Ra Trường Về Đơn Vị Mới - Đỗ Rô
1.
Sau thời gian thụ huấn quân sự, ba tháng giai đoạn 1 tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tiếp theo 6 tháng giai đoạn 2, tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tại đây, các khóa sinh bắt buộc phải trải qua mấy tuần lễ huấn nhục, rồi tiếp tục học: Căn bản Quân sự, Chiến thuật, Vũ khí, Lãnh đạo Chỉ huy, Di hành Dã trại, vv…
Rốt cuộc rồi
cũng đến ngày mãn khóa. Khóa 9B/72 Tống Lê Chân cũng không ngoại lệ. Sau một
đêm dài gần như không ngủ, bồn chồn lo lắng, suy nghĩ vu vơ, tâm trạng ngỗn
ngang... Một buổi sáng đẹp trời, những tia nắng len lỏi qua hàng liễu còn đọng
những hạt sương khuya, thì những gót giày của những chàng Tân Sĩ Quan ngang qua
Vũ Đình Trường giẫm lên những hạt cát li ti nghe xào xạc, những viên sỏi lô
nhô, đau buốt mà mới đây họ đã qùy xuống, vinh hạnh được Trung Tướng Phạm Quốc
Thuần gắn lên vê áo cấp bậc Chuẩn Uý, liền sau đó là khẩu lệnh: mời các Tân Sĩ
Quan đứng lên. Giờ đây 600 Tân Sĩ Quan tự đông kéo nhau đến hội trường, một
ngày trọng đại bắt đầu. Ngày Chọn Đơn Vị, họ đã hiên ngang, chấp nhận đi khắp 4
vùng chiến thuật, anh dũng tình nguyện về những quân binh chủng oai hùng của
QLVN/CH, như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Bộ
Binh, hầu tiếp tay với những đơn vị đang chiến đấu không mệt mỏi ngoài mặt trận,
trước sự xâm lăng ồ ạt của CSBV. Qua những giây phút lo âu, hồi hộp, rồi tên
tôi cũng được xướng lên. Tôi nhanh nhẹn bước lên hội trường, cầm bút ghi tên họ
mình vào ô vuông: Tiểu Khu Quảng Trị, rồi vội vàng quay xuống chỗ ngồi, coi như
mọi âu lo, suy nghĩ tiêu tan! Tôi quay về, bâng khuâng nhìn lại Vũ Đình Trường
lần cuối. Về đến đại đội 23, tôi thu xếp hành trang của mình, để nhìn lại
chỗ nằm, mà chốc nữa đây mình sẽ bỏ lại tất cả, bỏ lại những con đường quen thuộc,
mà mỗi sáng đi ra bãi, buổi chiều từ bãi tập trở về, với những ca khúc, những bản
hùng ca, “Đây khúc ca vang nơi quân trường đầy hào hùng, vai sánh vai ta thi
tài trong đời quân ngũ, đường còn dài nhưng chân cứng đá mền 1,2,3,4
.....1,2,3,4, Anh em ơi !.....”, bỏ lại khu tiếp tân mỗi Chủ Nhật cuối tuần ,là
nơi hẹn hò lý tưởng cuả mỗi SVSQ với những người em gái nhỏ, tay trong tay âu yếm
thỏ thẻ niềm mơ ước tương lai ......với những nụ hôn vội vã, những giợt lệ chia
tay, những mái tóc óng ả ,những tà áo dài lộng gió, thướt tha. Thôi giã từ,
giã từ đồi Tăng Nhơn Phú, giã từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, giã từ KBC 4100
mà lòng bùi ngùi, xao xuyến. Lát nữa đây chỉ còn trong kỷ niệm!…
Trở lên
Sài Gòn với thằng bạn cùng khoá Lê Văn Vĩnh đại đội 21, tá túc nhà người chị của
Vĩnh ở Đa Kao, lợi dụng bảy ngày phép, hai thằng chở nhau trên chiếc xe Suzuki,
lang thang đây đó khắp Sài Gòn, vì biết đâu một ngày nào đó mình không có dịp để
trở lại nhìn thành phố xa hoa, nhộn nhịp đầy kỷ niệm này nữa! Đêm cuối cùng hai
thằng từ Chợ Lớn đi về, ngang qua Ngã Bảy, xe Quân Cảnh chận lại hỏi giấy tờ vì
quá giờ giới nghiêm, Tôi đưa Sứ Vụ Lệnh về trình diện Tiểu Khu Quảng Trị, Vĩnh
thì trình diện Tiểu Khu Pleiku, trong đêm thanh vắng tôi nghe được tiếng chắt
lưỡi cuả vị Quân Cảnh: ôi chà, một ông về miền hoả tuyến, một ông đi lên cao
nguyên ớn qu..á! Thôi được rồi, hai Chuẩn úy đi đi, đó là kỷ niệm với Lê Văn
Vĩnh ngày sau cùng ở Sài Gòn!
Khi chiếc máy
bay C130 hạ thấp, giảm tốc độ, chuẩn bị đáp xuống phi trường Phú Bài, nhìn qua
cửa sổ, thấy lưa thưa một vài thửa ruộng, loang lổ đọng nước, lũy tre xanh bao
bọc thôn xóm nghèo nàn xơ xác, quê hương mình đây sao! lòng tự nhiên chùng xuống,
xót xa! Mới đây thôi, Sài Gòn xa hoa, nhà cửa phố xá nguy nga nhộn nhịp, khác với
nơi đây một trời một vực. Buồn thật. Huế! Ôi Huế của tôi, đúng là Quê Hương tôi
nghèo lắm ai ơi…mùa Đông thiếu áo, Hè thời thiếu ăn…..
