua hai đồng bạc sắn nhờ nấu luôn. Trong khi chủ nhà ra nhổ sắn ngoài vườn và nấu trên bếp thì chúng tôi cũng ở ngoài vườn nhổ rau má không dám vào nhà, đến khi sắn chín thì chủ nhà kêu vô ăn.

Ngồi chung quanh rổ sắn luộc bốc khói thơm lừng có kèm dĩa muối ớt, chúng tôi vừa thổi vừa ăn “ngon như chả”!. Nhưng mới ăn được một khúc sắn thì có bóng dáng một người mặc đồ bộ đội đi vào nhà.

Bà chủ nhà hốt hoảng kêu lên

- Thôi chết! cán bộ trại đó mấy chú.

Tôi và chú Diệu hoảng vía trốn vào góc xép nhà còn anh Thỉ thì giả đò xách giỏ rau má đi ra, rổ sắn được chủ nhà đậy lại. Trong góc xép tôi nghe loáng thoáng vị cán bộ hỏi anh Thỉ cái gì đó. Chốc lát nghe anh ta nói gì đó với chủ nhà và đến bên góc xép vén màn nhìn vào, chúng tôi líu ríu bước ra vị cán bộ trại 4 ( lâu ngày quá tôi quên mất tên) hỏi chúng tôi.

- Các anh ở khối nào.

- Dạ khối 5. Chú Diệu đáp

- Hai giờ chiều nay lên trình diện tôi. Giờ thì về đi

Chúng tôi thất thểu lê đôi chân nặng nề bước thấp bước cao trên con đường đất lầy lội trở về trại không ai nói với ai câu nào, trong lòng bất an vì chúng tôi đã vi phạm quy định của trại là quan hệ với dân chúng, một điều cấm kỵ ai vi phạm sẽ bị phạt nặng.

Hai giờ chiều hôm đó chúng tôi lên trình diện với ban quản lý trại, một cán bộ cảnh vệ tên Đắng “tiếp” chúng tôi. Trong khi chúng tôi sắp hàng ngang nghe cán bộ Đắng thuyết giáo nào là các anh tự ý quan hệ mua bán với dân chúng như thế là vi phạm, như thế là chống lệnh, như thế là mất quan điểm, như thế là v.v…cả mấy chục thứ “như thế” quy chụp lên đầu chúng tôi chỉ vì 2 đồng bạc sắn! Một cán bộ hậu cần tên Búa đi ngang hỏi cán bộ Đắng

- Ba tên quan hệ với dân mua sắn hồi sáng đây phải không?

Cán bộ Đắng gật đầu. Tên Búa phán một câu xanh rờn.

- Nhốt mẹ chúng nó vào nhà “gi” cho rồi!

Cũng xin giải thích thêm, nhà “gi” là cái nhà làm bằng những tấm ri sắt lót phi trường Ái Tử do trại viên ra cạy mang về như đã nói ở trên, nó có bề rộng chuông vuông độ 1 mét, cao khoảng 1m40, bên trong được rào bằng những sợi kẽm gai chằng chịt dùng để giam những ai phạm lỗi. Khi bị giam vào nhà gi người bị kỷ luật chỉ được mặc mỗi cái quần đùi, vì khuôn khổ độc đáo của nó nên không nằm được chỉ có một thế ngồi không dựa lưng vào tường vì đã bị giăng kẽm gai dày đặc..

Sau một hồi nghe thuyết giáo chúng tôi được cho về làm bản tự kiểm và phải học thuộc lòng 10 điều quy định của trại và chờ lệnh.

Tối hôm đó trong lán chúng tôi ngồi quây quần bên bếp lửa như thường lệ chờ trưởng khối lên nhận công tác về giao, anh em vẫn vô tư chuyện trò không hay biết gì, riêng ba chúng tôi thì cũng chuyện trò như không có chuyện gì xảy ra nhưng trong lòng thì ngổn ngang thấp thỏm “ngoài tươi trong héo”. Chốc lát thì khối trưởng về phổ biến lệnh của quản giáo họp kiểm điểm ba chúng tôi vì tội vi phạm quy định của trại, tự tiện quan hệ với dân chúng. Anh em nghe xong câu chuyện ai nấy đều ngỡ ngàng nhưng cũng phát biểu góp ý là chúng tôi đã làm sai trái phải chịu hình thức kỷ luật. Do thường xuyên kiểm điểm những vi phạm của anh em trong khối nên tôi biết anh em phải nói để chứng minh lập trường quan điểm của mình thôi chứ cũng thấy xót xa lắm!

Họp kiểm điểm xong lúc đó khoảng 9 giờ tối, bên ngoài gió bấc thổi vù vù lại thêm mưa phùn lất phất, ba chúng tôi phải cởi trần chỉ mặc mỗi tấm quần đùi rời khỏi bếp lửa lên phòng cán bộ trại trình diện. Mở cửa lán bước ra ngoài trời tối thui chỉ nghe tiếng gió bấc gào thét và mưa lất phất, lạnh buốt thấu xương khiến chúng tôi run lập cập.

