Chạy Lụt - Đào Dân
hồi ký
Đó là một buổi chiều, một buổi chiều của năm 1983 với cơn mưa rả rích sau mấy ngày nặng hạt. Trước mặt nhà là một đồng ruộng trống mà lúa hè thu đã thu hoạch xong từ lâu nay trở thành một màu trắng xóa với làn nước bạc đang mấp mé ngoài bờ đê thủy lợi. Những đàn cò trắng ở đâu bay về đậu trên bờ ruộng xăm xắp nước và thong thả đi lang thang kiếm mồi. Không hiểu từ đâu mà tôi bỗng nảy sinh một sáng kiến là dùng cần câu cắm nhỏ để bẫy những chú cò đang vô tư kiếm ăn kia, bắt đem về làm thịt để bồi bổ thêm cho đứa con trai đầu lòng tuổi chưa đầy năm mà đã hai lần vô bệnh viện cấp cứu.
Nhưng vô ích. Dù đã dụ được vợ tôi để suốt cả buổi sáng bà phải đạp xe ra chợ giữa cơn mưa mua cho được vài ba lạng cá ươn vụn đem về làm mồi, chẳng có chú cò nào ngu dại mắc bẫy của một anh thư sinh vụng về mới được cách mạng nông-dân- hóa sau gần 5 năm cải tạo.Nhưng đêm đến, cơn mưa
bỗng dưng nặng hạt rồi xối xả trút hết nước của cả bầu trời đầy mây xuống ruộng đồng. Những tưởng cơn mưa
rồi cũng qua
đi như mấy ngày mưa gió trước đó, nhưng đêm
nay, khi cả nhà còn đang yên giấc thì tôi bỗng giật mình thức giấc khi nghe
tiếng kêu hốt hoảng của mẹ tôi. Chân
vừa bước xuống giường định tìm đôi dép trong bóng tối mịt mùng thì
bỗng nghe lạnh buốt. Nước đã lên mắt cá chân
làm tôi rùng mình vì lạnh. Và cùng theo đó là những âm thanh ầm ỹ của bầy gia súc
như cùng hòa theo một nhịp thúc dục tôi phải bước hẳn xuống giường: Con chó mực rền rĩ những tiếng ư ử nghe như tiếng khóc than; con heo nái ục ịc cùng với bầy con đang chạy quanh như muốn phá chuồng tìm lối
thoát. Thậm chí bầy gà khoảng 10 con
tưởng như yên
bình trên "căn gác lửng" của chuồng heo cũng
bị đánh thức bởi tiếng bầy heo đang
kêu gào bên dưới làm chúng xao xác như đang gặp phải cáo.
Mọi người đều thức giấc, lo lắng, chỉ trừ cu Quán vẫn ngủ, một giấc ngủ bình an của tuổi ấu thơ.
Không thể bỏ mặc cho mẹ con lũ heo dẫy chết, tôi lội nước đi tìm cái rổ sắt và với sự trợ giúp của bà xã, chúng tôi đem được cả 10 chú heo
nhỏ chưa đầy tháng lên
cái sập đựng lúa. Khổ sở với chúng vì
vừa bỏ lên là nhiều con đã
loăng quăng chạy rồi rơi tõm xuống nước. Cuối cùng phải dùng đến ba cái rổ để bỏ chúng vào trong rồi đậy lại như ba
cái lồng. Cũng vất vả và ì ạch lắm, cả hai vợ chồng mới kéo nổi con heo
nái nặng gần tạ lên nhà
trên và bưng chú đặt lên nằm bên cạnh. Bầy con kêu óc éc ló đầu ra đòi vú mẹ. Không được nên chúng
kêu toáng lên, đạp lung tung có lúc làm cái lồng lăn xuống nước...Còn lại con chó mực thì được bồng lên ngồi co ro run
rẩy trên cái
bàn ăn nhỏ hình vuông đặt ngay cánh cửa sổ phía trước.
Nhìn quanh quất chỉ còn lại hai thùng
phuy đựng đầy lúa nằm chênh
vênh hai bên cửa chính. E rằng nước lụt làm sụp nền nhà làm đổ luôn lúa ra ngoài, tôi đã dùng dây mây buộc chúng vào
hai cái cột nhà ở phía trước cửa, rồi lắc lắc xem có chắc chắn không.