2.
Về tới nhà gặp Mạ tôi, bà vui mừng ríu
rít, cứ quấn quýt hỏi han một hồi, như khi còn bé, bà hỏi: con về được mấy bữa
(ngày)? tôi trả lời dạ được hai ba bữa
rồi phải đi, bà hỏi đi mô? dạ đi ra Quảng Trị, vì đơn vị con ngoài nớ. Sao con
không lựa ở Huế, ra chi ngoài nớ cho xa, chưa kịp trả lời thì bà tiếp, tau nghe
ngoài nớ họ đánh nhau dữ lắm! mi chọn về đó chi cho nguy hiểm, mà đi lính chi?
dạ Địa Phương Quân. Bà nói tiếp, mi ở nhà vài ngày, tau nấu vài món cho mà ăn
rồi đi, tôi dạ dạ cho có lệ để bà vừa lòng. Ngày mai tôi tìm đường qua nhà
thằng Vĩnh ở cống Lương Y trong Thành Nội, gặp Vĩnh tôi nói: ê, tau nghe nói ở
trong hồ Tịnh Tâm có quán càfé và có con nhỏ đẹp lắm, thôi mình vào đó đi, hai
thằng cùng chở nhau đi, đó là càfé Chiêu, con nhỏ tên Mai, duyên dáng và đẹp
thiệt. Đó là lần kỷ niệm cuối cùng ở Huế với Lê văn Vĩnh. Ngày mai nó tìm
phương tiện vào Pleiku rồi thăm thẳm chiều trôi, biệt vô âm tín! Còn tôi thì tự
cấp thêm cho mình 3 ngày phép nữa, Bây giờ là tháng 9, trời vào thu mưa rơi rỉ
rã, mặt trời u ám, hiu hắt, se lạnh.
Tôi ra Quảng Trị, tìm đường dò hỏi
Tiểu Khu Quảng Trị ở đâu, rồi tìm ra không khó lắm. Tôi vào ngay Phòng 1 để
trình diện, được chỉ định về Tiểu Đoàn 120 Địa Phương Quân. Nghe đồn là vị
Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng này trẻ lắm, độ 29 tuổi, ông tên Lê Khói, chịu chơi
nhưng nổi tiếng đấm đá với VC, tiểu đoàn đang hành quân và đóng chốt tại căn cứ
Động Ông Đô. Khu vực BCH Tiểu Khu Quảng Trị được dựng lên với nhiều dãy nhà tôn
nằm trên khoảnh đất trống trãi mới được xây dựng sau khi QLVNCH chiếm lại Quảng
Trị. Đường sá toàn đất đỏ pha cát, mỗi lần có chiếc xe nhà binh chạy ngang qua
thì cát và bụi đất đỏ bay mù mịt. Tìm đến hậu cứ TĐ120 cũng là dãy nhà tôn dã
chiến tạm thời, được chia làm 3 ngăn, một phòng nhỏ là văn phòng của vị Đại uý
chỉ huy hâu cứ, kế bên là nơi làm việc của các ông hạ sĩ quan lo ăn uống
và súng đạn cho những đại đội đang hành quân, phòng kia dùng làm nhà kho cất
dấu mìn bẫy, súng đạn của Tiểu đoàn, lác đác cũng có một vài cái giường bố
vv... Cửa văn phòng đang mở, tôi bước vào đứng nghiêm trong tư thế chuẩn bị
trình diện vị Đại úy chỉ huy hậu cứ. Ông đang ngồi, nghe tiếng sột soạt, ngẩng
đầu nhìn tôi rồi gật đầu thân mật hỏi: Chuẩn úy mới ra trường? về trình diện TĐ
à? Tôi hồi hộp, chưa tìm ra câu trả lời khi biết mình về trình diện trễ 3 ngày,
nhìn ông với khuôn mặt vui vẻ, tôi bớt lo, ông ta mời tôi ngồi ghế đối diện,
nhỏ nhẹ hỏi: Ch/uý muốn đi phép nữa không? Tôi bán tín bán nghi, tưởng ông nói
đùa hoặc mỉa mai tôi vì đã tự ký trễ 3 ngày, mà ông còn hỏi muốn đi phép
nữa không. Tôi không tin và thật khó hiểu, ông không đả động gì tới những ngày
trễ phép của tôi, thật là hy hữu, nhưng không! đó là câu hỏi thật. Tôi trả
lời: cám ơn Đ/uý, ông nói tiếp: tôi cho Ch/úy đi 7 ngày, nhớ ra cho
đúng ngày giờ, tuần sau có chuyến tiếp tế cho TĐ. Ông cũng cho biết TĐ
đang đóng ở Động Ông Đô và cũng sắp chuyển về đồng bằng.
