…về thơ Đinh Thị Thu Vân – Đỗ Trường
![]() |
| nhà văn Đỗ Trường |
(Nếu đọc Đinh Thị Thu Vân chỉ cảm được nỗi buồn đau chơi vơi của tình yêu lệch phía, thì quả thực ta mới thấy cái vỏ. Sự bao dung trong cái mất mát tàn phai mới là lõi trong hồn thơ chị. Vâng! Còn có con người đáng để cho chị yêu, chị sống đến tận cùng, đó mới là hạnh phúc trong cuộc sống, thơ văn của chị.)
ĐINH THỊ THU VÂN: THỀM RÊU LẶNG LẼ ĐỢI CHÂN NGƯỜI
(Mục chân dung nhà văn: Đỗ Trường)
Khi Đinh Hùng rời cõi tạm vào chớm thu 1967, thì tưởng chừng
vòm trời thi ca đã để lại một khoảng trống không thể bù đắp. Nhưng
may mắn thay, đúng mười năm sau (1977) thì tình yêu, khát khao, sự
cuồng say đến tận cùng ấy được sống lại bởi Đinh Thị Thu Vân. Có
lẽ, con đường thơ độc đạo còn dang dở ấy của Đinh Hùng, được tiếp
nối, và mở ra bằng hồn thơ Đinh Thị Thu Vân chăng? Dù thơ ca của hai
thi sĩ này có ngôn ngữ, hình thức, thể loại rất khác nhau. Và cũng
chẳng hiểu, hai thi sĩ họ Đinh này có quan hệ (huyết thống) gì hay
không? Mà làm cho tôi, khi đọc Đinh Hùng nhớ đến Đinh Thị Thu Vân, và
đọc Đinh Thị Thu Vân lại nhớ đến Đinh Hùng. Và có thể nói, hình
tượng cái tôi trữ tình, và phương pháp tu từ, mang tính tự sự là
nghệ thuật đặc trưng đã làm nên hồn vía thơ ca Đinh Thị Thu Vân.
Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân sinh năm 1955 tại Long An. Năm 1977 chị tốt nghiệp Đại học sư phạm Saigon, và khởi nghiệp thơ văn tại quê nhà từ đó cho đến nay. Đinh Thị Thu Vân viết không nhiều. Dường như, hơn bốn mươi năm cầm bút, chị mới cho in ấn, phát hành 5 thi tập: Thay cho lời hát ru, Rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại, Trần trụi tình yêu, Bóng, và Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ.
Tình yêu, nỗi cô đơn đợi chờ và sự khắc khoải của linh hồn là
đề tài xuyên suốt những trang thơ Đinh Thị Thu Vân: “nếu có kiếp sau, em
xin làm bậc cửa/ làm thềm rêu, lặng lẽ đợi chân người“. Tuy nhiên, thông qua
một số tác phẩm viết về đề tài xã hội, ta chợt nhận ra, sự mâu
thuẫn trong tư tưởng của chị.
*Những câu thơ em viết mất linh hồn.
Nhìn vào văn học sử Việt Nam, sau Lưu Quang Vũ, tôi đánh giá cao
cái Tôi trong thơ của Đinh Thị Thu Vân. Và cùng cái chất trữ tình ấy,
những câu thơ của chị ám ảnh, làm cho người đọc “vãi“ cả linh hồn:
“Dẫu mai này lòng không còn nguyên vẹn/ những câu thơ em viết mất linh
hồn“. Có thể nói: Ru là một trong những bài thơ như vậy của chị.
