Cô Đơn Và Thủy Thủ - Đào Dân
Tôi không hiểu những chàng trai áo trắng đi tìm đại dương trong niềm mơ ước nào. Và trên hành trình diệu vợi, ngày một ngày hai, đặt chân lên từng hải cảng đông đúc, được thấy những điều mới lạ, người thủy thủ có cảm thấy nó bao bọc chung quanh mình như một nghiệp dĩ không? Hay họ đi họ sống trên từng hơi thở, trên từng bước chân và trên hiện tại có sóng gió, có đàn bà để rồi quên đi tất cả?
Riêng tôi, tôi cảm nhận một cách sâu xa rằng, quá trình cô đơn nguyên thủy của con người vẫn đeo đẳng và thể hiện rõ ràng qua cuộc đời hải nghiệp, để rồi đưa con người trở về với bản chất thật từ khi lọt lòng mẹ cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Niềm cô đơn đó chính là nét đẹp của quá khứ, của hôm nay, và của tương lai, theo từng nhịp lắc của con tàu. Nó vẽ lên nền nhung lụa xanh dờn cuả biển cả một màu tha thiết.Tôi bắt đầu niềm cô đơn của kiếp lính thủy bằng hình ảnh của một hạt cát vàng trên bãi sa mạc mênh mông. Hình ảnh đó gợi trong tôi những gì? Sự trống không và hoang dã là bản chất của thiên nhiên và vũ trụ, nhưng bản chất đó sẽ không mang một ý nghĩa nào nếu nó nằm trơ trụi như một vật vô tri; và nếu sự hiện hữu của con người chỉ là một thân cây thảo mộc tồi tàn ở ven đường thì vũ trụ sẽ đồng hóa với một mặt trời nắng gắt gói trọn trong chính hình thù của nó. Nhưng tôi có mặt. Mọi người có mặt. Hai tiếng có mặt cất lên như một âm thanh thức tỉnh, khơi dậy trong tiềm thức rằng con người là cây sậy có tư tưởng. Bởi vậy, hiện thân của hạt cát vàng trong sa mạc như hiện thân của con tàu trên đại dương, đều nói lên cái nhỏ bé của kiếp người. Nếu sống ở nơi đô thị phồn hoa, những sinh hoạt hàng ngày sẽ làm tôi lãng quên thân phận nhỏ nhoi của mình, hay ít ra cũng đánh lừa được rằng tôi không phải chỉ là một, mà nằm trong tất cả. Tôi chỉ là một phần tử của xã hội, có đồng loại, có tiếng nói để cảm thông, có tư tưởng để trang trải rồi có người khác hiểu tôi. Giữa nền trời xanh lơ, giữa khung cảnh bao la của đại dương bát ngát, con tàu, hay chính tôi, chỉ điểm lên một nét vẽ tí hon không hình dạng. Nhưng nó vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn suy tư trong tư thế hùng hổ tiến bước. Có ai giúp đở con tàu cô đơn trên làn sóng dữ? có ai chịu lắng nghe tiếng còi hụ của nó giữa canh khuya? Chắc chắn rằng chỉ mình nó, đơn độc, cô quạnh. Nó ý thức được điều đó và nói lên bằng sự ra đi, sự dấn thân của chính nó. Một lần tách bến ra khơi là một lần nó tình nguyện đi về cỏi vô cùng, xa tít. Sự can đảm dấn thân đó có phải là lời mời hấp dẫn kỳ diệu từ nơi chân trời kia? Có phải chăng là do tiếng kêu gào từ tiềm thức? Nếu với một chút suy tư, con người sẽ phải thường nhớ đến kẻ đồng loại của mình đang ngày đêm thao thức, hăng say vượt sóng quên cả hiểm nguy. Và một điều chắc chắn rằng trong khi họ đang an bình trong giấc ngủ thì kẻ đồng loại kia chỉ chơ vơ một hình một bóng. Người ta khó có thể tưởng tượng nổi một chấm đen, một hạt bụi trong vũ trụ huyền hoặc, đang tự mình vùng vẫy, tự mình hiến dâng cho hoài bão, thứ hoài bão kiêu hùng. Đó là con tàu, là thủy thủ, là nếp sống triền miên ôm lấy niềm cô đơn hoài vọng. Người thủy thủ đó ôm vào mình thế giới cô đơn rộng lớn của chính thân phận mình và đồng loại.
