▼

Tuesday, August 2, 2022

Chạy Lụt - Đào Dân

hồi ký


Đó là một buổi chiều, một buổi chiều của năm 1983 với cơn mưa rả rích sau mấy ngày nặng hạt. Trước mặt nhà là một đồng ruộng trống mà lúa hè thu đã thu hoạch xong từ lâu nay trở thành một màu trắng xóa với làn nước bạc đang mấp mé ngoài bờ đê thủy lợi. Những đàn cò trắng ở đâu bay về đậu trên bờ ruộng xăm xắp nước và thong thả đi lang thang kiếm mồi. Không hiểu từ đâu mà tôi bỗng nảy sinh một sáng kiến là dùng cần câu cắm nhỏ để bẫy những chú cò đang vô tư kiếm ăn kia, bắt đem về làm thịt để bồi bổ thêm cho đứa con trai đầu lòng tuổi chưa đầy năm mà đã hai lần vô bệnh viện cấp cứu.

Nhưng vô ích. Dù đã dụ được vợ tôi để suốt cả buổi sáng bà phải  đạp xe ra chợ giữa cơn mưa mua cho được vài ba lạng cá ươn vụn đem về làm mồi, chẳng có chú cò nào ngu dại mắc bẫy của một anh thư sinh vụng về mới được cách mạng nông-dân- hóa sau gần 5 năm cải tạo.

Nhưng đêm đến, cơn mưa bỗng dưng nặng hạt rồi xối xả trút hết nước của cả bầu trời đầy mây xuống ruộng đồng. Những tưởng cơn mưa rồi cũng qua đi như mấy ngày mưa gió trước đó, nhưng đêm nay, khi cả nhà còn đang yên giấc thì tôi bỗng giật mình thức giấc khi nghe tiếng kêu hốt hoảng của mẹ tôi. Chân vừa bước xuống giường định tìm  đôi dép trong bóng tối mịt mùng thì bỗng nghe lạnh buốt. Nước đã lên mắt cá chân làm tôi rùng mình vì lạnh. Và cùng theo đó là những âm thanh ầm ỹ của bầy gia súc như cùng hòa theo một nhịp thúc dục tôi phải bước hẳn xuống giường: Con chó mực rền rĩ những tiếng ư ử nghe như tiếng khóc than;  con heo nái ục ịc cùng với bầy con  đang chạy quanh  như muốn phá chuồng tìm lối thoát.  Thậm chí bầy gà khoảng 10 con tưởng như yên bình trên "căn gác lửng" của chuồng heo cũng bị đánh thức bởi tiếng bầy heo đang kêu gào bên dưới làm chúng xao xác như đang gặp phải cáo.

Mọi người đều thức giấc, lo lắng, chỉ trừ cu Quán vẫn ngủ, một giấc ngủ bình an của tuổi ấu thơ. Không thể bỏ mặc cho mẹ con lũ heo dẫy chết, tôi lội nước đi tìm cái rổ sắt và với sự trợ giúp của bà xã, chúng tôi đem được cả 10 chú heo nhỏ chưa đầy tháng lên cái sập đựng lúa. Khổ sở với chúng vì vừa bỏ lên là nhiều con đã loăng quăng chạy rồi rơi tõm xuống nước. Cuối cùng phải dùng đến ba cái rổ để bỏ chúng vào trong rồi  đậy lại như ba cái lồng. Cũng vất vả và ì ạch lắm, cả hai vợ chồng mới kéo nổi con heo nái nặng gần tạ lên nhà trên và bưng chú đặt lên nằm bên cạnh. Bầy con kêu óc éc ló đầu ra đòi vú mẹ. Không được nên chúng kêu toáng lên, đạp lung tung có lúc làm cái lồng lăn xuống nước...Còn lại con chó mực thì được bồng lên ngồi co ro run rẩy trên cái bàn ăn nhỏ hình vuông đặt ngay cánh cửa sổ phía trước.

Nhìn quanh quất chỉ còn lại hai thùng phuy đựng đầy lúa nằm chênh vênh hai bên cửa chính. E rằng nước lụt làm sụp nền nhà làm đổ luôn lúa ra ngoài, tôi đã dùng dây mây buộc chúng vào hai cái cột nhà ở phía trước cửa,  rồi lắc lắc xem có chắc chắn không. Xong việc, tôi trở lại ngồi xuống cái ghế bào đặt dài theo cái bàn, nhìn dòng nước bạc đang dần lên cao lòng thầm bâng khuâng lo lắng.