Đọc nó, dường như tôi không thể phân biệt được rạch ròi, hồn vía thi
nhân đã mất, hay hồn thơ đã rụng, khi: “Câu thơ nào em viết cho anh/ Xin
vĩnh viễn đi vào kỷ niệm“. Và rồi nhà thơ cũng chợt nhận ra, những câu
thơ kia đã lạc mất linh hồn. Phũ phàng, buồn đau là thế, nhưng đọc
lên, ta thấy hồn thơ vẫn có sự ấm áp và bao dung:
“…những câu thơ rồi sẽ mất linh hồn
mùa phai nhạt lòng em, chừng sẽ đến
khi em khóc đời em không bờ bến
những câu thơ trôi nổi lạc nhau rồi
anh có buồn trong những lúc đơn côi
đầu hãy tựa lên những câu thơ, yên ấm ngủ
những câu thơ một thời anh bạc bẽo
xin hãy cứ tựa đầu, khi thiếu một lời ru...(Ru)
Uớc mơ trở về cái thuở ban đầu, cái thuở chưa có thơ, và chưa
hề biết bạc bẽo dường như là một điều không tưởng (hay không còn
trọn vẹn) trong tâm hồn Đinh Thị Thu Vân. Đọc Ngày anh trở lại, tôi cứ
ngỡ, đó là một bài thơ nối lại hồn vía, nối lại thi phẩm (lời) Ru
của chị. Và làm tôi chợt nhớ lại mấy câu thơ mang tính triết lý nhân
sinh của Khánh Nguyên: “Trước không em bình thản sống vô tư/ giờ không
em, lòng tràn đầy bão tố/ Cứ tưởng rằng sẽ về nguyên như cũ/ Có đâu
ngờ không lại chẳng bằng không“. Và cái không lại chẳng bằng không đó,
như một phép so sánh trong sự mất mát khôn cùng, âu cũng là kết quả
mà Đinh Thị Thu Vân phải đón nhận vậy. Đoạn trích có lời thơ dân dã,
trần trụi, trong bài “Ngày anh trở lại“ dưới đây, không chỉ cho ta cảm
giác chờn chờn rờn rợn, mà còn thấy được ước mơ, cùng những bi lụy
đắng cay chìm vào cái hồn thơ nồng nàn thuở ấy:
“em quỳ xuống xin em đừng thương tiếc
đớn đau kia không đủ sức nhận hai lần!
Em quỳ xuống. Ôi ước gì tất cả
chỉ là mơ, chưa trần trụi bao giờ
em chưa khóc. Anh chưa hề bạc bẽo
ôi ước gì chưa có những bài thơ “
Sở trường Đinh Thị Thu Vân là thơ tự do, với những câu thơ dài
ngắn vắt ra từ cảm xúc, trải lên trang viết của mình. Nhưng đến với
“Có ai buồn với tôi không“ chị đã viết theo thể lục bát. Một thể thơ
dễ viết, song rất khó hay, nếu nhà thơ không thực tài. Tuy nhiên, ta
có thể thấy, Đinh Thị Thu Vân là thi sĩ giàu trí tưởng tượng, và
tài năng làm mới từ ngữ, cũng như sử dụng hình tượng so sánh ẩn
dụ: “dường như nhung nhớ thoáng rêu phong rồi“. Do vậy, đọc “Có ai buồn
với tôi không“ cho ta một cảm giác, như chia đôi hồn người vào cơn gió
chiều mông lung ấy. Thật vậy, cả bài thơ là một câu hỏi tu từ, cùng những
lời độc thoại níu kéo, gạn chia nỗi buồn. Nhưng nỗi buồn bi đát ấy,
dường như đã hóa thành rêu phong, làm sao có thể sớt chia. Vâng, một
nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng. Và những câu hỏi thay cho lời phủ định
đó là tiếng kêu vọng lên trong đêm, hay điểm bấu víu cuối cùng của
linh hồn người thi sĩ:
“có ai buồn với tôi không
hắt hiu ngàn gió thổi mông lung chiều
rạc rời hương sắc thương yêu
dường như nhung nhớ thoáng rêu phong rồi
dường như người chớm quên người
dường như đêm bớt đầy vơi đẫm lòng
có ai buồn với tôi không
tàn tro lạc mất, còn mong mỏi gì!
này ai, buồn với tôi đi
lẻ loi đã đợi ôm ghì rỗng không
hắt hiu ngàn gió mông lung
có ai buồn với tôi trong kiếp này?”
