Ngôn Đạo - Hoàng Long Hải
Nói
là là một phương tiện truyền thông đặc biệt diễn đạt bằng âm thanh chỉ có con
người mới có. Các loài động vật khác cũng có phương tiện diễn đạt bằng âm thanh
nhưng rất hạn chế trong một số ít thanh âm nào đó mà thôi.
Ví
dụ chó thì sủa; tiếng sủa của chó giới hạn trong một số tiếng; sủa gâu gâu, sủa
ông ổng, và tru. Chỉ có vậy thôi.
Loài
chim tuy có tiếng hót hay hơn tiếng sủa, tuy nhiên cũng có giới hạn như chó.
Tiếng hót hay dở cũng tùy ở một số loài. Dĩ nhiên quạ kêu thì không có gì hay.
Tiếng cú kêu làm cho người Việt tin dị đoan sợ ma. Còn tiếng chim hoàng oanh,
chim sơn ca thì hay tuyệt trần. Tiếng vượn hú thì nghe rầu rĩ lắm!
Tùy
theo âm thanh của mỗi loài, người ta đặt cho nó một cái tên về sự diễn đạt âm
thanh của chúng: quạ thì kêu, (loài nào tiếng của nó hay thì gọi là hót), cho
sủa (tiếng kêu dài trong đêm thì gọi là tru), vượn hú; trâu, bò hay voi thì
rống; ngựa thì hí; cọp, beo, sư tử (loài ăn thịt) thì gầm; rắn cũng gọi là gầm.
Thông thường những âm thanh của nó được phát ra từ miệng của chúng như con
người vậy. Riêng có vài loại côn trùng thì âm thanh phát ra từ cánh như con dế,
con giặc sành…
Tạo
hóa cho loài vật âm thanh như tiếng nói, tiếng kêu, tiếng sủa để làm gì? Có lẽ
đó là phương tiện truyền tin của loài vật. Truyền thông là phương cách thông
tin giữa một con vật với một con vật hay giữa một con vật với đoàn của nó.
Người ta thường nói “Tiếng chim gọi đàn”, “vượn gọi bầy”… Đó là cách
truyền đạt tin tức giữa một con vật với nhiều con khác; có khi nó chỉ là phương
cách diễn đạt giữa một con đực với một con cái hay ngược lại, và rất nhiều khi
đó là lời chỉ huy, hướng dẫn của con vật đầu đàn hoặc báo động, cảnh giác về
một sự nguy hiểm sắp xẩy tới.
Con
người thì không sủa, không rống, không gầm, không tru hay không hí, ngoại trừ
khi bị người ta mắng, ví người với loài vật.
Con
người thì nói. Nói là phương tiện diễn đạt tư tưởng, tình cảm bằng âm thanh.
Nói là cách diễn đạt trong trạng thái bình thường, thông thường. Trong trường
hợp người ta muốn diễn đạt tư tưởng, tình cảm một cách sâu sắc hơn, phong phú
hơn, truyền cảm hơn thì người ta ngâm, - như ngâm thơ - hoặc ca hoặc hát. Khi
ngâm hay ca hát, người ta dùng thêm một hay nhiều dụng cụ phát âm như đàn,
trống, sáo hoặc kèn, v.v… để phụ họa thêm.
Khi
ca hát, thậm chí cả khi ngâm, có thể một hay ba bốn hay nhiều người cùng hoạt
động một lúc, người ta gọi là hợp ngâm, song ca, hợp ca hay hợp xướng, thậm chí
đại hợp xướng (cả trăm người cùng hát một lúc).
Người
ca hay hát (ca sĩ) phải có hai yếu tố quan trọng: Một là giọng, hai là hơi. Có
giọng hát thì hát mới hay. Nhiều khi người ta nghe hát tiếng Anh, tiếng Pháp,
tiếng Tàu, tiếng Ấn, v.v… không hiểu lời ca nhưng nghe giọng ta cũng thấy thích
vì giọng ca hay. Nghe người Việt hát thì người ta ưa nghe cả giọng lẫn lời.