Hút điếu thuốc rê Phú Lai được vấn bằng giấy bổi màu xám đen, tôi lắng nghe tiếng gió thổi vào những tàu lá chuối ở sau hè nghe phành phạch, tiếng mưa rơi rầm rập trên mái tôn nhà ông Vang, và thỉnh thoảng tiếng sấm sét nổi lên rầm rầm như đe dọa làm tôi thực sự lo ngại. Thế này e rằng nước lụt sẽ lên cao hơn nhiều và tự nhiên tôi lại liên tưởng đến hình ảnh của những căn nhà tranh nghèo nàn trôi bồng bềnh ngang qua ngõ nhà ông ngoại như những quả trứng gà với những tiếng kêu cứu tuyệt vọng của những nông dân ngồi co ro trên mái của trận lụt năm kỷ tỵ (1929) mà mẹ tôi thường kể lại. Hình ảnh ấy cứ lởn vởn trong óc và khi tôi nhìn thấy nước đã xâm xấp vạc giường làm vợ tôi phải bồng cu Quán ngồi lên thanh dọc thì tôi không thể chần chừ được. Tôi vội dục cả nhà chuẩn bị một ít quần áo để di tản qua nhà chị Anh, chị ruột tôi, vì  e rằng nếu còn chần chờ  thêm nữa, chúng tôi sẽ không còn đường rút và lúc đó thì hình ảnh của căn nhà trôi lềnh bềnh trong quá khứ xa xưa kia sẽ chính là căn nhà của tôi đêm nay.

May là chị Anh và anh Khinh có được căn nhà rường bề thế và vững chắc, vừa cất xong năm ngoái với các cột kèo xuyên trến đều làm bằng gỗ tốt, lợp ngói. Căn nhà được dựng trên một vị trí đắc địa, chỗ đất cao nhất xóm, nằm ngay mặt tiền đường làng. Trong khi đó, tuy ở cùng xóm nhưng nhà tôi chỉ là căn nhà tranh tre tạm bợ với các hàng cột bằng hai cọc sắt của quân đội Mỹ hàn ghép lại, lại nằm chơ vơ ngoài đồng trống. Nó được cất trên mảnh đất mà người xưa thường gọi là bán điền bán thổ, không đủ sâu cho nước thủy lợi vào để trồng lúa, cũng không đủ cao để làm nhà hay trồng các loại cây ngũ cốc khác. Đây là đám đất thuộc loại chó ỉa, cho không ai thèm lấy nhưng bà chị tôi lại có cái nhìn hơi khác người nên khi mẹ tôi từ Sài gòn trở về, bà đã yêu cầu hợp tác xã cấp cho mẹ tôi làm đất thổ cư.

Gần một năm sau, khi tôi từ trại cải tạo ở miền bắc xa xôi trở về, chị thường luận cho tôi nghe về cái hay của chị.  Sở dĩ chị chọn miếng đất này cho mẹ tôi vì để hai mẹ con sống gần nhau, chỉ cần băng qua nhà chị Diệm là đến nương nhà chị, để chị có thể qua lại thăm viếng săn sóc dễ dàng trong khi tôi chưa biết được ngày về. Thứ nữa, miếng đất nằm gần mương thủy lợi, lại hơi thấp nên nếu lấy đi một lớp khoảng 3 tấc để đắp nền nhà thì nó sẽ đủ sâu để biến thành một miếng  ruộng lúa nho nhỏ. Một năm có thêm tạ lúa trong bồ thì không lo chi đói. Lúc này lúa gạo đã lên ngôi, quý như vàng. Chị nói thế. Tôi tuy sau 5 năm được cách mạng giáo dục, vẫn chỉ là anh ba phải, ù ù cạc cạc, nghe chị ấy nói thấy cũng có lý. Mà có lý hay không cũng không thay đổi gì được nữa. Tất cả đều đã vào khuôn phép.

