Thành Ngữ Điển Tích 92 : - Đỗ Chiêu Đức
nghiên cứu
SÁNH,
SÀNG, SAO, SÀO, SÁT.
Trai anh hùng gái thuyền
quyên,
Phỉ nguyền SÁNH PHƯỢNG đẹp duyên CƯỠI RỒNG
SÁNH
PHƯỢNG là "Sánh cùng chim Phượng" chỉ việc lấy được chồng tốt, theo
tích sau đây《Điền Kính Trọng Hoàn Thế Gia 田敬仲完世
家》trong Sử Ký 史記 của Tư Mã Thiên 司馬遷 đời Tây Hán như sau :
Điền
Hoàn 田完 vốn có tên là Trần Hoàn 陳完, tự là Kính Trọng, Công Tử của nước Trần, vì nước Trần có loạn mà lưu
vong sang nước Tề mới đổi thành họ Điền. Quan Đại phu của Tề là Ý Trọng muốn gả
con gái cho, nèn bói được một quẻ Đại Nhã trong Kinh Thi có câu : Phụng hoàng
vu phi, Hòa minh tương tương 鳳凰于飛,和鳴锵锵 Có nghĩa : Phượng hoàng cùng cất
cánh bay, Hoà chung giọng hót vui thay vang lừng. Nên SÁNH PHƯỢNG chỉ vợ chồng
hòa hợp vui vầy hạnh phúc, sau thường dùng để chỉ kén được chồng tốt, rể qúy...
như 2 câu thơ mở đầu bài chỉ Thúy Kiều gặp được Từ Hải là gặp được người chồng
tốt :
Trai anh
hùng gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền SÁNH PHƯỢNG đẹp duyên CƯỠI RỒNG.
CƯỠI
RỒNG là Thừa Long 乘龍 cũng chỉ Chàng rể qúy do thành
ngữ Thừa Long Khoái Tế 乘龍快婿 theo tích trong Liệt Tiên Truyện 列仙傳 của Lưu Hướng 劉向 đời Tây Hán : Tần Mục Công có cô con gái tên là Lộng Ngọc thích thổi tiêu sáo, gả cho Tiêu Sử là chàng trai tài hoa giỏi thổi tiêu. Vợ chồng cùng nhau thổi
tiêu và cùng tu tiên. Một đêm khi đang cùng hòa tấu thì có rồng phượng hiện ra,
vợ chồng cùng cởi phượng cởi rồng mà bay tuốt lên trời. Nên CƯỠI RỒNG cũng chỉ
gặp được rể qúy, chồng tốt.
Nối tiếp
theo điển tích chỉ chàng rể qúy, còn có từ ĐÔNG SÀNG 東床. Ta thường nghe nói "Kén rể Đông Sàng" là do điển tích sau đây :
Theo Thế
Thuyết Tân Ngữ của Lưu Nghĩa Khánh đời Tống 宋·劉義慶《世說新語》kể lại : Hy Giám 郗鑒 là Thái Úy đời Đông Tấn, muốn kén một chàng rể qúy cho con gái tài mạo song toàn của mình là Hy Tuyền 郗璿; nghe nói trong nhà của Thừa tướng Vương Đạo 王導 có nhiều con cháu toàn là những chàng trai văn hay chữ tốt, bèn ngõ ý với Thừa tướng muốn kết
thành thông gia. Vương Đạo cũng rất hài lòng nên ưng thuận. Hy Giám bèn hẹn để
cử người coi mắt các chàng trai ở Vương phủ. Đến ngày hẹn, các chàng trai đều
ăn mặc chải chuốt để tạo dáng môt thư sinh đẹp trai tài giỏi và đều mong ước
mình được chọn làm rể của Thái Úy. Sư gia của phủ Thái Úy đến tiếp xúc và xem
qua một lượt rồi về bẩm báo lại rằng :"Các chàng trai qủa nhiên đều "Phong
tư tài mạo tuyệt vời", nhưng có một chàng lại không chải chuốt gì cả
mà nằm phơi bụng ở trên giường mé đông hiên nhà ăn bánh đọc sách như chẳng có
chuyện gì xảy ra cả !". Hy Giám nghe xong cả cười mà bảo rằng :"Đó
chính là chàng rể qúy của nhà ta đó !". Bèn cho người mai mối biết là mình
sẽ gả đứa con gái cưng tài hoa cho cái chàng trai nằm phơi bụng ở giường đông
đó. Qủa nhiên không nhầm, vì chàng trai đó sau nầy chính là nhà quân sự và là
nhà thư pháp nổi tiếng VƯƠNG HY CHI 王羲之 của đời Đông Tấn đó. Thiếp Lan Đình 蘭亭帖 của Vương Hy Chi là thư pháp kiểu mẫu còn truyền lại cho đến hiện nay. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho
Hoạn Thư khen Thúy Kiều viết chữ đẹp khi nàng chép kinh ở Quan Âm Các là :
Khen rằng :"Bút
pháp đã tinh,
So vào với THIẾP LAN ĐÌNH nào thua !"
Vì
tích trên đây mà chàng rể qúy được gọi là ĐÔNG SÀNG 東床 hay SÀNG ĐÔNG như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :
Khéo thay lời nói hữu
tình,
SÀNG ĐÔNG rầy mới là đành có nơi.
Hay
như trong Sơ Kính Tân Trang của Chiêu Lỳ Phạm Thái thì gọi là GIƯỜNG ĐÔNG và
nhắc cả tích "Tước Bình" và "Thừa Long" nữa :
Lẽ đâu dám kẻ GIƯỜNG ĐÔNG,
Tước Bình xin đợi, Thừa Long xứng tài.