Nếu “Có ai buồn với tôi không“ là một câu hỏi tu từ, níu kéo
sẻ chia nỗi buồn, thì đến “Ru oan” như một lời ru, xoa dịu nỗi đau
trong lòng người vậy. Có một điều đặc biệt, thơ của Đinh Thị Thu Vân
luôn luôn có nhân vật. Và những nhân vật trữ tình này xuyên suốt trang
thơ của chị. Với đặc tính này, thơ của chị khó có thể lẫn với bất
cứ nhà thơ nào khác. Do vậy, trộn lộn thơ cả trăm tác giả vào, khi
đọc ta vẫn có thể dễ dàng nhận ra thơ Đinh Thị Thu Vân. Và Ru oan là
bài thơ điển hình như vậy của chị. Có thể nói, đây là một trong
những bài thơ hay nhất của Đinh Thị Thu Vân. Vẫn thể lục bát, lời thơ
tự sự đẹp, và nhẹ nhàng, chẳng biết lời ru cho anh, hay thi sĩ đang
tự ru lòng mình: “là dăm ba phút lỡ làng/ em ru anh, để ru oan đời mình!“.
Và đoạn trích dưới không chỉ cho ta thấy rõ những điều đó, mà một
lần nữa chứng minh thêm tài năng sử dụng từ ngữ, hình ảnh, cũng như
trí tưởng tượng phong phú của nữ thi sĩ họ Đinh này:
“gối đầu lên chân em đi
khép ngoan anh nhé rèm mi lặng buồn
em lần khuy áo mà thương
sâu trong lồng ngực anh dường như đau…”
Nếu đọc Đinh Thị Thu Vân chỉ cảm được nỗi buồn đau chơi vơi của
tình yêu lệch phía, thì quả thực ta mới thấy cái vỏ. Sự bao dung
trong cái mất mát tàn phai mới là lõi trong hồn thơ chị. Vâng! Còn
có con người đáng để cho chị yêu, chị sống đến tận cùng, đó mới là
hạnh phúc trong cuộc sống, thơ văn của chị.
*Em biết trốn vào đâu cho bớt nhớ.
Khi đọc những câu thơ chân thực đến xót xa của Đinh Thị Thu Vân:
“hôn em nhé, mai ta về với đất/ góc bể chân trời có lẽ bớt xa xôi...” làm cho
tôi nhớ đến cái thiết tha đến tận cùng của Xuân Quỳnh: "Em trở về
đúng nghĩa trái tim em/ Là máu thịt, đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập lúc
cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi". Vâng, có
lẽ, trái tim đa cảm như hai nữ thi sĩ này, trong thơ và trong cuộc
sống hiện nay, dường như không còn có nhiều. Chẳng vậy, mà một kỷ
niệm nhỏ cũng làm cho lòng người day dứt. Buộc Đinh Thị Thu Vân phải
trốn chạy nỗi nhớ thương, cuộn hồn vào trang giấy mong manh ấy. Để
rồi: Nhớ, một bài thơ bát ngôn được ra đời trong hoàn cảnh, tâm trạng
như vậy của Đinh Thị Thu Vân. Cái tính chân thực, khẩu ngữ dân dã
(thoảng qua như một câu hỏi tu từ), làm cho câu thơ hồn nhiên hay đến
bất ngờ: ”em biết trốn vào đâu cho bớt nhớ”. Có thể nói, Nhớ là
một trong những bài thơ hay nhất, tôi đã được đọc trong thời gian gần
đây:
“em nhớ lắm những lời anh chẳng nói
em nhớ lắm bàn chân anh bối rối
những ngón buồn không nỡ bước xa thêm
anh đừng đi, em không cách chi tìm
em biết trốn vào đâu cho bớt nhớ …”
Được toát ra từ nội tâm, do vậy thơ Đinh Thị Thu Vân mang tính
nhất quán thật rõ ràng: “hương vẫn hương, gió vẫn gió vô cùng” (Sau những
giấc mơ buồn). Tưởng rằng, anh đừng đi, em không cách chi tìm, nhưng
rồi, anh yêu dấu không còn thuộc về ta nữa. Một nỗi đau, từ “Nhớ” cho
đến “Ngày anh trở lại” như mạch nối dài tâm trạng và hồn thơ Đinh Thị
Thu Vân vậy. Ngày anh trở lại gồm sáu khổ thơ, tác giả đã sử dụng