Dù phải vất vả đến mấy tháng trời, tôi cũng chỉ đắp được hơn 3 tấc rưỡi chiều  cao cho cái nền đất để cho anh Khinh, chồng chị Anh, cùng với sự giúp đỡ của anh em bà con  dựng lên căn nhà để mẹ con tôi, chị Liên và cháu Nga có chô sống tạm ổn định. Rồi hai năm sau, 1982, vợ tôi, rồi năm 1983, cu Quán lần lượt là hai thành viên mới của gia đình.

Dù hai nhà chị Anh và nhà tôi chỉ cách nhau chưa tới 100 mét theo đường chim bay, nhưng nếu theo đường mòn trong xóm thì phải xa đến gần 500 mét. Đường này lại phải đi qua chỗ trũng ở đập Rôộc Ngũ  dài khoảng 15 mét mà chỗ thấp nhất cho đến lúc này chắc nước đã lên tới cổ. Chỉ còn một cách duy nhất là đi ra ngã sau, băng qua sân nhà chị Diệm để tiến vào phía sau vườn với những vồn sắn của chị Diệm rồi của chị Anh, chỗ cao chỗ thấp. Sợ nhất là có cái hào khá sâu khoảng nửa mét và rộng cũng khoảng đó, được đào lên vừa làm ranh giới vừa làm lối thoát nước. Lối đi này  mọi người trong nhà của hai chị em vẫn thường dùng mỗi khi cần qua lại nhà nhau. Nhưng đó là ban ngày hay những đêm trăng sáng, và trời quang mây tạnh. Bây giờ thì trời tối  và phải mò mẫm trong dòng nước bạc, có chỗ cao tới ngực, lại thêm những cơn mưa như những ngọn roi quất vào mặt không ngớt làm tối tăm mặt mũi. Vì thế, ra đi  vào lúc này với một đoàn người già trẻ bồng bế nhau chẳng khác nào đi tìm đường sống trong cái chết. Nhưng rồi cũng phải liều thôi.

Dù đã nói hết lời nhưng chị Liên vẫn không chịu ra khỏi nhà, chúng tôi đành phải khăn gói ra đi. Một đoàn 5 người mà trong đó cu Quán chỉ hơn 8 tháng, bé Nga  hơn 10 tuổi, còn mẹ già thì đã gần 70. Tất cả theo tôi, mở cửa hông xuống  lều, ra khỏi nhà, dắt tay nhau lầm lũi từng bước một như một đoàn âm binh đi vào nơi mưa gió bão bùng. Ngoài tiếng mưa rơi lộp bộp trên mấy tấm che bằng ny lông mỏng mảnh, tiếng gió rít qua những rặng tre nhà chị Diệm và thỉnh thoảng là tiếng sấm sét ầm ỳ, trước mặt toàn một màu trắng xóa của nước. Ra khỏi sân là nước đã lên quá đầu gối, nhưng dù sao khi bước chân lên đường qua cửa đến sân nhà chị Diệm, tôi đã cảm thấy nhẹ nhàng và vui vẻ đôi chút. Niềm vui qua rất mau và sau đó mới thực sự là "đoạn đường chiến binh" vì khi bước ra phía sau hè nhà chị Diệm là gặp ngay những vồng sắn đã sũng nước làm cho đất mủn ra, đạp chân lên như đi trong đống bùn lỏng chỏng. Đến đây thì chút ánh sáng yếu ớt từ làn nước bạc phản xạ lên cũng bị che khuất bởi những bụi tre của hai nhà trồng cách khoảng làm hàng rào làm chân tôi bước hụt xuống cái rãnh sâu mà nước lên tới gần cổ. Khi qua khỏi hố, tôi dừng lại làm trụ đỡ cho mọi người lần lượt vượt qua, nhất là bé Nga thì tôi phải đưa lưng cho cháu ôm để đánh đu qua.

Qua khỏi vài vồng sắn nữa là lên sân nhà chị Anh chỉ mới xăm xắp nước. Tôi thở phào nhẹ nhõm như đã trút hết gánh nặng. Vậy là nhiệm vụ đã hoàn thành và khi cả nhà bước chân lên thềm nhà chị Anh thì tâm tư tôi thực sự thư giãn,  bỏ mặc lại đằng sau mọi lo toan về nhà cửa, lúa má, heo ca cùng các mất mát khác...

Đào Dân