Wednesday, August 17, 2022

Lịch Sử Tỉnh Quảng Trị 





Thời Hùng Vương- An Dương Vương, vùng đất Quảng Trị nằm trong bộ Việt Thường và đến khi thuộc Hán, nằm ở quận Nhật Nam.

Từ thế kỷ IV đến thế kỷ X, cả khu vực này là các châu: Ma Linh, Địa Lý, Ô, Lý. Đến thế kỷ thứ XI đổi tên Địa Lý làm Lâm Bình, Ma Linh làm Minh Linh. Năm 1307 đổi Ô, Lý, làm hai châu Thuận Hóa. Năm 1375, Trần Duệ Tông sai đổi Lâm Bình là phủ Tân Bình. Năm 1400, Hồ Qúy Ly đổi Tân Bình thành Tây Bình. Năm 1411, dưới thời thuộc Minh, Tây Bình đổi gọi là Tân Bình gồm 37 xã, 2.132 hộ và 4.738 người, còn phủ Thuận Hóa có 79 xã, 1.470 hộ và 5.662 người. Thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1.466), địa phương nằm trong Thừa tuyên Thuận Hóa, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) định bản đồ thiên hạ, Thừa tuyên Thuận Hóa có hai phủ: phủ Tân Bình gồm 2 huyện, 2 châu (trong đó châu Minh Linh có 8 tổng 63 xã), phủ Triệu Phong gồm 6 huyện, 2 châu (trong đó huyện Hải Lăng 7 tổng 75 xã, huyện Vũ Xương 8 tổng, 53 xã, châu Sa Bôi 10 tổng 68 xã, châu Thuận Bình 6 tổng, 26 xã).

Năm 1558, Nguyễn Hoàng được sai vào trấn thủ Thuận Hóa, đóng dinh ở Gò Phù Sa xã Ái Tử huyện Vũ Xương. Từ đây vùng đất Thuận Hóa thuộc cương vực Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Quá trình phân tranh Trịnh- Nguyễn suốt trong các thế kỷ XVII-XVIII đã chia cắt khu vực này thành Đàng Trong. Với yêu cầu nhanh chóng củng cố và mở rộng thế lực, các chúa Nguyễn đã áp dụng những chính sách kinh tế- xã hội tích cực hơn so với tập đoàn phong kiến Đàng Ngoài. Họ cho phép nhiều người nước ngoài nhập cư vào Đàng Trong, đặc biệt là người Hoa sau khi Mãn Thanh thống nhất Trung Quốc (1644). Hàng loạt điểm tụ cư của người Hoa với lối sống và phương thức làm ăn của họ đã làm phong phú và đa dạng thêm hoạt động văn hóa và kinh tế của Đàng Trong. Năm 1801, sau khi giành lại được chính quyền, Nguyễn Ánh đã lập dinh Quảng Trị bao gồm đất đai các huyện Hải Lăng, Đăng Xương (tên cũ là Vũ Xương), Minh Linh và đạo Cam Lộ mới lập. Năm 1806 Quảng Trị trở thành dinh trực lệ thẳng vào Kinh sư Huế. Năm 1822, đặt châu Hướng Hóa lệ vào đạo Cam Lộ. Năm 1827 Quảng Trị đổi là trấn, không còn trực lệ và đặt 9 châu thuộc đạo Cam Lộ. Năm 1830 giao cho tri phủ Triệu Phong kiêm lý Minh Linh, thống hạt Đăng Xương, Hải Lăng. Năm 1832 trấn Quảng Trị đổi là tỉnh, đạo Cam Lộ đổi là phủ và cho tri phủ ở đây kiêm lý châu Hướng Hóa và thống hạt 9 châu. Năm 1836, đặt huyện Địa Linh và giao cho phủ Triệu Phong kiêm lý Đăng Xương, thống hạt 3 huyện Địa Linh, Minh Linh, Hải Lăng. Năm 1850 đổi Hướng Hóa thành Thành Hóa. Năm 1853 hợp nhất tỉnh Quảng Trị với phủ Thừa Thiên thành đạo Quảng Trị. Năm 1876 lập lại tỉnh Quảng Trị gồm 2 phủ Triệu Phong, Cam Lộ và 4 huyện. Huyện Đăng Xương đổi là Thuận Xương. Huyện Địa Linh đổi là Gio Linh. Huyện Minh Linh đổi là Chiêu Linh, huyện Hải Lăng vẫn giữ tên cũ. Đến ngày 3-5-1890, toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định hợp Quảng Trị với tỉnh Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị, dưới quyền công sứ Đồng Hới. Ngày 23-1-1896, toàn quyền Đông Dương ra nghị định rút Quảng Trị ra khỏi địa hạt thuộc quyền công sứ Đồng Hới, cùng Thừa Thiên dưới quyền Khâm sứ Trung Kỳ, đặt một phó công sứ đại diện cho Khâm sứ ở Quảng Trị. Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách Quảng Trị khỏi Thừa Thiên, lập thành một tỉnh riêng biệt gồm 4 phủ Triệu Phong (huyện Thuận Xương cũ), phủ Hải Lăng, phủ Vĩnh Linh (huyện Chiêu Linh cũ), phủ Cam Lộ và huyện Gio Linh. Ngày 17-2-1906, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Quảng Trị cho phép được thu một số thuế trong nội hạt nộp vào ngân sách hàng tỉnh. Năm 1908, phủ Cam Lộ tách 3 tổng người Kinh lập thành huyện Cam Lộ và 9 tổng người dân tộc thiểu số lập thành huyện Hướng Hóa. Ngày 11-3-1914 vua Duy Tân ra đạo dụ và ngày 18-2-1916 được toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuẩn y cho phép thị xã Quảng Trị có thu nhập và ngân sách riêng. Ngày 5-9-1929, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị trấn Đông Hà thuộc phủ Triệu Phong.