Nhiều nhạc sĩ đặt lời ca thật hay, nghe như thơ. Nhạc sĩ bây giờ đặt lời nghe
như thiếu… muối (lạt lẽo). Ngoài giọng, ca sĩ cần có hơi; hơi phải mạnh và dài.
Không có giọng, không có hơi thì nên… nghỉ hát!
Còn
nói thì chỉ có một người nói. Hết người nầy nói tới phiên người khác. Thậm chí
khi cải nhau thì cũng nên từng người một, có khi tranh hơn thua thì gọi là
tranh cải. Còn như hai người cùng nói thì chẳng ai nghe được. Người ta có hai
lỗ tai nhưng chỉ nghe được một người nói, không thể có tai nầy thì nghe người
nầy, tai kia thì nghe người kia. Hai người cùng nói một lúc như vợ chồng cải
nhau thì chỉ có… hàng xóm nghe. Thậm chí vợ chồng cải nhau ồn ào quá khiến hàng
xóm phải gọi cảnh sát tới can thiệp.
Nói
hay ngôn ngữ cũng có nhiều loại khác nhau. Ngôn ngữ nước nào cũng vậy, thường
có hai loại. Một loại nói văn vẻ và một loại thông tục. Có người phân tích rằng
có một loại ngôn ngữ trong các dinh thự và một loại ngôn ngữ ngoài đường phố.
Loại trong dinh thự thường văn vẻ và loại ngoài đường phố thì thông tục. Đó
chưa kể tới những tiếng tục, chưởi tục mà người lịch sự không mấy khi nói ra.
Loại văn vẽ chứng tỏ người có học, có giáo dục, v.v… nghe thanh tao nhẹ nhàng,
còn loại thông tục thì có người cho rằng “Dùi đục chấm mắm nêm”.
Nhiều
người có học, có giáo dục nhưng cũng ưa cách nói thông tục vì cách nói thông
tục truyền đạt ý tưởng, tình cảm một cách dễ dàng hơn, mối liên hệ hiểu biết
cũng thuận tiện hơn. Người ta cũng gọi cách nói như thế là bình dân.
Chưởi
tục cũng khác với chưởi thề!
Người
ta cũng dùng tiếng nói để mà chưởi khi giận dữ ai. Tiếng chưởi thường thì to,
nhiều người cùng nghe được. Muốn chưởi để đối tượng hay nhiều khác cùng nghe
thì người ta phải nói to, âm thanh lớn, làm cho gân cổ nổi lên nên có thành ngữ
“Gân cổ lên chưởi”. Ít khi có tiếng chưởi thanh tao mà thường là tiếng chưởi
tục, đ. mẹ hay đ. cha, có khi kêu cả ông bà ông vải ra chưởi. Có người cho rằng
chưởi là một nghe thuật, nó khác với loại “chưởi thẳng vào mặt” mà lại tránh
né, lắc léo làm cho người bị chưởi khó phản ứng lại được. Đó là loại chưởi
khéo, chưởi mé, xách mé, v.v…
Vì
chưởi là một nghệ thuật nên phải có tài mới xử dụng được nghệ thuật đó. Tôi
chưa từng nghe người Nam chưởi “hay” như người Trung, người Bắc. Câu chưởi của
họ có âm điệu trầm bỗng lên xuống, có câu kéo đàng hoàng như một loại “khuôn
mẫu” và để cho tiện người ta cứ học thuộc và cứ theo “khuôn mẫu” đó đem ra áp
dụng mỗi khi chưởi nhau. Câu nầy người ta nghe thường nhất: “Cha ông cha bà cha
vạn họ, họ nội, họ ngoại họ ngái họ gần mầy ăn cắp gà nhà bà”.
Đó
cũng là câu chưởi mất gà có khi chúng ta đã nghe người ta chưởi ở nhà quê. Kèm
theo tiếng chưởi là tiếng “nộp” có nghĩa là mắng cho đối tượng đau mà chết,
bệnh mà chết, ăn gà mắc xương, đau bụng, đau ngực, v.v… mà chết cho sớm, v.v….