Trở về với xã hội cỏn con, xã hội chứa đựng những quả tim côi cút, những ý tưởng sắt đá. Trong đó mỗi cá thể lại tự tách biệt hẳn với thế giới chung quanh. Cuộc sống trên chiến hạm tự nó đã có sự phân cách. Mỗi người một công việc, một phận sự và một tâm tư. Tất cả phải lo tròn những gì mình phải làm, những gì mình tình nguyện làm. Ở đây không có sự giúp đở hay săn sóc nhau. Người thủy thủ thay phiên nhau từng giờ, từng nhóm một. Trên đài chỉ huy, trong phòng lái, phòng radar hay dưới hầm máy. Xong việc, mỗi người nghỉ ngơi ở nơi riêng biệt, để họ có dịp trở lại với chính mình, để suy nghiệm về mình.
Nhìn những đoàn viên đang mân mê các bộ phận máy
móc cơ khí hay chăm chú trên la bàn, trên hải đồ, nhìn
những vị sĩ quan mắt đăm chiêu nhìn về những
ngôi sao xa tít, người ta sẽ ít nghe được những âm
thanh phát ra từ họ. Họ im lặng như gổ
đá nhưng thực ra, trong trí óc và trong tâm hồn, mỗi người đều đào
sâu vào một thế giới cá
biệt. Thế giới của
chính mình, thế giới của công
việc mình, với mọi vật vô tri chung quanh. Họ không nói nhưng họ gói trọn tất cả vào
những phút suy tư, những giây trầm mặc. Họ sống cho
mình, cho cái đoàn thể nhỏ nhoi của
mình. Chắc chắn rằng nếu không lâm vào tình trạng khó khăn, họ đều mong
muốn tự mình làm cho xong công việc - không nhờ vả -
không ỷ lại. Họ sống và tranh đấu như chính họ đã tranh đấu với gia
đình và xã hội để được
thoát ly đi tìm vùng trời xa lạ, trong đó nỗi cô đơn hình thành mang theo lời kêu gọi tha
thiết. Sau khi hoàn thành công việc một cách
mỹ mãn, niềm hạnh
phúc cọng thêm niềm kiêu hãnh dâng lên tràn ngập cả tâm hồn họ. Họ kiêu hãnh với chính mình, và một điều chắc chắn nó sẽ không bộc lộ trên gương mặt, trong giọng nói. Nói với ai vì chung quanh họ, mọi người đều giống nhau. Có gì để khoe khoang? có gì để tự mãn
khi họ là kẻ sợ hãi sự tự mãn.
Họ ôm chặt, dấu kín
niềm kiêu hãnh vào tận đáy lòng để rồi tràn
ra trên khói thuốc vào
một đêm tối trời trên
đài chỉ huy một mình nghe gió múa và nghe sóng gào như cùng
nhau thủ thỉ. Hay họ trở về trong
căn phòng nhỏ, có
chiếc giường để họ thoải mái
ngả mình, có im lặng cho họ suy
tưởng, có thế giới tâm
linh cho họ chiêm
nghiệm cuộc đời. Căn
phòng chứa chấp nhiều kỷ niệm của tuổi thơ,
bao bọc bằng cái hơi người do chính họ thải ra,
và trên tất cả, căn phòng là nơi chứa chấp những ước mơ,
những hoài bão càng ngày càng chồng chất theo
thời gian và theo số hải lý
trên hành trình đại
dương họ đã vượt. Cũng trong căn phòng đó, đầu óc họ lơ mơ
theo đuổi những bóng hình không tưởng, đôi mắt lim
dim tưởng tượng ở đàng
xa kia nơi có muôn triệu vì
sao lấp lánh. Mà mỗi ngôi sao là một thực thể cá biệt,
nhưng cũng như họ, đều hóa thân vào hư không của cõi trời bao
la bát ngát. Có một lúc
nào đó, tâm tư họ sẽ thả tràn
trên từng mảnh tinh tú, đặt bước chân
êm dịu của mình lên thân thể của hằng hà sa số nét hào quang nhấp nháy kia. Niềm cô đơn lúc đó sẽ bao la vô cùng, tỏa rộng bao
la như cung đàn diệu vợi. Niềm cô
đơn không phải của chỉ một mình họ mà là
của vũ trụ, của cả các
dãy Ngân hà. Niềm cô
đơn đó chính là vũ trụ, là
con người
thoát thai từ thời nguyên thủy. Con người đã trở về. Thực sự trở về với căn
nguyên của nó.