điệp ngữ (cụm từ): Em quỳ xuống, đến 5 lần. Cứ tưởng rằng, đơn điệu
lắm, nhưng không phải vậy, bởi mỗi lần nhà thơ bộc lộ diễn biến tâm
lý khác nhau. Và động từ quỳ xuống trong câu thơ đã hoán đổi thành
tính từ, như biểu hiện lời thỉnh cầu trong tâm trạng chia ly, và nỗi
buồn đắng chát. Với tôi, “Ngày anh trở lại” là một bài thơ hay, và
toàn bích nhất của Đinh Thị Thu Vân:
“Em quỳ xuống lòng em mặn đắng
Xin đừng về đôi mắt ấm ngày xưa…
anh yêu dấu không thuộc về ta nữa
Trái tim em ngày ấy lạc đâu rồi
Tình yêu lạc cuối trời như chẳng có
Đời chúng mình con nước lỡ trôi xuôi”
Tình yêu đã lạc nơi cuối trời, nhưng khát khao thèm muốn vẫn
cháy bỏng trong lòng thi nhân. Những câu thơ đầy hình tượng lãng mạn
như gieo vào người một chút gì yếu mềm, và mong manh: “vai anh rộng để
em thèm bé nhỏ/ mơ một ngày yên ngủ giữa vòng tay/ một ngày thôi lơi lỏng áo
quên cài…” (Nhớ). Và giấc mơ, sự thèm muốn đó đã bị dập tắt bởi:
“những phũ phàng anh đã tặng cho em”. Buồn đau là vậy, song người thi sĩ
vẫn: ”nếu có kiếp sau, em xin làm bậc cửa/ làm thềm rêu, lặng lẽ đợi chân
người” (Gió bụi chông chênh). Vâng! Nếu buộc phải chọn, tôi nghĩ, đây
là câu thơ hay nhất, hình tượng nhất của Đinh Thị Thu Vân. Và nó đã ôm
trọn hồn cốt con người cũng như thơ ca của chị. Tuy đây là câu thơ hay
và hình tượng, song nhìn tổng thể “Gió bụi chông chênh” không thuộc
nhóm những bài thơ hay nhất của Đinh Thị Thu Vân:
“nếu có kiếp sau, em xin làm bậc cửa
làm thềm rêu, lặng lẽ đợi chân người
làm trang sách giấu một tờ thư cũ
anh bỏ quên trong góc vắng lâu rồi !
nếu có kiếp sau, em xin đừng nước mắt
một ngày thôi, đừng quạnh quẽ lúc yêu người
xin một ngày ràng buộc với em thôi
thôi đơn chiếc giữa đêm dài khuya khoắt !...”
Trong cái nghiệt ngã, và cô đơn, Đinh Thị Thu Vân vẫn khát khao,
dám đi đến tận cùng tình yêu, và cuộc sống. Đọc những câu thơ cuồng
say ấy của chị:“em yêu anh, cuồng nhiệt đáy tâm hồn/ May mắn quá, lòng anh
quen nguội lửa/. Không đốt được đời mình nơi chốn đó, /em trở về thương lấy
trái tim đau” (May mắn) tôi chợt nhớ đến sự rung động, si mê tình ái
làm người đọc phải sởn cả gai ốc của Đinh Hùng:
“Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu (Gửi người dưới mộ)
Cùng bộc bạch cái độ cuồng mê ấy, nếu lời thơ Đinh Hùng mộng
mị, sắc lạnh, thì ta có thế thấy, lời thơ Đinh Thị Thu Vân đằm thắm
và nhẹ nhàng hơn nhiều lắm. Sự khác nhau này, mang đến tính đặc
trưng riêng của từng thi sĩ, cũng như làm phong phú thêm sắc thái cho
thi ca nước nhà vậy. Và đằng sau cái khát khao, ngọn lửa Đinh Thị Thu
Vân dường như vẫn thường trực ở đâu đó, có lẽ chỉ còn thiếu ngòi
dẫn nữa thôi. Đoạn trích trong bài ”Một nửa đường đang khuất” dưới đây,
không chỉ cho ta thấy ngọn lửa khát vọng đó, mà còn thấy được sự
mông lung trong tâm tưởng, súc tích trong lời thơ Đinh Thị Thu Vân:
“không ai đợi tôi về sau cánh cửa
không nồng nàn không ấm áp bao dung
tôi như sống nửa đời đêm giấu lửa
một nửa dường đang khuất phía mông lung…”
Cũng như cái gu rượu bia, (khẩu vị) mỗi người có khác nhau.
