…. Câu Chuyện Về Yersin - Sưu tầm
Giới thiệu:
Sau năm 1984, tôi ra khỏi trại tù cộng sản, về tạm sống ở Nha Trang, một
hôm cùng người thân lướt ngang qua Viện Pasteur nghe kể lại sau 75 bì thư tỉnh ủy
Nha Trang Khánh Hòa từng chỉ vào mặt tượng bác sĩ Yersin mắng rằng: “tên thực dân
này sao còn ở đây… nên xóa sạch”.
Tôi không bình thêm vể trình độ nhận thức của giới quan tỉnh một thời, chỉ đăng lại bài viết
này để tưởng niệm và ghi ân vị bác sĩ nhân ái đạo đức hy sinh cả cuộc đời
với lý tưởng sống.
Nếu nói vể trình độ hạn hẹp của giới quan quyền CS sau 75 khi họ vào Nam thì vô
cùng vô tận, nhân dân miền Nam ai cũng thừa rõ, đã chất thành kho truyện tếu dân
gian, xin miễn bàn thêm.
Kính mời đọc bài sưu tập sau đây.
Trân trọng.
Cà
pháo, cà chua, cà rốt và cà phê
Dịch hạch là căn bệnh
khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số
châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra
vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là
một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2
chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y
khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư
Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên
tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá.
Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ
thủ tàu viễn dương “dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ”. Ông nói “đời
mà không đi, thì còn gì là đời”.
Các lần đi thám hiểm
và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur “mời ăn tối và nghe báo
cáo”, “thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể”.
Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để “vang danh thiên
hạ, giúp nhân loại”. Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn
hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc
ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ
TƯỞNG SỐNG.
Sang Việt Nam, ông làm
bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang,
sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20,
ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông
Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức
cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam
theo khoảng cách địa lý để “ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị
kịp thời”.
Nhưng Hà Nội cũng chỉ
có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi
những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã
tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà
Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy
huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất
châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong
muốn Diên Khánh là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương..
Ông cũng là người thực
nghiệm nhiều giống cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử
nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình nhưng lúc
đó chưa thành công), và bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu từ
các nông sản này. Ông mang nhiều giống cây ôn đới trồng ở khu vực Đà Lạt vừa
khám phá, như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xông cà chua… (hầu
như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp). Ông còn nuôi thử cừu, trồng
thử nho ở Phan Rang, nuôi thí nghiệm đà điểu ở Ninh Hoà, gà Tây (turkey) ở Đồng
Nai, tuy chưa thành công nhưng sau đó có người triển khai tiếp.
Ông cũng là 1 triệu
phú nhờ có nhiều farm trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và đồng
thời là cổ đông lớn của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng “tôi phải kiếm
tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân”. Toàn bộ
tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện
và quỹ nghiên cứu khoa học.
Với tầm nhìn vĩ đại,
bác sĩ Yersin không chỉ làm khoa học mà còn giỏi nhiều thứ. Ngoài việc mang
sang cho chúng ta bao nhiêu giống cây trồng vật nuôi mới lạ, khám phá và xây
dựng Sapa Đà Lạt Bà Nà… thành những nơi du lịch nghỉ dưỡng, ông còn tham gia
quy hoạch đô thị khu trung tâm Sài Gòn Hà Nội Nha Trang Đà Nẵng Hải Phòng, ranh
giới các tỉnh… mà chúng ta ngày nay hay có cụm từ “ngày xưa người Pháp
đã quy hoạch chỗ này là, chỗ kia là..”.
Ông đã giúp người Việt
chúng ta có được nền tảng kinh tế ban đầu từ một nước thuần nông lạc hậu, những
công trình về hạ tầng, giáo dục, y tế. Do chính quyền Pháp khi đó rất tín cẩn
ông, vì ông đi nhiều khám phá nhiều. Hầu như mọi ngóc ngách ở Lào, Việt Nam và
Campuchia đều có dấu chân ông. Núi cao vực sâu, thú dữ, bệnh tật… không hề làm
ông nản bước.
Ông luôn yêu cầu Pháp
phải xây dựng ít nhất ở mỗi tỉnh một trường trung học lớn và 1 bệnh viện đủ để
chữa trị hết cho cư dân tỉnh đó. Ông còn yêu cầu chính phủ Pháp đầu tư tiền để
xây đường sắt Bắc Nam từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn, hiện chúng ta vẫn còn đang
khai thác. Con đường quốc lộ 1A thời đó là con đường đất nhỏ xíu (gọi là con
đường cái quan) bề rộng chỉ có 2-3 mét từ thời chúa Nguyễn đã được ông “bày vẽ”
cho kè đá, rải nhựa, mở rộng nâng cấp để xe ô tô có thể chạy được.
