TRANG SINH HOẠT CỦA BÀ CON QUẢNG TRỊ BẮC CALIFORNIA & THÂN HỮU YÊU MẾN QUẢNG TRỊ
▼
Friday, August 26, 2022
Nhân
ngày húy nhật của Đức Trần Hưng Đạo: Thử nhìn lại cuộc chiến thắng đại hùng của dân tộc Việt trước vó ngựa xâm lăng Nguyên Mông- Lê Đình Cai
Đoàn
quân viễn chinh hung bạo của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) thuộc đế quốc Mông
Cổ đang tung hoành trên khắp các đại lục từ Á sang Âu và không có một sức mạnh
nào có thể ngăn cản được. Thế mà khi đến xâm lăng bờ cõi Đại Việt, đạo quân
bách chiến bách thắng này đã bị đánh tan tành, không còn manh giáp.
1). Chống đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất
(1258):
Đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai
(wouleangotai) gồm khoảng 30 ngàn quân theo lưu vực sông Hồng tiến xuống uy hiếp
phía bắc ngày 17-1-1258 rồi tràn vào thành Thăng Long một cách dễ dàng. Vua
quan nhà Trần phải dời về vùng Thiên Mạc (Khoái Châu, Hải Hưng) và cho lệnh thực
hiện kế hoạch “vườn không, nhà trống”, khiến binh lính của đế quốc Mông Cổ
không thể tìm ra được lương thực để nuôi quân và chỉ hơn 10 ngày sau, quân ta từ
Thiên Mạc do Trần Quốc Tuấn điều động ngược dòng sông Hồng tiến công vũ bão vào
Đông Bộ Đầu (gần Cầu Long Biên – Hà Nội) khiến địch quân phải trốn chạy về hướng
tây bắc nhưng bị vị chủ tướng người thiểu số là Hà Bổng chận đánh và tiêu diệt
tại Quy Hóa. Bại binh của đoàn quân xâm lược đạp lên nhau mà chạy về hướng Vân
Nam, không dám quay đầu nhìn lại. Thế là vua quan nhà Trần cùng toàn quân Đại
Việt đã anh dũng ngăn chận được cuộc xâm lăng của đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất
(1258). 2). Chống xâm lăng Nguyên Mông lần thứ
hai (1285): Đế quốc Mông Cổ từ đầu thế kỷ 13, đã
bành trướng sức mạnh và thống trị nhiều nước từ bờ biển Thái Bình Dương đến bờ
biển Hẳc Hải, đã đánh bại triều đình nhà Nam Tống, chiếm lĩnh toàn bộ Trung Quốc.
Năm 1260, Hốt Tất Liệt (Koubilai) xưng vương và đến năm 1271 công bố thành lập
triều đại nhà Nguyên, và đặt quốc hiệu là Đại Nguyên.
Mặc dù thắng được quân Mông, nhưng vua
quan nhà Trần cũng phải chiều ý Hốt Tất Liệt để theo lệ triều cống hầu củng cố
binh đội, định an xã tắc, tính kế lâu dài. Nhà Nguyên sau khi ổn định được quyền
cai trị, nhớ lại hận xưa và muốn chiếm giữ luôn lãnh địa nước Nam nên nhân khi
Trần Di Ái (chú của vua Trần Nhân Tông) muốn làm phản bèn phong cho làm An Nam
Quốc Vương và sai Sãi Thung dẫn 1000 quân đưa Ái về nước. Vua Trần sai quân đi
đánh lũ nghịch thần. Trần Di Ái và đồng bọn bị bắt, còn Sãi Thung bị thương ở mắt
rất nặng phải trốn chạy về Tàu. Vua nhà Nguyên giận lắm, bèn sai con là Thoát
Hoan cùng tướng Toa Đô và Ô Mã Nhi dẫn 50 vạn quân tiến đánh nước Nam. Năm 1282, được tin nhà Nguyên mượn cớ
đánh Chiêm Thành, đang chuyển quân uy hiếp nước ta, vua Trần đã cho lệnh triệu
tập hội nghị Bình Than (Làng Bình Than thuộc Tổng Vạn Ti, huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh), gồm các vương hầu và quan lại, tướng soái cao cấp để bàn kế sách đối
phó. Vua Trần Nhân Tông đã cử Trần Quang Khải giữ chức Thượng Tướng Thái Sư và
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh toàn bộ
quân cơ triều đình để chuẩn bị chống phá quân xâm lược.
Năm 1284, Hưng Đạo Vương truyền hịch
kêu gọi tướng sĩ và ba quân một lòng một dạ quyết tâm ngăn chận quân thù. “Hịch
Tướng Sĩ” này đã cổ vũ lòng hăng say, ý chí quyết chiến của toàn dân qua Hội
Nghị Diên Hồng được triệu tập vào đầu năm 1285.
“Hịch Tướng Sĩ” đúng là tuyên ngôn cứu
nước bằng lời lẽ thiết tha, chất chứa căm hờn (đối với quân cướp nước), và tràn
đầy dũng khí, như tiếng kèn thúc quân ra trận: “Huống chi ta cùng các ngươi
sinh ở đời nhiễu – nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ
đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều đình, đem thân dê
chó mà bắt nạt tổ phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt, mà đòi ngọc lụa, ỷ thế Vân nam
vương (6) để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như
đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!
“Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì
quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt
lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa,
thì cũng đành lòng”.
(Trần
Trọng Kim, Vietnam Sử Lược, nxb Đại Nam tái bản ở Hoa Kỳ không đề năm, trang 140). Trước khí thế như chẻ tre của đoàn
quân Thoát Hoan và khi thấy Hưng Đạo Vương lui quân về Vạn Kiếp, vua Trần Nhân
Tông mới bảo rằng: “Thế giắc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại,
hay là trẩm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân” (Trần Trọng Kim, sđd, tr. 139).
Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà
tôn miếu, xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu thần đi
đã, rồi sau sẽ hàng”. Vua nghe nói vậy mới an tâm và quyết lòng chống trả quân
xâm lược. Tuy thế, quân Nguyên đã tiến chiếm Bắc Ninh, Thăng Long, Thiên Trường
và cả Nghệ An cũng bị Toa Đô chiếm đóng. Nhưng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vẫn
một lòng kiên trung, tìm kế ngăn giặc không bối rối sợ xệt, phò Trần Nhân Tông
cùng tùy tùng ra Thanh Hóa.
Thời tiết bây giờ chuyển sang mùa hè,
trời nóng như thiêu như đốt, lại thiếu lương thực nên quân xâm lược nhà Nguyên
ngày càng bệnh tật, mệt mỏi, nhuệ khí không còn mạnh như trước. Trong khi đó,
quân ta cứ lùi dần theo sách lược đã vạch để phân tán địch quân. Qua tháng
5/1285, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên bắt đầu chuyển qua thế công, bằng trận
chiến thắng hải thuyền của Toa Đô ở Hàm Tử Quan (thuộc huyện Đông An, Hưng
Yên), khiến địch quân phải lùi về cửa biển Thiên Trường. Nương đà thắng lợi
này, vua Trần sai Trần Quang Khải chuẩn bị binh đội để giải phóng thành Thăng
Long. Trận đáng thắng quân Thoát Hoan ổ Chương Dương khiến địch quân phải bỏ
Thăng Long chạy qua sông Hồng để giữ mặt Kinh Bắc (Bắc Ninh). Tại mặt trận Tây
kết, Toa Đô bị quân ta bắn tên trúng và cắt thủ cấp đưa về dâng vua Trần Nhân
Tông, còn Ô Mã Nhi may mắn trốn thoát được về Tàu.
Rồi tại trận Vạn Kiếp, quân Thoát Hoan
đã không đương cự nỗi với đại quân của ta, phải chui ống đồng để tàn quân kéo
chạy về Tàu. Thế là chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 12/1284 đến 6/1285) 50 vạn
quân Mông Cổ do Thoát Hoan chỉ huy đã bị đuổi ra khỏi bờ cõi nước ta. Quân dân
Đại Việt lại oanh liệt chiến thắng sự xâm lăng của Nguyên Mông lần thứ hai
(1284-1285). 3). Chống xâm lăng Nguyên Mông lần thứ
ba (1287-1288):
Đại Nguyên là một quốc gia hùng mạnh,
chưa từng nếm mùi thất bại trên đường xâm lược thế mà Thoát Hoan, con trai của
Nguyên đế Hốt Tất Liệt đã phải cùng bại binh trở về trong tủi hổ. Nhà vua tức
giận, ra lệnh bãi bỏ kế hoạch xâm lăng Nhật Bản đã được chuẩn bị từ trước để dồn
toàn lực vào việc phục hận vua Trần.
Tháng 12 năm 1287, Nguyên đế sai Thoát
Hoan thống lĩnh đại binh hơn 30 vạn sang đánh nước ta, giã danh đưa phản thần
Trần Ích Tắc về nước, lập làm An Nam Quốc Vương. Lần này cũng vẫn Hưng Đạo
Vương thống lĩnh các vương hầu, chỉ huy toàn quân thủy bộ để phòng chống xâm
lăng.
Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” của sử
gia Ngô Sĩ Liên thuộc triều Lê khi đề cập đến cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân
Nguyên Mông đã kể lại:
Được tin quân Nguyên lại sang xâm lược,
Trần Nhân Tông hỏi Trần Hưng Đạo: “Thế giặc năm nay thế nào?” Vị tướng thiên
tài thống lĩnh toàn quân đó trả lời: “Nếu quân giặc lại sang thì quân ta đã
quen đánh trận mà chúng thì sợ đi xa, lại bị thất bại của Hằng, Quán đe dọa, không
có chí chiến đấu. Cứ ý thần xem thì tất thế nào ta cũng phá được chúng”. Khi
quân Nguyên kéo vào biên giới, Trần Hưng Đạo lại nhận định: “Năm nay, giặc đến
dễ đánh!”. (Ngô
Sĩ Liên, “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, nxb khoa học xã hội, HN bản dịch, 1967, tập
II, tr. 59) Quân Nguyên chia thành ba cánh để tiến
vào xâm lăng Đại Việt: Cánh từ Quảng Tây cánh từ Vân Nam sang bằng bộ binh và kỵ
binh, cánh khác bằng thủy binh từ phía biển theo sông Bạch Đằng tiến vào. Hưng
Đạo Vương theo chiến thuật vừa đánh để kiềm chế, tiêu hao sinh lực địch, vừa tổ
chức lui quân để bảo toàn lực lượng.