Căn cội của một thực chất trong
đó niềm băn khoăn và sự hồi tưởng là đầu mối của cuộc đời mà
sau những thế hệ lạc loài trên trái đất, con người đã đánh mất để đi
tìm những thú vui hạ đẳng nơi
chính dục vọng cuồng
say.
Vào những ngày giông bão, vào những khi vũ trụ chuyển
mình, trên xã hội cỏn con này càng bao trùm một vẽ im lặng dày đặc. Bởi mỗi con
người lúc đó là một sinh vật
tranh đấu.
Tranh đấu với chính mình, tranh đấu với
thiên nhiên và ý muốn chiến thắng vẫn phủ kín
tâm hồn họ. Lúc đó nếu để ý
quan sát, ta sẽ thấy mọi người bận bịu với công
việc. Trí óc không còn gì hơn là
ý muốn thoát khỏi sự yếu kém và bất lực của thân xác người. Làm sao để khỏi bị vùi dập dưới sự cuồng nộ của đại
dương. Làm sao để khỏi bị lãng
quên trong thất bại. Làm sao để kiềm chế nỗi sự suy nhược của cơ thể đang
lan tràn trong từng bộ phận của tế bào.
Một người không đủ sức gượng dậy, người khác
đứng lên thay thế. Không ai để ý đến một thể xác
đang phó mặc cho
sự mệt mỏi chiếm lĩnh. Không ai săn sóc hỏi han. Tự hắn, hắn phải tìm đường sống trong cõi chết. Tự hắn, hắn phải vùng dậy đi
tìm sự kiêu hãnh. Mọi khuôn mặt đều chăm chú vào mỗi bước chân
của con tàu, mọi khối óc
cánh tay phải hoạt động
không ngừng để đưa con tàu ra khỏi vùng trời
giông bão. Hắn vẫn một
mình, ngồi đó,
im lìm. Hắn phải chống trả. Hắn tự săn sóc. Hắn gục đầu xuống.
Rên rĩ. Mặc. Mọi người vẫn làm việc. Hắn cô đơn. Tách biệt. Không những tách biệt với con
tàu, tách biệt với xã hội; mà
chính hắn, như
tách biệt khỏi hắn. Hắn đang mơ màng. Hắn đang chu du trên vùng trời xa lạ,
trong khi thể xác
rã rời. Sự cô đơn này mang đầy đủ hai sức thái: cô đơn với cố gắng và cô đơn trong bỏ mặc. Thứ cô đơn thú hai này chính là sự cô-đơn-rữa-nát.
Hắn biết vậy nên
trong tiềm thức, vẫn mang
một ý chí chống lại với chính bản thân
hắn. Hắn đứng lên
với tất cả quả tim còn sót lại, hắn tiếp tục phận sự. Hắn không muốn tự hổ thẹn mặc dù vừa làm
việc, miệng hắn vừa mở ra
cho sơn say ùa vào, và mắt thì
lờ đờ mệt mỏi.
