TRANG SINH HOẠT CỦA BÀ CON QUẢNG TRỊ BẮC CALIFORNIA & THÂN HỮU YÊU MẾN QUẢNG TRỊ
▼
Thursday, April 27, 2023
Sài Gòn Giải Phóng Tôi - Nguyễn Quang Lập
Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày
sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là
cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc
đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc
tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một
mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó
cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay
vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”. Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi.
Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê
vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con
ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá
mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông
bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên
cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt
đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc
trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.
Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy
Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng
Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi
xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên
tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp,
không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc
mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế
kia.
Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào
bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước
sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt,
đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt
nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn
cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm
ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.
Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó
để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi
cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần
đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng
chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo,
người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy
ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và
thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi
thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình
nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn
chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi
nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó
mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước
giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan
bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!
Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài
Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba
tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn
để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra
Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.
Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông
bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà
giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh
cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ
không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu
tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn. Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng
đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng
tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại
sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi
chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ
cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ
tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn
coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự
thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy
một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm
chí là phi lí.
Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó
bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà
chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê
tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có.
Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái
nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây
bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến
tôi sửng sốt.
Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả.
Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù
thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh
cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng
sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không
hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng
sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn
đã làm tôi sửng sốt.
Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết,
cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không
dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê
đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính.
Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và
phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy
tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô
là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương
nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt. Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy
sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ
rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm
đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua
cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông
sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm
Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều
sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của
Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người
ta cũng cho in sách Mác - Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên
trong này học cả Mác - Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.
Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật
khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì
trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không
cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác
đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng
lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng. Nguyễn Quang Lập