7 ngày phép qua mau, tôi trở lại đúng ngày. Mới tờ mờ sáng tôi đã có mặt ở văn phòng, gặp lại ông, ông gật đầu cười nhẹ rồi hỏi: Ch/úy về phép có đi chơi với người yêu không? có vui vẻ không? Gia đình khỏe không? Tôi dạ và trả lời: cám ơn Đại uý. Đây là hình ảnh quý mến, đẹp đẽ giữa tôi và Đ/úy tên Cơ (xin lỗi tôi không nhớ Họ) vị chỉ huy hậu cứ TĐ120/ĐPQ, ngày đầu tiên mới về trình diện đơn vị. Ông bảo tôi, anh lui đàng sau gặp Thượng sĩ Cách để nhận quân trang quân dụng rồi theo xe tiếp tế lên đơn vị. Khi chiếc xe GMC đậu bên hông hậu cứ nổ máy, thì trên xe đã gọn gàng, đầy ắp gạo cơm, lương thực cho cả TĐ. Tôi leo lên ngồi phía sau với ba lô, súng đạn, giây ba chạc, nón sắt, bản đồ, điạ bàn… Một vài người lính họ cũng trở lại đơn vị trong chuyến tiếp tế này, ngồi cạnh nhau, họ nhìn tôi tò mò, dò xét nhưng cử chỉ thân mật và rất gần gũi. Trên chiếc xe GMC này đa số là những vị Hạ Sĩ Quan, họ đi theo xe để phân phối lương thực cho các đại đội đang hành quân, tôi hỏi làm quen người lính ngồi bên cạnh: răng xe chạy trễ rưá? Anh trả lời là mới mở đường xong Th/úy, vì VC hay ra đặt mìn. Khi xe ra tới ngã ba Hải Lăng rẽ về hướng Bắc qua cầu Dài, chạy một đoạn về hướng Tây bắt đầu leo dốc lên căn cứ Động Ông Đô. Mỗi lần trèo dốc cao, chiếc xe GMC già nua ghì gầm như con voi già muốn hụt hơi, bụi đất mịt mù bám theo sau. Ngồi trên chiếc GMC, hai tay giữ chặt thành xe, ngơ ngác nhìn núi rừng trùng điệp, loang lỗ những hố bombe khắp nơi, những trái đạn pháo chưa nổ, rải rác vung vãi đó đây, cho tôi cảm nhận được nơi đây đã từng xảy ra những trận đánh khốc liệt không lâu lắm giữa QLVNCH và CSBV. Tôi rùng mình lo sợ rồi nghĩ vu vơ mình là con chim mới ra khỏi tổ đang chập chững tập bay trong vùng lửa đạn, không biết khi nào đủ lông, đủ cánh để vững vàng bay trên bầu trời bao la, thăm thẳm trên quê hương điêu tàn đổ nát giữa cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt thì làm sao tránh được những phong ba bão táp, những cạm bẫy nguy hiểm của cuộc đời! Hay là sẽ có ngày gãy cánh trong một đêm tối, nơi âm u hoang vắng của góc núi, bià rừng xa lạ kia mà Mẹ già và người yêu không hay biết! Ai gây ra chiến tranh, đỗ nát ,tiêu điều này, khốn nạn thật ! Trách ai đây, làm trai trong thời chinh chiến phải hy sinh và chấp nhận. Khi chiếc GMC dừng lại điạ điểm nhận tiếp tế của ĐĐ 4, tôi biết tại nơi đây có một người đang nóng lòng chờ tôi! Tôi hơi lo, đó là ông Đại đội trưởng, để nghe ông giũa! và chấp nhận những lời trách móc, vì tội đã về trình diện trễ phép. Tôi xuống xe, xớ rớ, khép nép đứng hẵn một bên, nhìn những người lính, họ thật nhanh nhẹn, liến thoắng, gọn gàng, chẳng mấy chốc tất cả những gì trên xe bỏ xuống như gạo, thực phẩm, nhu yếu phẩm, rau cải, muối mắm, vv…đã nằm gọn trong ba lô của họ, những cái ba lô nặng trĩu, căng phồng, trên tay còn cây súng M16 nữa. Tự dưng có một anh lính còn rất trẻ bước lại gần tôi, anh ta mỉm cười gật đầu chào, nhỏ nhẹ nói: Th/úy ( họ ít gọi Ch/úy) để em mang đồ phụ cho Th/úy. Tôi trả lời, cám ơn anh, chẳng có gì nặng tôi tự mang cũng được. Anh ta có vẻ không vừa ý, anh nói tiếp, em ra đây đón Th/úy mà! À thì ra thế, tiện việc, tôi đưa cái túi xách, có vài cuốn sách mà ở nhà đứa em gái tôi đã cẩn thận bỏ sẵn trong đó, tính tôi mê đọc sách từ nhỏ. Đi được một đoạn tôi nghe rất rõ giọng của anh lính nào đàng sau chửi thề đờ mờ......... tướng ông này chắc hắc ám lắm bây ơi! Tôi không nhìn lui họ, vẫn đi bình thường như không hề nghe ngóng gì, nhưng cười thầm trong bụng. Họ đi thật khỏe, thật nhanh, rất rành rẽ có lúc lên đồi, có lúc phải lội qua suối cạn, có lúc vừa đi vừa pheng lau lách, thỉnh thoảng tôi hỏi người lính đi bên cạnh, sắp tới đại đội chưa, anh trả lời đại đội mình nằm trong mu (xa) lận, đi một đoạn vì nôn nóng tôi lại hỏi lần nữa, anh ta lập lại đại đội miềng ở trong mu (xa) lận Th/úy!
3.