Có lẽ ít ai nghĩ được rằng,
không những kiếp lính thủy cô
đơn khi đã tách hẳn bến bờ, khi
đã thực sự hòa mình vào biển khơi, mà ngay trong gia đình, ngay trong xã hội nơi hắn sinh
ra và lớn lên,
hắn vẫn là kẻ đi
tìm sự cô đơn tuyệt đối. Con
người vốn là một sinh
vật tràn đầy tình cảm,
ràng buộc nhau
bởi chững mối
tương quan máu mủ, bà
con, bạn bè, đồng bào và đồng loại. Những sự tương
quan này như là sợi dây
vô hình níu kéo con người trở về với nhau, hòa chung nhau để giúp đở và an
ủi hay tìm một cảm
thông nào đó. Nhưng người thủy thủ đã ra
đi, đã nghe theo tiếng gọi của
trùng khơi bát ngát. Dứt bỏ tất cả để chỉ đi tìm một cái
gì hư ảo, vắng bóng; để rồi cuối cùng hắn bắt gặp cô
đơn. Tại sao? Tại sao vậy? Cái
gì đã đủ mãnh
lực để cắt đứt tương quan tình cảm giữa người và người? Tại sao hắn
không thể ngày
ngày ấp ủ vợ con, ấm cúng với gia
đình, làm việc với đồng loại? Tại sao
hắn thích đi tìm con số không? Đi tìm cái hư vô trước mặt?
Ngay trong hắn, có
phải chăng hắn đã không thể tìm được một sự hòa đồng? Có phải
chăng là hắn cảm thấy xa lạ giữa hàng
ngàn khuôn mặt quen
thuộc? Có phải chăng hắn sợ phải nhai
đi nhai lại cái
công việc mà đồng loại hắn đã làm? Có phải chăng hắn
không tìm thấy niềm hoan lạc nào
qua những tương giao tình cảm đó? Tôi nghĩ rằng tất cả có thể trả lời cho
sự ra đi của hắn.
Nhưng tựu
trung chúng cũng chỉ triển khai quanh một vấn đề: Hắn cô
đơn giữa loài người. Hắn tách
biệt với xã hội. Hắn muốn tự do, thứ tự do tuyệt đối. Hắn muốn im lặng, sự im lặng tuyệt đối. Hắn sợ tiếng động như
sợ rắn độc vì
niềm im lặng vẫn là hấp lực ma
quái thu hút bước
chân. Hắn ra đi
để thoát khỏi sự kềm hãm trong những vụn vặt của thói
quen đời sống, để thỏa mãn niềm băn
khoăn không bao giờ thành
hình nơi hắn. Hắn khắc khoải trong việc đi tìm nguồn gốc của loài người trong phương diện tâm linh. Nhưng cuối cùng hắn chỉ tìm thấy: sự im lặng và cô đơn là bản chất đích
thực của cái sinh vật trên địa cầu tự nhận mình là văn minh. Có lẽ nhờ đó,
nhờ cái nguồn gốc chứa đầy hào
quang đó mà người thủy thủ đã
hăng hái theo đuổi con
đường hắn đã chọn. Con
đường có chông gai, có tranh đấu, có cực khổ, nhưng không có gì cả. Con đường độc nhất dẫn hắn vượt khỏi những tầm thường của xã hội.
Bởi vậy, dầu muốn dầu không, hắn vẫn là kẻ tình nguyện, kẻ tình
nguyện không có quyền lùi bước hay
thối chí. Nhưng luôn luôn hắn vẫn là kẻ tình nguyện đi về miền cô đơn và
vô cùng. Chấp nhận sự lìa
xa mảnh đất thân yêu, người thủy thủ đã thoái thác một cái nhìn phi lý về thân phận hắn và đồng loại. Hắn đau
nhức và xốn xang với những mảnh vụn tả tơi của một sự tan rả không
thể dừng và hắn bước đi
vào biển cả mênh mông. Đó là ước mơ nuôi sống hắn
trong niềm cô
đơn vĩnh cữu.
Đào Dân,
5-1969