Tuy
nhiên, không phải ai cũng biết chưởi như vậy. Vì vậy, khi có người bị chưởi mà
chưởi không lại người ta thì cũng phải cầu viện nhờ người đến chưởi giúp.
Người
đàng hoàng đứng đắn thì không chưởi bao giờ. Họ chỉ dùng lời nói để phân bua,
lấy cái đúng sai về ai để phân biệt hơn thua, phải trái. Nhiều khi người ta
cũng không cần hơn thua mà chỉ cần phải trái mà thôi. Đó là những người đứng
đắn trong xã hội.
Nhiều
người không cần lẽ phải mà chỉ cần những cách nói lắc léo để ăn người ta, cố
nói lấy được. Những người nầy thường bị mắng là lẹo lưỡi. Trong hòa đàm Paris
1973, khi báo chí hỏi lãnh thổ của chính phủ Mặt trận Giải phóng Miền Nam VN ở
đâu thì bà Nguyễn Thị Bình trả lời rằng nơi nào quân đội Cộng Hòa bắn phá đến
thì nơi đó là lãnh thổ của chính phủ bà. Có người cho rằng trả lời như thế là
hay nhưng cũng có người dẫn chứng rằng đó là cách nói “lẹo lưỡi”.
Nói
nhanh là một thói quen, nhiều khi người ta cho là vì cái gène. Cha hay mẹ nói
nhanh, con cái cũng nói nhanh. Nói nhanh là điều không nên vì nhiều khi người
nghe không nghe kịp. Nói chậm cũng bị chê vì người nghe phải chờ đợi lâu nhất
là khi có chuyện gì đó gay cấn, hấp dẫn. Nói rõ ràng từng lời chớ không nói lắp
bắp, tức là nói tiếng nào không rõ tiếng đó. Vậy nên thông thường nên nói vừa
phải, không nhanh, không chậm, nói rõ ràng là hơn hết. Nói không rõ người ta
gọi là nói lua.
Nói
điều gì cũng phải có đầu có đuôi, không được nói hụt chạc, không ra đầu ra đuôi
người khác không thể hiểu được. Có ông chủ nhà dặn thằng ở như thế nầy: “Mày
nói cái gì cũng phải có đầu có đuôi mới được nghe chưa?”
Hôm
sau, đứng hầu ông chủ hút thuốc, thằng ở vòng tay lễ phép:
-
“Thưa ông chủ. Hôm qua ông sai con đi mua thuốc lá về để ông hút. Hôm nay, ông
vấn một điếu, ông châm lửa, ngồi hút. Thưa ông chủ. Khi châm lửa, ông để tàn
rớt xuống đang cháy áo ông kìa!”
Ông
chủ bèn hốt hoảng la thằng ở:
-
“Mày thấy áo tao cháy sao mầy không nói ngay?”
-
“Thưa ông chủ. Con cũng muốn nói ngay nhưng ông chủ đã dặn con là nói cái gì
cũng phải có đầu có đuôi!”
Khi
muốn ai nghe theo lời mình, người ta thường nói to, nói nhỏ. Nói nhỏ là khuyến
dụ, nói to là hăm dọa, tỏ sự căng thẳng, cương quyết. Nó nhỏ cũng gọi là mật
ngọt, nói như “Rót mật vào tai” hay “Nói ngọt lọt lỗ tai” hay “Nói
ngọt lọt đến xương”. Người Bắc thì gọi là “Ngọt nhạt”. Ca dao cũng có câu: “Thả
giọng trầm nhiều nỗi mê man.” Đi “cua” gái, những người thả giọng trầm dễ
“ăn” hơn mấy người “Ăn to nói lớn” ồn ào.
Hồ
Tôn Hiến đem quân đánh Từ Hải, liệu bề không thắng được Từ bèn chọn việc cho
người đi ngõ sau: Hối lộ và dụ dỗ, ngon ngọt với Kiều để Kiều khuyên Từ Hải ra
hàng:
Nàng thời thật dạ tin người
Lễ nhiều, nói ngọt nghe lời dễ xiêu
Nói
lanh chanh là nói không rõ, cướp lời người khác. Trẻ con thường có tật nói leo.