Đến lúc này tôi đã thấm mệt, nhưng cố
gắng bám theo những người lính đi trước, mặc dù lúc này là tháng 9, trời Quảng
Trị se lạnh và âm u, nhưng vì đoạn đường lên đồi, xuống suối dài lê thê, mồ hôi
bắt đầu đổ ra. Vừa lội qua con suối nước ngang
mông, thì leo lên con đường mòn khúc khuỷu, rồi leo lên dốc núi dựng đứng. Tôi đứng thở hổ hển, mồ hôi ướt áo,
thấy lá cờ vàng 3 sọc đỏ bạc màu bay phất phới, lòng thấy hơi vui. Lính đi nhận
tiếp tế về, dừng lại, bỏ ba lô xuống, từ đâu đó xuất hiện khoảng trên dưới 10
người, họ hỏi han, chuyện trò thân mật, tôi biết đây là BCH/Đại đội. Đảo mắt
nhìn quanh, thấy giao thông hào quanh co bao bọc, đứng lút đầu, rồi hố cá nhân,
cách 3 mét có đống đạn M79, và két lựu đạn, nhiều chỗ như vậy, những quả đạn
phòng thủ M79 và lựu đạn được che đậy cẩn thận nhưng vẫn lòi ra đầu đạn vàng
khè. Một vài cái lều tranh nằm sụp xuống đất. Tôi ghé vào một lều gần đó, ngồi
lau mồ hôi, ngơ ngác nhìn trời, nhìn núi
rừng trùng điệp, hoang vu, nghĩ ngợi vu vơ, tôi hơi lo âu. Có lẽ Đại đội đã nhận công điện báo
tin từ hậu cứ, thành ra sự có mặt của tôi không làm họ ngạc nhiên, tuy nhiên
cũng có vài người lính họ muốn biết mặt vị Sĩ Quan mới làm tôi hơi bỡ ngỡ, rụt
rè như cô dâu mới về nhà chồng.
Nơi đây, từ trên cao nhìn xuống, núi rừng
hoang vu trùng điệp, như tấm thảm xanh khổng lồ, phơi mình dưới chân trời xa
tít, nhiều cây bị mảnh bombe chém ngã treo lủng lẳng nửa trên nửa dưới, xa xa
núi đồi bị bombe đạn cày xới loang lổ, màu vàng của đất đều đặn như đáy rỗ.
Bombe đạn đã cày xéo, tàn phá khủng khiếp. Đối diện với hoàn cảnh nơi đây, tôi
nghĩ thân xác nhỏ bé này làm sao gìn giữ được, thôi đành phó thác cho trời, cho
đất, cho gió, cho mây, cho mặt trời, cho khe suối ... cho bombe đạn. Thành ra
tôi chẳng mơ mồng và tha thiết cuộc đời này nữa, chỉ biết đánh đấm, hy sinh
cùng đồng đội, cho phép tôi không còn sợ hãi bất cứ ai, bất cứ điều gì ... Ngồi
trong cái lều bằng tranh, suy nghĩ vẩn vơ, bên kia máy truyền tin cứ sôi rè rè,
những Trung đội họ liên lạc với đại đội nói gì tôi chẳng hiểu, vừa uống
xong ly nước, hút một điếu Capstan cho thoải mái, bớt căng thẳng, thì nghe
tiếng ai đó nói Th/úy qua gặp Tr/úy Đại đội trưởng. Tôi bật dậy chui ra khỏi
hầm, thì ông ta đã đứng trước mặt, ông to cao, mặt lạnh như đồng, nước da sạm
nắng trông già dặn phong sương, cổ áo mang hai hoa mai đen, bỏ áo ngoài quần,
thấy vậy tôi không thể đứng nghiêm chào ông ta được theo quân phong quân kỷ của
quân đội, (đúng thôi, ở nơi đèo heo hút gió này cần gì phải nai nịt chỉnh tề),
ăn mặc sao cho thoải mái là được. Ông ta phủ đầu: tôi đã nhận công điện cách
đây một tuần rồi, mà sao bây giờ mới thấy anh? Tôi lúng túng lắp bắp trả lời
nhỏ nhẹ: thưa, Đ/uý Cơ chỉ huy hậu cứ cho tôi đi phép, sáng nay có chuyến tiếp
tế tôi mới lên được, thưa Tr/úy. Ông nói được rồi chuyện đó nói sau, anh qua
bên kia tạm nghỉ với ông Th/uý Thuận đại đội phó. Câu chuyện về trình diện đơn
vị trễ coi như tạm xong. Ở đây được 3 ngày, mục đích là để tôi làm quen và hiểu
biết thêm về vấn đề điều hành, trong phạm vi cấp đại đội, trung đội và sinh
hoạt ngày đêm của anh em binh lính. Tối đến, ông gọi tôi qua lều của ông, mở
bản đồ ra và cái điạ bàn trên tay với cây viết chì mỡ xanh, đỏ, cẩn thận chỉ vẽ
tận tình. Ông nhấn mạnh trách nhiệm, nhiệm vụ của tôi đồng thời chỉ cho biết
tọa độ của Đại đội, ba Trung đội nằm ngoài, những điểm ly ti của những Tiểu
đội. Trước khi gấp bản đồ lại ông nói với tôi, ngày mai anh về
coi Trung Đội 4, thế ông Th/sĩ Dưỡng. Chỉ tấm bản đồ trên tay, ông hỏi tôi, toạ
độ này là Tr/đội anh, nếu bị việt cọng tấn công trong đêm, anh chỉ cho tôi ba địa
điểm tiên liệu để khi cần pháo binh bắn yểm trợ. Tôi chỉ đúng 5/5, ông ta tỏ ra
vui vẻ và tin tưởng.