Xong việc, tôi trở lại ngồi xuống cái ghế bào đặt dài theo cái bàn, nhìn dòng nước bạc đang dần lên cao
lòng thầm bâng khuâng lo lắng.
Hút điếu thuốc rê Phú
Lai được vấn bằng giấy bổi màu xám
đen, tôi lắng nghe tiếng gió thổi vào những tàu lá chuối ở sau hè nghe phành phạch, tiếng mưa rơi
rầm rập trên mái
tôn nhà ông Vang, và thỉnh thoảng tiếng sấm sét nổi lên rầm rầm như đe dọa làm tôi thực sự lo ngại. Thế này e rằng nước lụt sẽ lên cao hơn nhiều và tự nhiên tôi
lại liên tưởng đến hình ảnh của những căn nhà
tranh nghèo nàn trôi bồng bềnh ngang qua ngõ nhà ông ngoại như những quả trứng gà với những tiếng kêu cứu tuyệt vọng của những nông dân
ngồi co ro
trên mái của trận lụt năm kỷ tỵ (1929) mà mẹ tôi thường kể lại. Hình ảnh ấy cứ lởn vởn trong óc và khi tôi nhìn thấy nước đã xâm xấp vạc giường làm vợ tôi phải bồng cu Quán
ngồi lên thanh
dọc thì tôi
không thể chần chừ được. Tôi vội dục cả nhà chuẩn bị một ít quần áo để di tản qua nhà chị Anh, chị ruột tôi, vì e rằng nếu còn chần chờ thêm nữa, chúng tôi sẽ không còn
đường rút và
lúc đó thì hình ảnh của căn nhà trôi lềnh bềnh trong
quá khứ xa xưa kia
sẽ chính là
căn nhà của tôi đêm nay.
May là chị Anh và anh
Khinh có được căn nhà rường bề thế và vững chắc, vừa cất xong năm ngoái với các cột kèo xuyên
trến đều làm bằng gỗ tốt, lợp ngói. Căn
nhà được dựng trên một vị trí đắc địa, chỗ đất cao nhất xóm, nằm ngay mặt tiền đường làng.
Trong khi đó, tuy ở cùng xóm nhưng nhà tôi chỉ là căn nhà tranh
tre tạm bợ với các hàng
cột bằng hai cọc sắt của quân đội Mỹ hàn ghép lại, lại nằm chơ vơ
ngoài đồng trống. Nó được cất trên mảnh đất mà người xưa thường gọi là bán điền bán thổ, không đủ sâu cho nước thủy lợi vào để trồng lúa, cũng không đủ cao để làm nhà
hay trồng các loại cây ngũ cốc khác. Đây
là đám đất thuộc loại chó ỉa, cho không ai thèm lấy nhưng bà chị tôi lại có cái
nhìn hơi khác người nên khi mẹ tôi từ Sài gòn trở về, bà đã yêu cầu hợp tác xã cấp cho mẹ tôi làm đất thổ cư.
Gần một năm sau,
khi tôi từ trại cải tạo ở miền bắc xa xôi trở về, chị thường luận cho tôi nghe về cái hay của chị. Sở dĩ chị chọn miếng đất này cho mẹ tôi vì để hai mẹ con sống gần nhau, chỉ cần băng qua
nhà chị Diệm là đến nương nhà
chị, để chị có thể qua lại thăm viếng săn sóc
dễ dàng trong
khi tôi chưa biết được ngày về. Thứ nữa, miếng đất nằm gần mương thủy lợi, lại hơi thấp nên nếu lấy đi một lớp khoảng 3 tấc để đắp nền nhà thì nó sẽ đủ sâu để biến thành một miếng ruộng lúa nho
nhỏ. Một năm có thêm
tạ lúa trong
bồ thì không
lo chi đói. Lúc này lúa gạo đã lên ngôi, quý
như vàng. Chị nói thế. Tôi tuy sau 5 năm được cách mạng giáo dục, vẫn chỉ là anh ba
phải, ù ù cạc cạc, nghe chị ấy nói thấy cũng có
lý. Mà có lý hay không cũng không thay đổi gì được nữa. Tất cả đều đã vào
khuôn phép.