Trong thơ văn cũng vậy. Với tôi, Văn học việt, kể từ khi có thơ mới
đến nay, về mảng tình yêu đôi lứa, sau Đinh Hùng, có lẽ Đinh Thị Thu
Vân là người gây cho tôi khoái cảm đặc biệt khi đọc. Và tôi có nói
điều này với một gã bạn trên bàn nhậu. Gã bạn này tỏ vẻ không
đồng ý, hỏi: Còn ông hoàng Xuân Diệu thì sao? Tất nhiên, ở khía cạnh
nào đó, tôi cũng khoái đọc Xuân Diệu. Nhưng thơ ông có lẽ hợp với nơi
đông người, đọc nơi hội trường, khác hẳn với Đinh Hùng, hay Đinh Thị
Thu Vân. Nếu ví thơ Xuân Diệu là cái vỏ, thơ Đinh Hùng, Đinh Thị Thu như
cái lõi vậy. Tôi nói thật suy nghĩ của mình. Dĩ nhiên, gã bạn không
đồng ý như vậy, bởi gã có cái gu đọc khác. Âu cũng là điều cần tôn
trọng.
*Từ mâu thuẫn tư tưởng đến trong thơ.
Mâu thuẫn tư tưởng dẫn đến sự không nhất quán trong cuộc sống,
cũng như trên những trang viết là yếu điểm của khá nhiều các văn
nghệ sĩ ở miền Bắc sau 1954, và trên toàn đất Việt sau 1975 mắc
phải. Cái mâu thuẫn, và hạn chế ấy phần nhiều do xã hội, hoàn cảnh
cuộc sống tác động đến họ, kể các các nhà văn, nhà thơ lớn, tên
tuổi: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, hay Hữu Loan… Từ lẽ đó, cho
nên không gây cho tôi một tí ti bất ngờ nào, khi đi sâu vào đọc Đinh Thị
Thu Vân. Thật vậy, ngay từ những ngày đầu cầm bút Đinh Thị Thu Vân đã
hồ hởi, reo vui: “Tháng Tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn.”. Và Ba mươi tháng Tư
đến, nhà thơ như cởi bỏ dĩ vãng, gột rửa được tâm hồn. Lời tự thú
ấy đã được Đinh Thị Thu Vân viết thành thi phẩm: Nếu không có ngày Ba
mươi tháng Tư, rất đồng điệu với khí thế hừng hực của những ngày sau
30-4-1975. Qủa thực, nó chẳng khác gì một bản kiểm thảo trước chi
bộ đảng đoàn vậy. Đọc nó, làm tôi nhớ đến lời tụng ca (với hình
ảnh so sánh) cùng sự dày vò, sám hối của Chế Lan Viên trước Tố Hữu
trong những ngày đầu đến với đảng:
“Anh thấy trước ngày mai
Cờ hồng treo trước ngõ…
Giữa nhà lao bóng phủ
Tìm đường cho lịch sử
Qua hai hàng cùm xai
Tôi nhìn ra tha ma
Hay quay vào trang sách
Ôi! dân Chàm nước mắt…
Khi đã buồn hiện tại
Thì quay về tháp xưa“ (Ngoảnh Lại Mười Lăm Năm)
Xét riêng về mặt nghệ thuật: Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư, là
bài thơ tự sự hay. Thay cho lời lên gân, sáo rỗng của những bài thơ
về thế sự, xã hội thường gặp, ta có thể thấy lời thơ của Đinh Thị
Thu Vân nhẹ nhàng, cùng những hình ảnh so sánh dân dã, mộc mạc.