SAO PHÚC chữ
Nho là PHÚC TINH 福星, là ngôi sao mang phước lành đến, theo tích
sau đây :
Trong Tống
Sử Ký Sự 宋史纪事 có ghi : Tiên Vu Thân 鲜于侁 là Chuyển Vận Sứ của đất Kinh đông. Dưới sự cai quản và chăm sóc của ông dân chúng cả một vùng Kinh đông đều an cư lạc nghiệp, nên Tư Mã Quang gọi ông là PHÚC TINH của nơi đó. Trong Thông
Tục Biên 通俗编 đời Thanh thì gọi ông là NHẤT LỘ PHÚC TINH 一路福星 với hàm ý là "Một ông quan tốt mang hạnh phúc đến cho dân chúng.
Trong tác
phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh khi cho ông Sãi phân bua mình chưa chắc đã tu
thành Phật, nhưng cũng đã từng là một ông quan tốt, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng đã
viết :
Dù chẳng Vạn gia sinh Phật,
Cũng là NHẤT LỘ PHÚC TINH.
Còn trong
truyện thơ Nôm khuyết danh Phan Trần thì gọi là SAO PHÚC :
Niềm công chính, dạ
trung trinh,
Phương dân SAO PHÚC, triều đình quyền cao.
Vạn gia sinh
phật
Nhất lộ phúc tinh
SÀO
PHỦ 巢父 và HỨA DO 許由 là hai cao nhân ẩn sĩ đời Đường Nghiêu, không màng danh lợi. Vua Nghiêu nghe tiếng tìm đến định nhường ngôi cho Sào Phủ, Phủ không nhận; ít lâu sau lại tìm đến với Hứa Do cũng định nhường ngôi. Hứa Do nghe xong
bèn từ chối và chạy ra bờ sông để rửa tai, vì cho rằng tai của mình đã dơ
vì phải nghe những lời danh lợi phàm tục tầm thường; lúc đó Sào Phủ định cho
trâu uống nước, nghe thế, bèn dắt trâu lên trên dòng thượng lưu mới cho trâu
uống, vì sợ trâu uống phải những dơ bẩn trong nước mà Hứa Do đã rửa tai trôi ra.
Cao khiết một cách quá đáng đến như thế là cùng !
Trong văn
học cổ thường dùng Sào Phủ và Hứa Do để chỉ những cao nhân ẩn sĩ không màng
danh lợi, như trong thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm :
Của Thạch Sùng
nào của ấy,
Danh SÀO PHỦ há danh
không ?!
Trong bài
"Tụng Tây Hồ Phú" của Nguyễn Huy Lượng một danh sĩ đời Lê mạt, Tây
Sơn và Nguyễn sơ, thì gọi tắt Sào Phủ Hứa Do là SÀO, DO :
Mặt đất đùn này thóc
này rau, rầu lòng Cô Trúc;
Mặt nước chảy nọ dòng nọ bến,
mặc chí SÀO, DO.
Còn trong
thơ của cụ Nguyễn Trãi thì gọi là SÀO HỨA như sau :
Lâm tuyền thanh vắng
bạn SÀO, HỨA,
Lễ nhạc nhàn chơi tạo Khổng,Chu.
Trong truyện
thơ Nôm LỤC SÚC TRANH CÔNG khi nói về Gà và Heo có câu :
Gà biết chữ "Xả
sinh thủ ngãi",
Heo đặng câu "SÁT
THÂN THÀNH NHÂN".
XẢ SINH THỦ
NGÃI (NGHĨA) 捨生取義 là "Buông bỏ cuộc sống của mình để lấy cái nghĩa", tức là "Hy sinh
thân mình để làm việc nghĩa".
SÁT THÂN
THÀNH NHÂN 殺身成仁 là "Giết thân mình để hoàn thành việc nhân
đức", tức là "Hy sinh thân mình để làm việc nhân".
Nói chung,
hai câu thành ngữ nêu trên thường dùng để chỉ những người chí sĩ dám hy sinh
cho tổ chức đoàn thể hay những người yêu nước dám hy sinh thân mình để bảo vệ
Tổ quốc. Đó là câu nói của Đức Khổng Phu Tử có xuất xứ từ chương Vệ Linh Công
của sách Luận Ngữ 論語 衛靈公 子曰:「Chí sĩ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân 志士仁人,無求生以害仁,有殺身以成仁。」Có nghĩa : Người chí sĩ nhân nghĩa, không vì tham sống mà hại đến việc nhân nghĩa, nhưng có thể hy
sinh thân mình để giữ tròn nhân nghĩa".
Trong
LỤC SÚC TRANH CÔNG, sau khi nghe Gà và Heo kể lể tranh công với nhau thì nhà
chủ nghe thấy, nên :
Vậy chủ bèn phân đoán,
Phê một câu khúc tận kỳ tình:
"Gà biết chữ Xả Sinh Thủ Ngãi;
Heo đặng câu Sát Thân Thành
Nhân"
Có dị bản là :
Heo đặng câu tịnh dục, tịnh
sinh.
Nhà chủ đã
hòa giải và khen ngợi ca tụng cả hai con gà và heo đều có công và đều biết hy
sinh thân mình để làm thức ăn ngon miệng cho con người mà không có lời than van
oán trách gì cả !
Hẹn bài viết
tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức