Vui Xuân Quý Mão, không
thể quên Tết Mậu Thân - thơ Thái Bá Tân từ Hà Nội, và chuyện kể của Susan Nguyễn từ Huế.
MẬU THÂN
Mậu Thân, năm Sáu
Tám,
Một chiến dịch huy
hoàng.
Được nhắc trong lời
chúc,
Là “Thắng Lợi Vẻ
Vang”.
Tiếc, trong “thắng
lợi” ấy,
Theo tướng Trần Văn
Trà,
Bốn lăm nghìn người
chết,
Là tổn thất của ta.
Tổn thất của ông Thiệu
:
Ba trăm tám tư người.
Còn số lính Mỹ Chết
-
Hơn một trăm bảy mươi.
Vậy là tính sơ
bộ,
Lính Mỹ và Cộng Hòa
Chết chỉ bằng tổng
cộng :
Một phần trăm lính ta.
Khi chiến dịch kết
thúc,
Nhà thơ Chế Lan Viên
Viết một bài thơ
nhỏ,
Đọc, không thể nào
quên.
“Đêm ấy, từ rừng
núi,
Hơn hai nghìn chàng trai
Xuống đồng bằng chiến
đấu,
Và sau một đêm dài
Từ hai nghìn người
ấy,
Sống sót ba mươi người.
Ai phải chịu trách
nhiệm,
Trước họ và trước Trời?”
Những con số biết
nói,
Khô khan và thật đau.
Những câu hỏi nhức
nhối,
Cứ vương vấn trong
đầu.
Sao ta chết nhiều
thế,
Hơn bốn lăm nghìn
người?
Sao mạng người rẻ
thế,
Hay không phải là
người.
Tôi xin lỗi các
bác,
Làm sống lại nỗi đau.
Chiến tranh đã kết
thúc,
Nhưng âm ỉ còn lâu.
Cũng phải có ai
đó,
Chịu trách nhiệm chuyện
này,
Để rút ra bài
học,
Dẫu buồn và đắng cay.
Thái Bá Tân
từ Hà Nội
NGÀY GIỖ BA
Hôm nay ngày giỗ Ba!
Mới đó mà cũng gần 50 năm rồi. Mỗi lần giỗ Ba, nhang khói ngập trời cả thành
phố Huế. Gần 6000 anh linh, nạn nhân của một cuộc tàn sát đẫm máu, vất vưởng đâu đây
trên những bãi cát vùng Diên Đại, Xuân Ổ, Xuân Đại, Phú Thứ. Những oan hồn lẫn khuất quanh sân
trường Gia Hội, Kiểu Mẫu. Những người vô tội bị xử tử ngay tại nhà, trước mặt
người thân. Những vị bác sĩ từ tâm người Đức bị sát hại sau chùa Từ Đàm, và
hàng ngàn người dân vô tội ở vùng Phủ Cam bị lùa xuống khe Đá Mài.
Cả thành phố chìm ngập
trong màu khăn sô trắng. Ôi! Tôi không muốn nhớ đến cảm giác hãi hùng ấy nhưng
sao nó vẫn cứ khắc sâu trong tâm khảm. Phải chăng những anh linh ấy không siêu thoát
được vì cái chết đau thương của họ đã bị lịch sử bóp méo? Thoang thoảng đâu đây
như tiếng kêu gào “Trả sự thật lại cho chúng tôi”.
Ba! Con sẽ không quên.
Lịch sử sẽ không quên và mọi người trên thế giới này sẽ không quên dù ai đó cố
tình đổi trắng thay đen để chạy tội cho cuộc tàn sát mọi rợ đó. Ngày đó, tuy
còn nhỏ nhưng con đã biết nhận xét mọi chuyện. Gia đình mình gần như là nơi tụ
tập của Uỷ Ban Truy Tầm Nạn Nhân Mậu Thân. Mỗi buổi sáng là 2 chiếc xe GMC đậu
trước nhà để chở dân và nhân công đi tìm kiếm mồ chọn tập thể. Mấy dì trong
ban tổ chức có chồng mất tích 68 như cô Tôn Thất Lang, dì Quýnh, dì An, dì Dương, dì Mại, mạ …lo sửa
soạn vật dụng mà Chú Thuyên (phó quận trưởng quận Phú Vang) và mấy chú lính chở
tới như những cây vải ny lông để bó hài cốt, dây cột, thẻ bìa carton trắng
để ghi chi tiết nhận dạng cho mỗi thi hài. Sáng nào mấy Dì và tụi con cũng cắt,
xếp những mảnh ni lông khoảng 2 thước để bó thi hài.