Cán bộ Hùng trại phó đang trùm chăn, nghe chúng tôi gỏ cửa phòng đã dở chăn ra khỏi đầu nhìn ba chúng tôi. Trong số ba người thì tôi trẻ nhất mới ngoài hai mươi tuổi thân thể còn có da có thịt, còn anh Thỉ thì cũng ốm yếu còm cỏi, riêng chú Diệu là thê thảm nhất, vừa già vừa gầy ốm hom hem đưa bộ xương cách trí ra trình diện.

Trại phó Hùng vẫn trùm kín chăn chỉ để lộ khuôn mặt hỏi

- Ba anh vi phạm quan hệ với dân hồi sáng đây phải không? Sao mà các anh dại thế, chính sách, quy định của trại các anh đã được học tập. sao các anh dại thế, vi phạm quy định trại sẽ bị kỷ luật kéo dài thời gian cải tạo các anh có biết không?

Chú Diệu thay mặt ba chúng tôi trả lời

- Thưa cán bộ biết. Tôi thấy tôi già rồi mà dại khi vi phạm quy định của trại.

Cán bộ Hùng thuyết giáo ba chúng tôi thêm một hồi lâu, bài thuyết giáo cũng na ná như tên Đắng nói hồi chiều nhưng có vẻ hay hơn, súc tích hơn và quy chụp cũng nặng nề hơn, chúng tôi đứng nghe mà rét run lập cập. Cuối cùng thì ông ta phán .

- Thôi cho các anh về, mai làm bản tự kiểm gởi cho ban quản giáo trại chờ xét kỷ luật.

Chúng tôi va về đêm đã khuya, anh em trong lán đã đi ngủ, trời quá lạnh, vã lại lòng ngổn ngang trăm mối tôi trăn trở thao thức suốt đêm không tài nào ngủ được.

Những ngày kế tiếp cả ba chúng tôi vẫn thấp thỏm chờ nghe bản án dành cho mình, nhưng mọi việc vẫn diễn tiến bình thường khiến nỗi lo cứ kéo dài như tội nhân không biết khi nào mới lãnh án.

Những tháng ngày nối tiếp nhau qua đi, công việc nặng nhọc nối tiếp nhau nên tôi cũng quên chuyện hai đồng bạc sắn. Cho đến một buổi tối tình cờ ông Thi cán bộ quản giáo của khối xuống lán đem thuốc lào xuống cho anh em rồi ngồi nói chuyện vặt, bất chợt ông thấy chú Diệu ngồi ho sù sụ, ông ngồi nhăn trán suy nghĩ một hồi rồi chợt buột miệng.

- Nhìn thấy anh Diệu tôi nhớ lại cách đây mấy tháng anh Diệu cùng hai anh nữa vi phạm quy định của trại ra ngoài dân quan hệ mua bán, theo tội trạng thì tối đó phải nhốt vào nhà “gi” nhưng đồng chí Hùng trại phó nói tối đó trời lạnh quá mà thấy anh Diệu già nua ốm ỵếu quá sợ chết vì chịu lạnh không nổi nên đã tha cho cả ba người, chứ nếu ba anh đều còn trẻ như anh Luật thì nhốt một đêm cho biết mặt.

Thế là bao nhiêu thắc mắc lo lắng mấy tháng nay đã được giải mã. Thì ra đêm đó vì thấy chú Diệu già nua ốm yếu quá nên ông Hùng không nỡ nhốt vào nhà “gi” vì sợ chết, và tôi là người ăn theo nên thoát nạn. Chứ giả sử cả ba người đều trai tráng khỏe mạnh như tôi thì đã bị nhốt rồi và không khéo chịu lạnh không nổi đã chết trong đêm đó rồi cũng nên!

Vậy là một cách vô tình chú Diệu đã cứu tôi và anh Thỉ. Câu chuyện hai đồng bạc sắn trên trại cải tạo tôi không thể nào quên, và người ân nhân cứu tôi một cách vô tình là chú Diệu tôi xem như quý nhân, mặc dầu quý nhân này có vẻ không giống với quý nhân mà các ông thầy bói và hai người đàn bà thân thiết nhất đời tôi là mẹ và vợ tôi thường quan niệm!

Năm tháng vẫn nối tiếp, sau khi ra khỏi trại cải tạo tôi sống phiêu bạt và trở thành kẻ tha hương cầu thực cũng không có cơ hội gặp lại quý nhân Diệu, không biết giờ đây chú ấy còn sống hay đã ra người thiên cổ?.

Nguyễn Ngọc Luật


Nguồn: Trang Văn Chương Miền Nam