Bẳng đi một thời gian, ngày mưa, ngày
nắng, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng nọ, sắp có quyết định chính
thức mang Thiếu Uý. Lúc này tôi cảm thấy hơi cứng cáp, và có chút kinh nghiệm
chiến trường, thì Tiểu đoàn được lệnh lên rãi quân, đóng chốt quanh căn cứ Barbara, Đại đội tôi vào thật sâu,
riêng Trung đội tôi nằm về hướng Tây Bắc tiếp giáp với căn cứ Động Ông Đô,
không khí nơi đây ẩm thấp và rất lạnh, cây cối gãy đổ, đồi núi trùng trùng
điệp điệp. Đóng quân trên một ngọn đồi dựng đứng thế yên ngựa thật cao, tôi
không nhớ chính xác là cao độ bao nhiêu, sau lưng tôi là đỉnh cao căn cứ
Barbara nơi mà BCH /TĐ đóng ở đó. Tháng này trời mưa liên miên, lạnh buốt thấu
xương, mây đen u ám. Cũng giao thông hào cũng hầm hố, lựu đạn, M79, mìn bẩy dày
đặc. Được biết nơi này trước đây, trên đường tái chiếm Cổ thành Quảng Trị hai
đơn vị Nhảy Dù và TQLC là mục tiêu đầu tiên mà họ phải thanh toán mới tiến
chiếm Cổ thành Đinh Công Tráng được, thành thử hệ thống phòng thủ rất kiên cố,
khi họ rút vào Nam thì giao trách nhiệm phòng thủ lại cho lực lượng Địa Phương Quân
Tiểu Khu Quảng Trị trấn giữ.
Sau khi nhận nhiệm vụ ở điạ điểm mới
này, ông Trung úy Đại đội trưởng gọi máy và mời tất cả bốn vị Trung đội trưởng
ngày mai lên họp, nhớ mang theo bản đồ, tôi và ông Dinh trung đội phó cùng đi.
Ông ta nhận lệnh từ Ban 2 TĐ và cho chúng tôi biết rằng tình hình và hoạt động
của địch nơi đây rất đông và nguy hiểm, phải cẩn thận, như VC đang ráo riết
ngày đêm mở thêm đường, xe Molotova di chuyển thường xuyên bất kể ngày đêm, đôi
khi về đêm còn nghe tiếng xích xe tank
của địch nữa. Các anh về kiểm soát lại công sự phòng thủ, cho con cái canh gác
cẩn thận trong tư thế sẵn sàng chiến đấu,v.v..... Trên đường trở về Trung đội,
tôi nói với ông Dinh ghé lên tiểu đội ông Tr/s Đợi cho ông biết tình
hình vừa mới họp xong, luôn thể lấy binh nhì Lê Cửu lên ở trên trung đội vì
tiểu đội ông Tr/s Đợi dư người, trong lúc trung đội lại thiếu người, để thay
thế cho Binh nhì Thanh đang bị sốt rét rất nặng mấy ngày nay. Tôi sẽ đề nghị
cho Thanh về nằm bệnh viện qua chuyến tiếp tế ngày mốt. Ghé ông Đợi chuyện trò
năm câu ba chuyện, khi ra về thì quên mất không ai nhắc tới Binh nhì Lê Cửu
cả!.
4.
Nơi đây cây cối
um tùm rậm rạp, tiêu điều hoang vu, mìn bẫy, mảnh đạn, hố bombe khắp nơi, chỉ
có bóng dáng những người lính, họ âm thầm chịu đựng, lẻ loi, khắc khổ, suốt
ngày đêm ...... Thời gian này mưa gió liên miên, đêm xuống rất nhanh. Lau sậy
đua nhau rì rào nhảy múa, tầm quan sát rất hạn chế cho người lính gác ngày cũng
như đêm, nhiều khi người gác phải gác bằng lỗ tai, nghiêng bên này, nghiêng bên
nọ nghe ngóng tiếng động của địch, trên tay sẵn sàng hai trái lựu đạn, khi cần
thiết! thật nguy hiểm! Mây đen trên đầu vẫn lãng vãng cả một vùng u ám. Một
hôm, bữa cơm chiều vừa mới bày ra, cơm lính thật đơn giản, thường thì thịt hộp
ba lát, một nồi canh rau má, quây quần năm ba người ngồi bệt dưới đất. Tôi vừa
cầm cái chén lên, kéo cái nón sắt làm ghế thì nghe cái “ầm”….., tiếp theo ba
phát súng báo hiệu bắn về hướng tôi từ tiểu đội của Tr/sĩ Đợi. Một đám khói
đen cuộn tròn bằng cái thùng phi bốc lên, tôi đoán chắc chắn đây là tiếng
nổ lựu đạn M26 của phe ta. Tức khắc, tiếng Đại đội trưởng vang lên trong máy
PRC 25 -- 44 đây 40 gọi (40 là ám danh đàm thoại của Đại đội trưởng - 44
là cuả tôi, Trung đội trưởng - đôi khi còn gọi Romeo ) 44 tôi nghe 5/5 - Con
cái anh có gì mà vỗ tay ì ầm vậy? - Trình 40 -tôi chưa biết chuyện gì mà
từ phía Tr/sĩ Đợi bắn 3 phát báo hiệu cho tôi. Ông ta ra lệnh: được rồi, anh
đích thân mang máy, lội qua đó báo cáo chính xác cho tôi biết chuyện gì, (vì cấp
Tiểu đội không có máy PRC 25) - Nhận 5/5- 40 ! Tôi chắt lưởi , lẩm
bẩm , một mình: chao ơi! giờ này mà qua đó, rồi biết khi nào trở về, sao không
để sáng mai! Như quý vị biết lệnh lính là phải thi hành! Tôi vội vàng phân
công: H/sĩ Hưá, Lê Hứa súng đạn đi đầu, Díu mang hộp cứu thương, súng đạn
đi nhì, tôi súng đạn mang máy PRC-25 đi sau cùng. Vừa trụt xuống đồi, gặp con
suối, nơi đây theo thói quen thường ngày lính và tôi hay đi lấy nước và tắm giặt,
chân vừa chạm tới suối nước thì trời sập tối. Con suối uốn mình, róc rách, xào
xạc, như một con trăn khổng lồ im lặng chờ mồi! Tôi bắt đầu hồi hộp rùng mình
lo sợ, nơi này địch và ta đang tranh dành nhau từng thước đất, từng ngọn đồi,từng
ngọn cờ. Thả chân vào dòng nước, âm thầm rà theo con suối như những chàng lính thuộc
binh chủng Biệt Kích đang hoạt động trong lòng địch. Đêm xuống rất nhanh, núi rừng im lặng tịch mịch,
những tiếng róc rách nước chảy, nghe đến rợn người. Men theo suối khoảng 100
mét, tìm ra con đường mòn đi lên điạ điểm Tr/sĩ Đợi, chúng tôi vẫn giữ được đội
hình như trước, từng người một, luồn mình lách qua một vài gốc cây, mới bắt được
con đường mòn lên chốt. Tới nơi, Hứa ngồi xuống kiên nhẫn, làm tiếng động nhỏ
ra dấu cho người lính gác biết để tránh ngộ nhận, vì trước khi ra đi, tôi cũng
bắn trả bốn phát cho Đợi biết, là chúng tôi sẽ qua! Tr/Sĩ Đợi lên tiếng bảo ngồi
chờ, để ông tháo gỡ lựu đạn và mìn chiếu sáng, mười phút sau chúng tôi có mặt.
Đợi chưa kịp nói, thì tôi đã đứng chết trân như trời trồng, tới gần thì thấy một
người lính đã chết, xác nằm co trên giao thông hào, bê bết máu, mình mẩy loang
lỗ như lưới đạn B40, tay chân co cụm lại, một vài mảnh thịt dính trên những
cành cây và ngọn lá gần đó. Tôi sững sờ đau xót, đó là Binh nhì Cửu, Lê Cửu quê
ở Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị. Được Tr/sĩ Đợi cho biết Cửu mới từ bệnh
viện ra, ốm yếu đi đứng còn chưa vững vì căn bệnh sốt rét cấp tính, tôi phân
công Cửu gác phiên đầu để nó có thì giờ nghỉ ngơi cả mấy ngày rồi. Nhưng hôm
nay Cửu bất cẩn khi kéo sợi dây giăng ngang qua con đường mòn trước mặt để gài
lựu đạn như thường ngày, trái lựu đạn đã rút chốt, sơ ý rơi xuống đất rồi phát
nổ, nó run sợ ngồi xuống ôm mặt, cái chết mới ra nông nỗi này! Nếu những người
lính khác sức khỏe, nhanh nhẹn, khi trái lựu đạn rơi xuống đất, họ có thể dùng
chân đá đi xa rồi nằm xuống, may ra thoát chết, vì trái lựu đạn khi rút chốt,
khỏang 6 giây sau mới phát nổ. Tôi báo
tình hình cho 40 biết, tức Đại đội trưởng biết, rồi buồn rầu đau xót ra về! Cổ
họng tôi đắng nghét nghĩ tới cái chết oan ức, vô lý của Lê Cửu, nếu ngày hôm
qua, tôi hoặc ông Dinh nói Cửu mang ba lô súng đạn đi theo mình, thì làm gì có
cảnh oan nghiệt bi đát này. Thật tình tôi rất ân hận, có lỗi! Khi trở về vẫn đội hình như cũ, trụt xuống con
dốc để bắt được con suối, như lúc nãy, thì nghe tiếng sột soạt, huýt gió. Hưá
đi đầu ra dấu ngồi xuống để quan sát, giữa núi rừng hoang vu trong màn đêm vắng
lặng cô tịch, tiếng côn trùng, tiếng chim ăn đêm nghe đến rợn người. Tim tôi nhảy
thình thịch như muốn rớt ra ngoài, mất bình tỉnh, tôi nghĩ mình đã lọt vào ổ phục
kích của việt cọng, đến nỗi sau lưng tôi đang mang máy PRC 25 mà không cảm giác chi cả, đồng
thời nghe trong ống liên hợp đang áp vào tai, tiếng gọi 44- trả lời, tôi hết hồn,
té ra thì binh nhì Nhớ, âm thoại viên của Đại đội gọi tôi! cùng lúc thì Hứa ra
dấu đứng dậy! Thì ra tiếng chim đi ăn đêm, quá mừng, mình không phải bị phục
kích, qua cơn hoảng sợ, vất vả lắm, cuối cùng ba thầy trò tôi cũng mò về tới
Tr/đội lúc nửa đêm!!!
5.
Tôi được lệnh cấp
chỉ huy, ngày mai cho tôi và hai thuộc cấp mang thi thể Lê Cửu ra BCH/TĐ, ở đây
có xe mang về Tiểu Khu để tẩm liệm, thi thể Cửu được bó kỹ càng và cẩn thận
trong poncho do Phan Lạc và Hạ sĩ Hoàng Minh Giám cáng đi. Họ buộc vào một khúc
cây làm đòn gánh, người trước, người sau, xác Cửu nằm ở giữa, họ gánh đi trên
những con đường mòn ngoằn nghèo, khúc khuỷu, hai bên lau lách, cỏ cây còn đọng
nước bởi những đợt mưa nhỏ hồi đêm. Con đường gian lao khổ cực, lên đồi, xuống
núi, ngoằn nghèo như những cây tre gai gốc nối đuôi
nhau xa thẳm. Tôi
thì đi một bên thì thầm cầu nguyện, xót xa bùi ngùi thương tiếc. Đi một hồi, Lạc
và Giám quá mệt, mồ hôi đầm đìa ướt áo, đôi lúc ngồi nghỉ mệt, bực, Giám nói
đùa: Mẹ...... linh hồn mày linh thiêng xui khiến cho tụi tao khỏe manh may mắn,
nhẹ nhàng, suôn sẻ để tụi tau mang mày ra tới nơi tới chốn, chứ còn nặng như đá
thì tau vứt lại đây bây giờ. Buổi đầu tôi nghe hơi khó chịu, mỗi lần Lạc và Giám nghĩ mệt họ đều nói đùa như
vậy, đời lính họ đã hy sinh, chia sẻ gian khổ với nhau quá nhiều nên có lẽ
những lúc cực khổ họ đùa chút chơi thôi ! Lính mà, ăn nói bạt mạng, ăn thô nói
tục là số một, không chửi thề, không phải Lính. Đến trưa thì chúng tôi đã tới điạ điểm của BCH/TĐ,
ngồi chờ xe đến. Nơi đây tuy gần BCH/TĐ nhưng không có một bóng người
lui tới, nghĩ cũng thấy buồn! Nghe tiếng động cơ rù rù từ đàng xa kéo theo bụi
đất, đó là chiếc xe GMC đến để chở thi thể Cửu về Tiểu Khu tẩm liệm. Tôi, Lạc
và Giám lên xe cùng đi, Giám là người cùng làng với Lê Cửu, khi về đến Tiểu Khu
tôi vào hậu cứ xin phép vào thăm nhà ở Huế một vài ngày.
Trước khi trở
lại đơn vị, tôi không quên ghé nhà Lê Cửu để chia buồn, an ủi với gia đình và đến
mộ phần thắp nhang với bó hoa cầu nguyện cho người đồng đội xấu số được siêu
thoát về bên kia thế giới. Ngủ lại một đêm ở hậu cứ, ngày mai theo chuyến tiếp
tế trở lại đơn vị. Ngồi trên xe vẫn núi rừng hoang vu trùng điệp, lòng buồn man
mác, hình ảnh của Cửu cứ chập chờn, lãng vãng đâu đây. Đến chỗ đóng quân, lạ
quá sao mấy hôm nay nằm trong cái lều ọp ẹp, thô sơ như mọi ngày với âm thoại
viên mà không ngủ được, ám ảnh bóng hình của Cửu chăng? Hai đêm liên tiếp như vậy,
đến đêm thứ ba, mỗi lần nằm xuống thiu thiu ngủ, thấy Cửu cứ ngồi phía trên đầu
tôi, tôi hoài nghi có chuyện gì chẳng lành chăng?! Tôi nói nhỏ với Lê Hứa, nằm
kề bên rồi ngồi dậy hút thuốc để xua đi nỗi ám ảnh. Sợ mất ngủ tôi cố gắng nằm lại lần nữa, trong
bóng đêm lờ mờ tịch mịch thì rõ ràng bóng Cửu đã ngồi phía trên đầu lần nữa,
linh tính báo cho tôi có điều gì chăng? Tôi vội vàng đứng dậy, qua nói với ông
Dinh Tr/đội phó: phải đánh thức tất cả anh em dậy lẹ lên, người nào ra hầm người
đó! Lúc này đã khuya, trời lạnh và mưa, những giọt mưa rơi lộp độp trên nón sắt.