Tưởng như một lời thủ thỉ, tâm tình vo tròn trong cái bé nhỏ ấy,
nhưng (với thủ pháp, lời thơ tự sự), nó thấm dần cái tư tưởng của
tác giả vào người đọc, một cách tự nhiên vậy:
“…Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư
Em giờ vẫn như thuở nào, sợ tay mình lấm đất
Sẽ không biết tự khuyên mình những lời nghiêm khắc nhất
Không một lần dám sống hy sinh
Và giữa dòng người cuộc sống gấp bon chen
Em đâu biết tin ai một điều gì tuyệt đối
Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa tim kia đành giữ lại… để nghi ngờ
----
Sẽ… rất nhiều, anh hiểu phải không anh
Ngày tháng trước em là con ốc nhỏ
Con ốc đa nghi cuộn mình trong lớp vỏ
Sống vô tình mà ngỡ sống thông minh…”
Nếu “Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư” là lời tự thú, để rũ bỏ quá khứ, gột rửa tâm hồn, thì đến với Saigon Đau lại là sự tìm về dĩ vãng, trong cái tiếc nuối và nỗi đau mất mát của Đinh Thị Thu Vân. Có thể nói, Saigon Đau là bài thơ tiêu biểu, và rõ nét nhất cái mâu thuẫn tư tưởng trên những trang viết của Đinh Thị Thu Vân. Và nó cũng là một trong những bài thơ viết về thế sự xã hội hay nhất, mà tôi được đọc. Thật vậy, nỗi đau và sự luyến tiếc đó, dường như không phải của riêng nhà thơ, mà nó đưa đến, và nhận được sự đồng cảm của rất nhiều người. Vẫn những lời thơ tự sự, Saigon Đau như một mũi khoan xoáy vào lòng người đọc. Nhất là những kẻ buộc phải rời xa quê. Ta hãy đọc lại những trích đoạn có lời thơ dân dã, song rất đẹp dưới đây để thấy rõ, (và so sánh) cái mâu thuẫn tư tưởng, cũng như cái tôi, và chất trữ tình trong thơ thế sự xã hội của Đinh Thị Thu Vân:
“em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ...
Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa...
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn!
không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?...”
Có một điều đặc biệt, khi đi sâu vào đọc Đinh Thị Thu Vân cho ta
thấy: Nếu thơ tình của chị mang tính nhất quán, thì mảng thơ thế sự
có sự mâu thuẫn thật rõ rệt. Tuy nhiên, với tôi, khi nhận định hay
đánh giá chân dung nữ thi sĩ này, thì cái cốt lõi nhất tạo dựng nên
chân dung nhà thơ tài năng Đinh Thị Thu Vân là những trang thơ tình yêu
của chị. Có được cái giá trị chân thực, tính đặc trưng, lời thơ
đẹp, lãng mạn ru hồn người như vậy trong thơ Đinh Thị Thu Vân, ta có
thể thấy, ngoài biện pháp tu từ, chất tự sự, với cái tôi trữ tình,
thì phải nói đến sự can đảm, dám đi đến tận cùng yêu, tận cùng nỗi
đau, và dám hy sinh, tôn thờ nó của chị.
Khi viết bài này, quả thực tôi không có tài liệu, hay một tập
thơ nào của Đinh Thị Thu Vân, ngoài mấy chục bài thơ trên thivien.net, và đọc rải rác đâu đó, hay trên
Facebook của chị. Do vậy, chắc chắn bài viết này chỉ nói được một
phần nào đó về chân dung người thi sĩ tài hoa này, và cũng không thể
tránh khỏi những sai sót.

.jpg)