Ông nói phải ưu tiên
làm con đường to nhất, tốt nhất gọi là quốc lộ, chạy ngang qua hết các tỉnh ven
biển để người dân tỉnh nào cũng có thể hưởng lợi từ giao thông. Đường sắt leo
dốc Phan Rang đi Đà Lạt cũng là ông tư vấn cho toàn quyền Doumer làm. Các trạm
khí tượng từ Sapa đến Mẫu Sơn đến Bạch Mã, các ngọn hải đăng ngoài biển mà
chúng ta thường nói “do Pháp xây” là do ông chọn vị trí. Những
gì ông có thể nghĩ ra, ông đã làm tất cả cho người Việt. Không rõ dải đất hình
chữ S này, dân tộc này có gì mà khiến ông yêu thương đến thế.
Ông sống 1 mình, giản
dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đời đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và
thành tựu, sự kính trọng và thương yêu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh
đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu. Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem
phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông
bảo “thôi đừng la trẻ nhỏ, mình lớn tiếng chúng sẽ sợ”.
Một lần ông lái xe hơi
trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người
đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên
quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông “dân chúng xứ
này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng nhẹ
để không gây thương vong cho họ”.
Có lần ông lên Tây
Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào
mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ lại thả ông ra. Ông
sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn..
Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh
tật, đói kém…. của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm.. Ông không có vợ con
vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha
mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí
thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá
bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù
tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế
giới, ông vẫn khăn gói xuống tàu đi đến một miền đất nghèo xa lạ. Ông nói “tôi
mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và sẽ phụng sự tính mạng
và cuộc đời tôi cho họ”.
Giây phút cuối đời,
ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nhìn những
con sóng vỗ ghi dấu 1 cuộc đời dọc ngang, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin
ông mất, người dân Nha Trang vội vã bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu
bè ngoài biển ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày, cập bến vô xóm
Cồn, như cha mẹ mình mất vậy. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm
tiền bạc danh lợi mỗi ngày, cởi cái nón lá Việt Nam quen thuộc và tự động lấy
khăn tang đeo lên đầu. Người dân vừa đi vừa khóc, đám tang dài hàng cây số để
đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Di chúc ông ghi giản dị “Tôi muốn được an
táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi
Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi
tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm
việc với tôi”.
Người dân khắp nơi yêu
quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã giúp hàng triệu người dân ở đây
thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện
Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại với
điều kiện làm việc và bổng lộc hậu hĩnh, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải
đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, trí thức toàn thế giới, đặc
biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn về một tài
năng, một nhân cách lớn lao của nhân loại, một trái tim nhân ái đã ngừng đập.
Nếu bạn đã từng 1 lần
được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà
chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo….để ăn với mắm tôm, hem
có đắp mặt được, kkk nói vui cho bớt khóc nè) thì hãy biết ơn BS Yersin nhé.
Công lao của ông với dân tộc mình, với đất nước mình là không bao giờ kể hết.
Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin để thấy những
tranh cãi lặt vặt, những suy nghĩ tầm thường đã phí thời gian cuộc đời mình.
Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để các thế hệ mãi mãi biết ơn(vì
chúng ta chưa tổng hợp tài liệu sau nhiều năm tháng chiến tranh). Lòng
biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc. Các
bạn đang đọc những dòng chữ này hãy nhớ là mình sống được đến giờ cũng từ những
liều vắc xin của ông…
Và mỗi người, nếu đọc
được những dòng chữ trên thì hãy học tập ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN.
Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe – cái nhà – miếng đất – bằng cấp – chức
vụ – công danh, thẻ xanh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh
dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân, xả thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của
riêng mình. Bỏ quê hương đi đến chỗ phồn vinh thì dễ, quay về làm cho nó giàu
sang văn minh thì mới khó. Mà khó cỡ nào, mình quyết tâm là làm được hết. Cuối
đời, mình tự hào vì đã góp phần vô việc MAKE A BETTER VIETNAM.
Phàm làm người, ai
càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn,
không hối tiếc.
Báo...Xuân Kỷ Hợi, 2019