Nói leo là nói với người lớn mà chưa được phép nói, người lớn chưa nói xong đã
cướp lời.
Nói
nhiều hay nói là điều bất lợi, nói hớ dễ bị người lớn bắt lỗi. Khi ai hỏi việc
gì đó, người nào nói lộp chộp, chưa chịu suy nghĩ cho kỹ thì dễ bị nói hớ, để
lộ công việc. Vì vậy, tục ngữ có câu:
Vạ bởi miệng ra, bệnh chẳng qua miệng vào.
Miệng
ra tức là nói; miệng vào tức là ăn. Nói bậy dễ bị vạ (tai vạ), ăn bậy, ăn nhiều
dễ sinh bệnh.
Vì
dễ bị hớ, bị vạ nên ông bà ta dạy:
Ăn phải nhai, nói phải nghĩ.
Câu
nầy nghĩa rõ lắm. Khi ăn phải nhai thức ăn cho nhuyễn rồi mới nuốt, cũng như
trước khi nói phải suy nghĩ thật kỹ điều mình muốn nói ra. Cũng cùng một ý như
thế, người Tàu dạy rằng: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.”
Tổ
tiên cúng ta có một câu tục ngữ khá hay:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Nhiều
người có tật ưa nói nhiều, đi đâu cũng nói. Những người đó bị người ta gọi là “Chân
ngoài ngõ, miệng trong nhà”, có nghĩa là chân mới tới ngoài cửa ngõ mà
tiếng nói đã vang tới trong nhà.
Nhà
văn Vũ Thư Hiên có lần chê ông thủ tướng Phạm Văn Đồng của chính phủ Bắc Việt
Nam trước kia là người ưa nói. Bất cứ ở hội nghị nào, hễ có mặt ông là ông cũng
sẽ lên nói. Ông ta nói lan man việc nọ xọ việc kia khiến nhiều người bực mình.
Nói nhiều, hay nói, là một cái bệnh, rất nhiều người bị. Những người đó bị chê
là “nói dài, nói dai, nói dại.”
Vì
là người có quyền nên nói chi người ta cũng nghe, không nghe thì ngồi ngáp vặt
chớ không dám phản đối. Vì vậy, xưa có câu tục ngữ nghe rất khó chịu nhưng phải
nhận là hay. Câu đó là:
Miệng nhà quan có gang có thép.
L. nhà khó vừa lọ vừa thâm
Hai
câu nầy dụng phép đối (Xưa gọi là văn biền ngẫu) vừa đối cả ý lẫn lời. Gang
thép thì đối lại là lọ thâm, còn miệng thì đối lại là l. Đối như thế thì người
xưa gọi là thâm; thâm thật!
Câu
nầy cũng tương tự như câu của Tây: “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”.
Nói
là biểu lộ ý nghĩ, tình cảm, cũng có khi tỏ rõ lập trường. Khi bị điều tra,
nhất là khi Công An Cộng Sản điều tra, chúng thường gặng để biết lập trường
chính trị của đối tượng nên nhiều khi rất khó trả lời. Trả lời theo chúng thì
là… hèn, khiếp nhược. Nghịch với chúng thì… khó sống. Người xưa cũng nhiều khi
gặp trường hợp khó nói nên dạy một câu rất mất lập trường: “Làm trai cứ nước
hai mà nói.” Ở Huế cũng có câu hò rất “ba phải” về việc nầy:
Chào bên nam mất lòng bên nữ,
Chào người quân tử bỏ bụng thuyền quyên
Cho tôi xin chào chung một tiếng
kẻo chào riêng khó chào.
Nguy
hiểm nhất là nói nịnh. Tán gia bại sản cũng vì nịnh, nước mất nhà tan cũng vì
nịnh. Nếu chung quanh nhà vua có nhiều nịnh thần thì thế nào vua cũng bị mất
ngôi. Lạ một điều, người ta ai ai cũng ưa nghe người ta nói nịnh mình. Thậm chí
nhiều khi mình biết người ta nói nịnh mà mình vẫn thích. Có phải đó là cá tính
của con người. Người ta chết vì cái thích đó! Vua thì thích bọn nịnh thần hơn
trung thần; quan cũng vậy. Nhứt là mấy bà. Ai khen mấy bà nào là trẻ, là đẹp,
là phúc đức, nhân hậu thôi thì mấy bà thấy mình lên tới mây xanh.