Tháng 2-1288, quân Nguyên vượt sông Hồng
tiến công thành Thăng Long, triều đình phải tạm thời rút khỏi kinh thành, về
vùng hạ lưu sông Hồng. Tháng 3-1288, lấy kinh nghiệm thất bại của lần trước,
Thoát Hoan, đã ra lệnh đốt phá thành Thăng Long rồi rút về đóng quân ở Vạn Kiếp.
Nhưng quân xâm lăng ở đây đã gặp phải sức chống cự mạnh của các lực lượng dân
quân du kích, quân số hao hụt dần, lương thực ngày càng cạn kiệt vì chính sách
“vườn không nhà trống”; lại nữa, thuyền lương tiếp tế cho quân Nguyên do Trương
Văn Hổ chỉ huy đã bị Trần Khánh Dư đánh đắm ở cửa biển Lục Thủy Dương. Trước
tình thế vô cùng nguy khốn này, Thoát Hoan phải đi đến quyết định rút quân theo
hai hướng: Ô Mã Nhi chỉ huy đội thủy binh được lệnh rút lui trước theo sông Bạch
Đằng, còn Thoát Hoan đi đường bộ theo hướng Lạng Sơn mà rút về nước. Nhưng đội
thủy quân của Ô Mã Nhi đã bị Hưng Đạo Vương đập tan bằng cách cho đóng cọc gỗ đẽo
nhọn xuống long sông theo chiến thuật của Ngô Quyền từ thuở phá tan quân nhà
Hán cuối năm 938 (thế kỷ thứ 10) cũng trên dòng sông Bạch Đằng này. Các tướng
giặc như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ . . . đều bị bắt sống. Quân của Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn thu được hơn 400 chiến thuyến. Vô số quân giặc chết đuối đầy
sông và toàn bộ thủy binh của quân xâm lược đều bị tiêu diệt.
Riêng Thoát Hoan theo đường Lạng Sơn để
lui quân nhưng đã bị phục binh truy kích và cũng bị tổn thất nặng nề. Thoát
Hoan trên đường chạy bộ về ải Nổi Bàng, bổng gặp quân Phạm Ngũ Lão chờ sẵn để tấn
công. Tướng Trình Bằng Phi phải cố gắng bảo vệ Thoát Hoan, mở đường máu chạy ra
Đan Kỷ, rồi qua Lộc Châu và theo đường tắt để về Tàu. Thế là chấm dứt mộng xâm
lăng nước Đại Việt lần thứ ba của đế quốc Nguyên Mông. Khi trở lại Thăng Long, vua Trần Nhân
Tông sai mở tiệc khao thưởng tướng sĩ và cho dân mở hội ăn mừng ba ngày trời. Dịp này, Thái Thượng Hoàng (Trần Thánh
Tông) đã làm hai câu thơ:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Xã tắc hai phen bon ngựa đá Non sông thiên cổ vững ân vàng).
Trong một thời gian 30 năm
(1258-1288), dân tộc Đại Việt đã phải trải qua ba lần kháng chiến chống quân
xâm lược từ phương Bắc. Ba lần đương đầu với một đội quân dũng mãnh của đế quốc
Nguyên Mông, một triều đại đã từng xua quân dẫm nát cả một vùng đất rộng lớn từ
Á sang Âu và đe dọa khống chế toàn cầu nếu không bị dân quân anh hùng của quốc
gia Đại Việt quyết tâm ngăn chận và đánh bại. Sự chiến thắng lẫy lừng của vua
quan nhà Trần và của toàn dân Đại Việt đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới
khâm phục và kính nể, nhất là các vương triều đã từng bị giày xéo dưới vó ngựa
xâm lăng của Thành Cát Tư Hãn. Bằng sức mạnh đoàn kết của toàn dân (qua hội nghị
Bình Than, hội nghị Diên Hồng), bằng sự lãnh đạo sáng suốt, anh minh của các vị
vua nhà Trần, với chính sách trọng dụng người tài chân thành, cởi mở, không
phân giai cấp (rất nhiều tướng sĩ xuất thân từ hàng dân dã như Phạm Ngũ Lão; từ
gia nô như Nguyễn Địa Lô, Yết Kiếu, Dã Tượng . . ., nước Đại Việt đã tạo thành
kỳ tích có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của toàn thế giới vào thế
kỷ XIII. Và khuôn mặt cầm quân lẫy lòng sáng chói trong ba lần kháng chiến chống
đế quốc Mông Nguyên đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mà hôm nay chúng ta
đang thành kính tưởng niệm nhân dịp húy nhật của Ngài.
Lê
Đình Cai (Viết
để ghi nhớ công lao vĩ đại của tiền nhân trên dòng sử Việt . . .)