Dù phải vất vả đến mấy tháng trời, tôi cũng
chỉ đắp được hơn 3 tấc rưỡi chiều cao cho cái nền đất để cho anh
Khinh, chồng chị Anh, cùng với sự giúp đỡ của anh em bà con dựng lên căn
nhà để mẹ con tôi,
chị Liên và cháu
Nga có chô sống tạm ổn định. Rồi hai năm sau, 1982, vợ tôi, rồi năm 1983,
cu Quán lần lượt là hai thành viên mới của gia đình.
Dù hai nhà chị Anh và nhà
tôi chỉ cách nhau
chưa tới 100 mét
theo đường chim bay, nhưng nếu theo đường mòn
trong xóm thì phải xa đến gần 500 mét. Đường này lại phải đi qua chỗ trũng ở đập Rôộc Ngũ dài khoảng 15 mét
mà chỗ thấp nhất cho đến lúc này
chắc nước đã lên tới cổ. Chỉ còn một cách duy
nhất là đi ra
ngã sau, băng qua sân nhà chị Diệm để tiến vào phía
sau vườn với những vồn sắn của chị Diệm rồi của chị Anh, chỗ cao chỗ thấp. Sợ nhất là có cái
hào khá sâu khoảng nửa mét và rộng cũng khoảng đó, được đào lên vừa làm ranh giới vừa làm lối thoát nước. Lối đi này mọi người trong nhà
của hai chị em vẫn thường dùng mỗi khi cần qua lại nhà nhau.
Nhưng đó là ban ngày hay những đêm trăng sáng,
và trời quang mây
tạnh. Bây giờ thì trời tối và phải mò mẫm trong
dòng nước bạc, có chỗ cao tới ngực, lại thêm những cơn mưa như những ngọn
roi quất vào mặt không ngớt làm tối tăm mặt mũi. Vì thế, ra đi vào
lúc này với một đoàn người già trẻ bồng bế nhau chẳng khác nào đi tìm đường sống trong
cái chết. Nhưng rồi cũng phải liều thôi.
Dù đã nói hết lời nhưng chị Liên vẫn không chịu ra khỏi nhà,
chúng tôi đành phải khăn gói ra đi. Một đoàn 5 người mà trong
đó cu Quán chỉ hơn 8 tháng, bé Nga hơn 10 tuổi, còn mẹ già thì đã
gần 70. Tất cả theo tôi,
mở cửa hông xuống lều, ra khỏi nhà, dắt tay nhau
lầm lũi từng bước một như một đoàn âm
binh đi vào nơi mưa gió bão bùng. Ngoài tiếng mưa rơi
lộp bộp trên mấy tấm che bằng ny lông
mỏng mảnh, tiếng gió rít
qua những rặng tre nhà
chị Diệm và thỉnh thoảng là tiếng sấm sét ầm ỳ, trước mặt toàn một màu trắng xóa của nước. Ra khỏi sân là nước đã lên
quá đầu gối, nhưng dù
sao khi bước chân lên đường qua cửa đến sân nhà chị Diệm, tôi đã cảm thấy nhẹ nhàng và vui vẻ đôi chút. Niềm vui qua rất mau và
sau đó mới thực sự là "đoạn đường chiến binh" vì khi bước ra phía sau hè
nhà chị Diệm là gặp ngay những vồng sắn đã sũng
nước làm cho đất mủn ra, đạp chân lên
như đi trong đống bùn lỏng chỏng. Đến đây thì chút ánh sáng yếu ớt từ làn nước bạc phản xạ lên cũng bị che khuất bởi những bụi tre của hai nhà
trồng cách khoảng làm hàng
rào làm chân tôi bước hụt xuống cái rãnh sâu mà nước lên tới gần cổ. Khi qua
khỏi hố, tôi dừng lại làm trụ đỡ cho mọi người lần lượt vượt qua, nhất là bé Nga
thì tôi phải đưa lưng cho cháu ôm để đánh đu qua.
Qua khỏi vài vồng sắn nữa là lên
sân nhà chị Anh chỉ mới xăm xắp nước. Tôi thở phào nhẹ nhõm như đã trút hết gánh nặng. Vậy là nhiệm vụ đã hoàn
thành và khi cả nhà bước chân lên thềm nhà chị Anh thì tâm tư tôi thực sự thư
giãn, bỏ mặc lại đằng sau
mọi lo toan về nhà cửa, lúa má,
heo ca cùng các mất mát khác...
Đào Dân