Chung
quanh những người cầm quyền thường lúc nhúc một lũ dua nịnh. Ở Huế, người ta có
chê “Cậu Cẩn” nhưng người ta ghê tởm đám nịnh hót chung quanh “Cậu”.
Đọc
truyện Kiều, nhận xét nhân vật, người đọc thấy cụ Nguyễn Du mô tả nhân vật,
cách ăn mặc, bộ điệu, trang phục, nói năng mỗi người mỗi nét, nói lên cái cá
tính của họ, hay vô cùng:
Cô
Kiều đẹp thì đã đành, nhưng cách nói năng của cô Kiều thì:
Lặng nghe lời nói như ru
Chiều thu dễ khiến nét thu ngại
ngùng.
Khi chàng Kim Trọng tỏ ra sàm sở với Kiều, bị Kiều “sửa lưng” nhưng cách sửa
lưng của Cô Kiều không những không làm cho Kim Trọng tự ái bất mãn mà còn:
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể, thêm vì mười phân.
Hoặc:
Khen cho: “Phật đã nên rằng:
Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời
Với
cảnh ồn ào, hung dữ như sau, không biết có khác gì với cảnh công an và “nhân
dân” của chúng khi xét nhà dân chúng, hoặc như khi chúng tấn công gia đình
lương dân vô tội chống lại chúng.:
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh
Rụng rời giọt liễu, tan tành gối mai.
Đức
Khổng Tử có nói đại khái rằng người nào ăn mặc chải chuốt quá, lời nói trơn tru
dịu dàng quá, có thể bụng dạ không thật. Có phải đó là “nguyên tắc” để Cụ
Nguyễn Du mô tả Sở Khanh:
Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.
Về
Hoạn Thư, “con quan lại bộ”, dòng dõi, giai cấp thống trị ngày xưa thì:
Ở ăn thì nết cũng hay
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Con
người như thế thì có hai bộ mặt:
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Tướng
nói
Nói
là bản năng tự nhiên thiên phú nên không chế độ nào có đạo luật “Cấm nói” như
chế độ độc tài Cộng Sản. Tự do nói tức là tự do ngôn luận.
Cấm
ngôn luận, thì chỉ có chế độ Cộng Sản mới có. Ngay cả dưới chế độ phong kiến
cách đây cả mấy trăm năm ở nước ta cũng không khắc nghiệt như dưới chế độ Cộng
Sản bây giờ. Nếu chế độ phong kiến cấm ngôn luận khắt khe lắm thì sao có tác
phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc” nói lên tâm trạng của một cung nữ oán trách nhà vua
vì bị nhà vua bỏ bê, làm sao có “Chinh Phụ Ngâm” diễn tả tâm trạng của một
người đàn bà oán trách vua chúa gây nên chiến tranh để người chồng phải đi
chinh chiến ở xa, hay như gần đây, mới đầu thế kỷ 20, dưới triều vua Thành
Thái, một nhà vua yêu nước bị Pháp bắt đi đày bên Châu Phi thế mà cũng bị nhà
thơ Trần Tế Xương chê một câu:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết cả trên đời
Vua, quan, sĩ, tứ, người muôn nước,
Sao được cho ra một giống Người.
Trần
Tế Xương chê vua Thành Thái (hay Duy Tân – vua Thành Thái bị truất ngôi năm
1908, con là Vĩnh San lên ngôi, lấy hiệu là Duy Tân): “Sao được cho ra
một giống Người” thì Trần Tế Xương chẳng mất một sợi lông chân, còn Trần
Dần viết hai câu thơ sau đây thì bị gì:
Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.
Chỉ
một chữ Người viết hoa mà Trần Dần chịu một đời tù.