Ngồi dưới giao thông hào rất lâu, để khỏi buồn ngủ, tôi đốt liên tục 7 điếu thuốc
Capstan, bên kia nghe tiếng ai chửi thề đ.m. không thấy động tĩnh gì cả sao ông
thầy dựng đầu dậy ngồi hoài vậy ông Dinh? Tôi vừa dụi cái tàn thuốc thứ 7, lấy
múi giày dậm tắt, thì từ phía Phan Lạc ngồi gác, nghe cái Ùmmmmmm, cạnh cái hố
bombe, Lạc quay đầu lui chửi thề: đ-m- thằng nào chọi đá đó? Tôi nghĩ, ngồi lâu
có thể lính chọi đá đùa giỡn không chừng. Tiếp theo thì nghe một tiếng
“kennnn”, hòn đá ném vào trúng ống charge đựng nước, bấm đèn pin dọi ngay chỗ
đó thì thấy hòn đá to bằng cái trứng, mẻ một góc. Bình tĩnh, tôi nói với
anh em, việt cọng ném đá thăm dò anh em mình thức hay ngủ để tụi nó tấn công. Tức
khắc tôi bảo Lạc dụt lựu đạn xuống hướng trước mặt. Ầm, ầm liên tiếp hai trái,
bên này Hạ sĩ Giám cũng ầm, ầm làm theo, Tr/sĩ Dinh cọc ầm, cọc ầm ...bồi thêm
vài trái M79 nữa. Tôi nói với ông Dinh hai trái mìm Claymore gài chéo nhau ở đường
mòn lên xuống hằng ngày, cho nổ sau cùng khi nào nghe hô xung phong. Tức
thì, nghe -40- Đại đội trưởng lên máy hỏi: gia đình anh có gì mà vỗ tay ì ầm
vậy? Tiểu đoàn đang hỏi và theo dõi mình. Tôi trả lời thấy dấu hiệu việt cọng sắp tấn
công gia đình tôi, nó bò vào ném đá thăm dò, tôi cho khai hỏa. 40- ra lệnh: anh coi con cái, canh gác cẩn thận,
nếu nó táp pi (tấn công) anh cố gắng chống trả và nằm yên tại chỗ, tuyệt đối
không được bỏ chốt, sáng mai tôi qua sớm bắt tay với anh, tôi trả lời nhận 5/5-
40. Ở chốt này, công sự phòng thủ rất kiên cố, lựu đạn và M79 do Nhảy Dù để lại
dư sức xử dụng hai ba tuần cộng thêm tinh thần vững vàng của anh em, khiến tôi
yên tâm. Vì ngay từ đầu khi nhận
trách nhiệm điạ điểm này, tôi nhận thấy, điạ thế cao, nguy hiểm, mìn và lựu đạn
đơn vị bạn đã gài dày đặc, khi rút lui họ tháo gỡ nhưng còn sót lại rất nhiều,
vì vậy tôi dặn tới dặn lui anh em, nếu bị việt công tấn công, bắt buộc phải nằm
tại chỗ chiến đấu tới cùng... Chúng tôi thay nhau thức tới sáng chẳng thấy động
tĩnh gì nữa, thỉnh thoảng âm thoại viên đại đội liên lạc, hỏi tình thế,v v
....Sáng mai tờ mờ sáng, ông Dinh và tôi dẫn lính xuống lục soát thì thấy một
vài lọn cỏ đã cột lại với nhau, dấu chân người dẫm lên cỏ còn mới, và hai
túi xách của Trung Cọng. .
6/ Kết
Hai mươi năm chiến tranh khốc liệt ở Việt
Nam, người lính VNCH đã xả thân, đổ máu hy sinh vì lý tưởng Tự Do trên chiến
trường quá nhiều, trong đó sự hy sinh của Binh nhì Lê Cửu không có quyền lãng
quên mà không nhắc đến. Tôi cũng đã từng tận mắt nhìn thấy những binh lính bị
thương vong, hy sinh trên chiến trường, nhưng sự vĩnh viễn nằm xuống một buổi
chiều của Binh nhì Lê Cửu tại căn cứ Barbara năm 1974 quá đặc biệt, không toàn
thây, bên cạnh đồng đội vẫn còn đó. Mặc dầu thời gian đã trãi qua gần năm mươi
năm, hôm nay ngồi nhớ lại vẫn còn bùi ngùi thương tiếc, thương tiếc cho thân
phận hy sinh của người Lính trong lúc đất nước có chiến tranh, nhất là Người
Lính VNCH. Tôi, một Sĩ Quan trẻ ngày nào bây giờ đã trên 70 tuổi, nhớ lại một
thời chinh chiến, luôn mang theo một kỷ niệm buồn khó tả. Hôm nay ngồi ghi chép
lại như một tâm tình đối với đồng đội năm xưa, đồng thời xin đốt lên một
nén nhang cho người lính xưa kia của mình được nhẹ nhàng siêu thoát và vô cùng
biết ơn linh hồn Lê Cửu, đã linh thiêng đánh thức đồng đội của mình thoát chết,
như một phép mầu nhiệm trong một đêm mưa gió lạnh lẽo tại căn cứ Barbara, Quảng
Trị năm nào. Một lần nữa cũng xin cúi đầu đa tạ những vị Vị Quốc Vong Thân và
biết ơn sự hy sinh vô bờ bến của chiến sĩ VNCH năm xưa.
Doro,
Paris ngày 20 tháng 9 năm 2021
Ghi chú:
TKQT : Tiểu Khu Quảng Trị, Tđt : Tiểu đội trưởng, Trđt : Trung
đội trưởng, ĐđT: Đại đội trưởng; HSQ: Hạ Sĩ Quan ; BCH/TĐ : Bộ chỉ huy Tiểu
đoàn , BCH/ĐĐ: Ban chỉ huy Đại đội, Ch/uý: Chuẩn úy, Th/úy: Thiếu uý, Tr/úy:
Trung uý, Đ/uý: Đại uý, Th/sĩ: Thượng sĩ, Tr/sĩ: Trung sĩ, HS: Hạ sĩ, VNCH:
Việt Nam Cộng Hòa.