Ông Noại trong làng ra
bắt đầu một ngày làm việc bằng ly rượu trắng nhỏ (ông là người phụ trách việc
hốt cốt. Ông cẩn thận lượm từng mảnh xương nhỏ của mỗi thi hài nằm chồng lên
nhau trong những cái hố chật hẹp. Có thi hài còn đủ áo quần (như hầm ba mình)
nhưng cũng có những thi hài chỉ trần xì cái quần đùi, rất khó nhận diện. Mình
nghe được nhiều mẫu chuyện cười ra nước mắt bởi ông và mấy chú bác.
Có một bà nhận được
xác chồng nhưng không có đầu (bị xử tử). Bà đi theo và nói nhỏ với ông: Chú ơi!
Chú có cái đầu mô dư cho con một cái. Ông nạt ngang: người mô thì đầu nấy, dư
mô mà cho, nói tào lao! Vậy mà mấy hôm sau, đi vùng khác, ông lại tìm được một
cái đầu lâu trong bụi rậm. Ông nhắn: Chôn chưa, về chú cho cái đầu nè. Bà ta
tất tả mừng rỡ chạy về, gói đầu lâu chồng lên làm đám.
Rồi còn có một chị
trong xóm, đi tìm xác chồng nhưng không được vào trong (ngồi ở địa điểm tập
trung an toàn và nghe nhận diện qua ô-pạc-lơ (haut – parler). Chị xin làm thiện
nguyện bằng cách vào rồi phụ gánh thi hài ra xe. Cứ 2 người gánh một thi hài đã
được bọc nylon và bó dây kỹ lưỡng. Đi được vài chục bước thì thi hài rớt ra,
chị phải dừng để buộc lại, đi thêm vài chục bước thì thi hài rớt thêm lần nữa,
lại buộc và đi, qua lần thứ ba lại rớt và xổ tung ra, chị phải nhặt gom lại và
chợt thấy mảnh vải quần đùi của chồng mà chi tự tay may lấy. Chị giở ra xem lại
và oà khóc nức nở, chị đã gánh đúng xác của chồng chị mà không biết.
Còn nhiều mẫu chuyện
“trời đất dun dủi” như thế nữa nghe rất thương tâm. Cực khổ rứa đó mà ngày nào mạ cũng đi, sáng đi
chiều tối về.
Ngày nào cũng lê la bên mấy mồ chôn để mong nhận diện chồng. Ngày
nào cũng hít thở mùi xác chết thối rửa trong cái nắng mùa hè vậy mà không bệnh
hoạn chi hết. Sáng mua ít đồ ăn vất lại cho bầy con ở nhà tự xoay sở lấy, cả
hàng quán cũng vất liều luôn. Mạ mua ít gói xôi hay vài trái bắp làm thức ăn
trưa rồi dang nắng suốt ngày ở những vùng đất cát trắng ghê người ấy.
Bác cũng đi theo để
phụ mạ tìm người em trai duy nhất của mình. Thấy cực khổ quá nên bác khuyên mạ
nên ở nhà để lo con rồi thỉnh thoảng thay phiên với bác cũng được. Thế nhưng, ở
nhà một hôm thì bị thôi thúc, ruột gan không yên, cả ngày cứ ngửi thấy đâu đây
mùi xác người chết. Trời đất phù hộ, lăn lóc với các hầm chôn người thì không
cảm thấy gì hết. Mạ lại nhập vào cuộc kiếm tìm và nhờ vậy, khi tìm ra xác ba, cả mạ và bác có thể
lo chu toàn hơn.
Hầm chôn xác ba gồm có
27 người, toàn là người trong xóm ra “trình diện học tập”. Từ đầu xóm đến cuối
xóm đèn đuốc sáng rực vì phải làm rạp chứa đám bên ngoài nhà. Hai mươi bảy bà goá phụ với đám con nhỏ
mồ côi cha khăn áo tang trắng nguyên cả xóm. Riêng hầm này may mắn biết được
ngày mất vì có một chú lận cái đồng hồ lên tận nách nên không bị tước đoạt.
Ngày xưa đồng hồ phải lên giây mỗi ngày vì vậy khi đồng hồ đứng là biết chết
trước đó 1 ngày. Cả nhóm bị bắt ngày mùng 6 âm lịch thì bị giết ngày mùng 8 vì
đồng hồ đứng ngày mùng 9 AL.
Giờ đây, con ở nơi
phương xa hơn nửa vòng quả đất với mâm cơm chay đạm bạc, nén hương chân thành
nguyện cầu Ba sớm siêu sinh miền Tịnh Độ.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ
Tát Ma Ha Tát!
Susan Nguyễn
(chuyện kể của Susan Nguyen từ Huế)