Về
cá nhân, người ta thường dùng những lời nặng nề để mạt sát, nhục mạ nhau. Đó là
ngày xưa. Ngày nay, việc nhục mạ nầy phát triển thành chính sách của nhà nước,
chính phủ. Ở miền Nam, trước 1975, những lãnh tụ như ông Ngô Đình Diệm, ông
Nguyễn Văn Thiệu, ông Dương Văn Minh cũng có người thương, người ghét, phê
bình, đã kích hay hoan hô tùy theo hoàn cảnh hay lăng kính của họ. Điều đó là
tự nhiên, nhưng không ai gọi họ bằng thằng.
Sau
1975, trong các buổi họp phường, khóm hay học tập, v.v… bỗng người ta nghe cán
bộ Cộng Sản gọi “Thằng Diệm”, “Thằng Thiệu”, “Thằng Kỳ” , “Thằng Dương Văn
Minh”, và đôi khi cả “Thằng Ních-Xơn”, “Thằng Giơn-Xơn”… thì người ta bỗng thấy
hơi lạ lẫm với cách xưng hô của người Nam. Qua đó, nếu ai gọi “Ông Ngô Đình
Diệm”, “Ông Thiệu” thì bị cán bộ Cộng Sản “chỉnh” ngay. Họ cấm, không cho gọi
bằng ông mà phải gọi bằng thằng như họ vậy. Nếu gọi ông Thiệu bằng ông thì gọi
Xít-Ta-Lin bằng gì? Chỉ có mấy ông bên Liên Xô, bên Tàu (Trung Quốc) mới gọi
bằng ông. Với người Cộng Sản, cùng đảng với nhau thì cũng có khi họ gọi “Đồng
chí Xít-Ta-Lin”, “Đồng chí Mao Trạch Đông” hoặc “Đồng chí Mao Trạch Đông vĩ
đại”. Người ngoài đảng thì không được gọi bằng “đồng chí” (dĩ nhiên) và phải
gọi bằng ông; chung chung, tổng quát là như vậy, giống như Tố Hữu gọi “Trời ơi
Ông mất đất trời có không?!” Không lý gọi Xít-Ta-Lin bằng ông rồi cũng gọi Ngô
Đình Diệm bằng ông?! Thế là không xong rồi, “không vững lập truờng” nên cho đi
“học tập” ở trại cải tạo. Để đáp lại cách gọi của “đảng và nhà nước” Cộng Sản,
ngày nay người ta cũng thấy nhan nhãn trên báo chí hải ngoại tiếng “Hồ tặc”,
“già Hồ”, “cáo Hồ”. Trước 1975, ít khi thấy báo chí miền Nam gọi ông Hồ Chí
Minh như thế. Đó cũng là “Răng trả răng, mắt trả mắt” mà thôi!
Hay
nhứt là nên “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” như tổ tiên chúng ta đã
dạy. Lời nói hay, tốt đẹp thì người ta nhớ lâu, thích thú và thậm chí cả kính
trọng người nói. Lời nói dở, xấu, thiếu lịch sự, thậm chí thiếu giáo dục thì
người ta chê, ghét, bỏ đi.
Xin
đưa một ví dụ như: Tây có câu tục ngữ như tôi vừa nói trên “Mắt trả mắt,
răng trả răng”. Thế la sòng phẳng. Ai tốt với mình, mình tốt lại; ai khen
mình, mình khen lại; ai chê mình, mình chê lại; ai chưởi mình, mình chưởi lại.
Đó là thế gian thường tình.
Nhưng
có lẽ từ câu tục ngữ đó mà ông Thánh Gandhi bên Ấn Độ mới nói câu sau đây: “Mắt
trả mắt thì cuối cùng sẽ làm cho cả thế giới mù lòa.” Câu ông Gandhi nói mới
thật là hay, mới thấm thía. Có lẽ đó là một nét đặc sắc của văn hóa Ấn Độ.
Những người theo Phật có lẽ biết câu Phật dạy: “Lấy oán trả oán, oán chồng
chất; lấy ân trả oán, oán tiêu tan.”