Cuối tháng 7-1954, theo Hiệp định Giơnevơ, sông Hiền Lương được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời chia đôi tỉnh Quảng Trị. Đại bộ phận các huyện, thị xã, thị trấn và một số thôn, xã của Vĩnh Linh ở phía Nam giới tuyến thuộc tỉnh Quảng Trị do chính quyền miền Nam quản lý.

Trường Nguyễn Hoàng

Trường Trung Học Nguyễn Hoàng là trường trung học công lập duy nhất tại tỉnh Quảng Trị mang tên Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613), người đã có công mở mang bờ cõi nước ta (xin vào: Chúa Tiên Nguyễn Hoàng để đọc thêm về Ngài).

Sơ khởi, một nhóm thân hào nhân sĩ và phụ huynh có lòng đã đứng ra vận động và được chính quyền cho phép thành lập một trường trung học để giúp đỡ con em trong việc học hành. Trường chính thức hoạt động với tên là trường Trung Học Tư Thục Quảng Trị vào mùa hè 1951. Đến niên khóa 1952-1953, trường được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho phép công lập hóa với tên là trường Trung Học Công Lập Quảng Trị. Lúc này trường chỉ có năm lớp: hai lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ), hai lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ), và một lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ). Hiệu trưởng lúc này là Thầy Tôn Thất Dương Thanh, trưởng ty tiểu học kiêm nhiệm.

Đến niên học 1953-1954, trường được hội đồng giáo sư đề nghị đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Hoàng và được Bộ Giáo Dục chấp thuận theo nghị định số 95 GD/NĐ ngày 6/5/1954. Đây là niên khóa đầu tiên học sinh Nguyễn Hoàng tham dự kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp với số thí sinh trúng tuyển trên 20 người. Thầy Tôn Thất Dương Kỳ được bổ nhiệm thay thầy Tôn Thất Dương Thanh làm hiệu trưởng.

Qua đầu niên khóa 1955-1956, trường được cấp kinh phí để xây dựng một ngôi trường khang trang hơn với hai tầng và tám phòng học bên cạnh sân vận động tỉnh, đối diện trường Nữ Tiểu Học. Trường có 11 lớp với trên 500 học sinh. Thầy Chu Duy Khánh làm hiệu trưởng thay thầy Tôn Thất Dương Kỳ.

Niên khóa 1957-1958, thầy Thái Mộng Hùng, đương kim giáo sư của trường, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng thay thầy Chu Duy Khánh về hưu.

Năm học 1958-1959, khuôn viên của trường được mở rộng thêm nhờ trường Nữ Tiểu Học dọn về cơ sở cũ của trường Nguyễn Hoàng. Lúc này trường mở thêm hai lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ). Tổng số lớp lúc này là 15 lớp.

Năm học 1959-1960, trường mở thêm một lớp đệ thất và một lớp đệ tam và từ đây trường sẽ có một Tổng Giám Thị.

Trường mở lớp đệ nhất (lớp 12) đầu tiên vào niên khóa 1962-1963 và được công nhận là trường Trung Học Đệ Nhị Cấp. 

Đến niên khóa 1968-1969, trường đã có trên 50 lớp.

Niên khóa 1970-1971, tỉnh Quảng Trị được Bộ Giáo Dục cho phép mở thêm một trường nữ trung học đặt tại quận Mai Lĩnh nhưng vì trường này chưa có hiệu trưởng nên trường Nguyễn Hoàng phải đảm nhiệm việc giảng dạy và quản lý. Tổng số lớp lúc này là 60 lớp với hơn 3000 học sinh và trên 100 giáo sư và nhân viên hành chính.

Chiến sự bùng nổ dữ dội vào năm 1972 làm cho người dân Quảng Trị và thầy trò trường Nguyễn Hoàng phải rời bỏ quê để chạy vào Đà Nẵng. Tại đây, trường vẫn tiếp tục hoạt động tại trại tạm cư Non Nước và Hòa Khánh với hơn 40 lớp.

Đến năm học 1973-1974, trường được chuyển từ Đà Nẵng về khu thị tứ Diên Sanh, Quảng Trị. Thầy Hoàng Văn Liệu làm hiệu trưởng thay thầy Thái Mộng Hùng đi làm Chánh Sự Vụ sở Học Chánh tỉnh. 

Tháng 4, 1975, Việt Nam Cộng Hòa mất. Trường Trung Học Nguyễn Hoàng cũng mất theo. Trên khuôn viên trường cũ, người ta xây một ngôi trường mới nhưng đó không thể là trường Nguyễn Hoàng. Trường Nguyễn Hoàng xưa giảng dạy theo ba nguyên tắc: nhân bản, dân tộc, khai phóng chứ không phải tuân theo một chủ thuyết ngoại lai nào.

(Sưu tần trên internet)