Hồi
tôi còn học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ), ông thầy dạy Việt văn của tôi có biểu
chúng tôi cứ mỗi tuần, một toán (khoảng 10 học sinh) tìm cho ông một câu thuộc
loại “Lời hay ý đẹp”. Toán nào tìm được nhiều câu, câu càng hay, thì chúng tôi
càng được điểm tốt. Tôi không rõ ông thầy tôi muốn làm một bộ sưu tập hay ông
muốn dạy khéo chúng tôi vì khi đi tìm tức là có học hỏi. Vào thư viện, tôi thấy
ở Mỹ bây giờ có rất nhiều loại hay sưu tập những lời hay ý đẹp như thế. Theo
kinh nghiệm của tôi, nên khuyến khích bọn trẻ đọc sách nầy.
Vì nói bậy, vì sợ khẩu nghiệp mà có người không nói.
Không
nói có nhiều nghĩa. Không nói trước người điều tra có nghĩa la bất hợp tác.
Trong một nước tự do, người ta có quyền im lặng, để cho luật sư của họ làm
việc. Với Công An Việt Nam, họ hỏi mình mà mình không nói thì có nghĩa là “bầm
mình”, tuy rằng trong chế độ cũ, Việt Cộng hướng dẫn cho những người theo chúng
khi bị chính quyền quốc gia bắt thì phải ba không: Không thấy, không nghe,
không nói.
Người
ta kể môt câu chuyện ngày trước nhà văn Pháp Anatole France tranh luận với một
ông đại tá về một vấn đề gì đó. Ông đại tá dùng những lời nặng nề, thô bỉ để
mạt sát nhà văn nên A. France không trả lời những gì ông đại tá viết nữa. Thấy
nhà văn không nói gì nữa, ông đại tá giận quá, một hôm đến tận nhà của nhà văn
hỏi một câu: “Này thằng nhà văn chó chết kia! Tại sao mày không trả lời
tao?” A. France chậm rãi trả lời: “Thưa đại tá! Vì mồm đại tá thối quá!”
Về
việc không nói, người Tây phương cũng nói một câu khá hay: “Người ta chỉ cần
một năm để tập nói nhưng phải tập ba năm để ngậm miệng lại.”
Về
mặt tôn giáo thì đó là một cách tu cái miệng của mình: tịnh khẩu. Nói, nhất là
nói bậy thì theo Phật là tạo cho mình một cái nghiệp, tạo một “Khẩu Nghiệp”.
Nói bậy, nói điều ác, điều xấu là tạo cho mình một khẩu nghiệp xấu. Vì vậy tịnh
khẩu là tránh cho mình một cái nghiệp.
Ông
“Bác Vật Lang” hồi xưa ở Sadec, du học bên Tây và đậu kỹ sư sinh vật, khi về
nước, ông chẳng làm việc gì, ngày ngày “ngao du sơn thủy”. Một lần ông lên thăm
Thạch Động ở Hà tiên. Nơi nầy có một con đường đi xuống một cái hang mà người
ta gọi là đường xuống âm phủ. Ông ta thấy cái gì ở đó mà người ta bảo rằng Phật
thánh cấm ông nói cho nên từ đó về sau, cho đến khi qua đời, ông tịnh
khẩu.
Về
tôn giáo, vua Trần Nhân Tôn có một bài thơ khá hay nói về không nói. Bài thơ
như sau:
Oanh hót dề dà liễu tả tơi
Thềm hoa mây phủ bóng hiên dài
Khách đến chẳng thăm niềm tâm sự
Tựa bức lan can chỉ ngắm trời
(Hoàng Vũ dịch)
Hiểu
theo văn chương thông thường thì đây là một bài thơ hay, một bài thơ đẹp. Buổi
chiều (hay buổi trưa, buổi sáng) có nắng chiếu làm bóng mây che phủ thềm nhà
(hay chùa), có những cành liễu buông dài, tiếng chim oanh hót trên cành cây.
Vậy mà khách đến thăm, chẳng nói một lời tâm sự. Khách đứng tựa bức lan can
ngắm trời. Ngắm trời để làm gì? Để nhìm một cảnh đẹp hay để suy tưởng. Điều suy
tưởng đó chắc có chiều rộng lẫn chiều sâu làm cho khách đắm chìm trong vòng suy
tưởng đó mà chẳng nói một lời. Dĩ nhiên đây là một bài thơ thiền nên xin để cho
các nhà thiền học giải thích hay hơn.
Bài
thơ sau đây cũng là một bài thơ “Không nói” nhưng không phải là một bài thơ
thiền, mà chính là một tâm sự về con người, về cuộc đời, về đảo điên thế sự.
Ngày
11 tháng 11 năm 1960, Nguyễn Chánh Thi đảo chánh lật đổ ông Ngô Đình Diệm. Cuộc
đảo chánh thất bại, một số nhà hoạt động chính trị bị bắt vì có dính líu đến
cuộc đảo chánh đó. Một trong số những người nầy có nhà cách mạng Nguyễn Tường
Tam (Tức nhà văn Nhất Linh).
Năm
1963, vì vụ Phật giáo đồ đứng lên biểu tình chống đối nhà Ngô, để dằn mặt, Ngô
Triều mở một phiên tòa xử tội những người trước đó chống đối chế độ. Nhà cách
mạng Nguyễn Tường Tam có tên trong số những người bị đưa ra tòa lần nầy. Trước
hôm ra tòa một ngày, đúng ngày 7 tháng 7 năm 1963, thường gọi là ngày Song
Thất, mỗi năm đều có lễ kỷ niệm “Ngô tổng thống chấp chánh”, Nhất Linh dùng độc
dược tự tử. Việc làm của ông làm chấn động dư luận trong cũng như ngoài nước.
Thời
gian trước khi vụ án xảy ra, nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam thường đến thăm bạn
bè, trong số đó có nhà thơ Bùi Khánh Đản. Một lần đến thăm bạn, Nhất Linh chỉ
nói vài câu chào hỏi thường lệ, rồi ngồi trầm ngâm chẳng nói lời nào. Xong rồi,
nhà văn chào bạn ra về, không nói thêm môt lời nào khác. Điều không nói của
Nhất Linh đã gây một ấn tượng sâu sắc cho nhà thơ. Sau khi Nhất Linh ra về, nhà
thơ Bùi Khánh Đản làm bài thơ sau đây:
Thiếu
Một Lời
Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi
Anh đã quên không nói một lời
Tám hướng dần buông vào tịch mịch
Hai lòng vẫn ngã chốn xa xôi
Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện
Tai lắng thời gian thánh thót rơi
Tất cả chìm sâu sâu xuống mãi
Vì anh chỉ thiếu một lời thôi
Bùi Khánh Đản
Thành
ra, thưa quí vị, cái không nói lại quí hơn cái nói hàng vạn lần.
Nói
là một ân huệ đặc biệt tạo hóa chỉ cho con người mới có. Tất cả các loài vật
khác không thể có được. Nếu biết đó là một ân huệ đặc biệt, tại sao chúng ta
không cố gắng gìn giữ nó, dùng nó một cách trong sáng đẹp đẽ, đem lại cho nhau
những điều hay đẹp tươi vui. Gia tỉ có một số loài vật nào đó cũng không ngoan
như người nhưng chúng không được cái đặc ân của Tạo hóa cho chúng có tiếng nói
như người thì chúng sẽ suy nghĩ như thế nào khi chúng thấy loài người dùng
tiếng nói để chưởi rủa nhau?! Chúng sẽ chê cười chúng ta đấy, cho rằng chúng ta
không biết cái giá trị ân huệ đặc biệt của tiếng nói mà dùng cho đúng cách.
Người
Nhật cũng uống trà như các dân tộc khác như người Tàu, người Việt, nhưng họ
biến cải cách dùng trà như một nghệ thuật, biến nó thành một cái đạo mà họ
gọi là trà đạo.
Cũng
với một ý hướng muốn bắt chước người Nhật, tôi nghĩ rằng tại sao chúng ta lại
không gìn giữ, trân trọng tiếng nói, cách nói, v.v… như thế nào để biến nó
thành một… ngôn đạo. Đó cũng là cái ý chính khi tôi đặt
tên cho bài viết nầy.
hoànglonghải
(tuệchương)