Tháng Tư Về... Nỗi Nhớ Cũng Về Theo – Quang Tuyết
Nỗi đau từ biến cố năm nào mãi mãi hằn sâu trong lòng người dân miền nam,
nhất là những người sống trong vùng hỏa tuyến cho đến tận bây giờ
Từ một cô học trò thơ ngây trong sáng, chỉ biết nhìn cuộc đời bằng đôi mắt màu xanh tin yêu, chỉ biết vui cuời cùng trường lớp thầy bạn, bỗng một sớm thành con chim gãy cánh giữa đường bay vì chiến tranh tàn khốc vô tình, để những điều khắc nghiệt thực tế đè nặng tuơng lai mà tuổi thơ chưa từng hình dung ra được.
Chiến tranh xé nát trường cũ sụp đổ nhà xưa, xé toạt luôn cuộc sống vốn
đang êm đềm rồi khắc sâu vào tâm hồn non trẻ vết thuơng hoài rỉ máu cho đến hơn
nửa đời nguời. Ôi những vết đau vô tình của thực trạng đất nuớc kể từ ngày
tháng đó, thấm sâu vào mỗi thân phận con nguời dai dẳng khổ tận cam lai đến
ngày nay.
Gia đình tôi không theo đoàn di dân vào nam mà hồi cư về quê vì ba tôi
nặng lòng với cố hương. Về Quảng Trị, về lại xóm ga cả nhà im lặng quỳ trên
đống đổ nát tàn hoang mà khóc cạn nước mắt. Rồi cũng phải bắt đầu lại tất cả
bỡi phải tồn sinh. Dồn sức trẻ, kinh nghiệm nguời già, nhặt nhạnh những gì đã
đỗ nát, gom vào một góc như lưu lại chứng tích cho ngày sau. Khoảnh đất nền nhà
cũ đuợc dọn sạch phả bằng xây dựng nhà, tạo cuộc sống mới cùng thiết tha mong
ước rằng từ đây sống trong hòa bình an cư lạc nghiệp. Nhưng sự đời nào như mình
mong muốn, gia đình tôi lại phải bỏ vườn cuốn gói theo chuơng trình di dân thị
xã ra Đông Hà. Khu vườn mà gđ đã đổ bao công sức, tưới đẫm mồ hôi khai phá
thuần thục, đã đánh cuợc cả tính mạng, phó mặc cho sự may rủi vì còn vuơng vãi
thần chết ẩn núp trong lòng đất, là hậu quả do chiến tranh để lại. Gia đình tôi
hân hạnh đuợc liệt kê vào danh sách tư sản mại bản, được quan tâm truy xét hằng
ngày, đuợc gọi tên nhắc nhở hằng đêm trong những buổi mít tinh thôn xóm. Không
thể chịu đựng cái án đè nặng trên đầu, nên nuốt nước mắt bán khu vườn to lấy số
tiền nhỏ kéo nhau ra đồi trọc Đông Hà
Lạ phải tiếp tục gầy dựng cái nghĩa an cư, trên ngọn đồi sỏi đá của căn
cứ Mỹ năm xưa. Khó khăn, gian khổ ra sao, để sỏi đá thành cơm, để thị trấn nhỏ
bé mịt mù bụi đỏ trở thành Đông Hà xinh đẹp phồn thịnh ngày nay. Thành phố Đông
Hà trung tâm hành chánh Quảng Trị, ngã ba kinh tế thương mại từ Nam ra, Bắc vô
và từ Lào qua.
Có lẽ không cần phải nói nhiều, khi đã từng trần thân giữa cái nắng ngộp
thở, cùng những cơn gió Lào rát da bỏng thịt. Hay cắn răng tím mặt vì cái lạnh
buốt xương của mùa đông gió bấc. Gọi là an trú trong cái tổ không hoàn toàn ấm
áp, chỉ đủ che mưa ngăn gió bằng mái tole, vách kẽm, thiếu áo thiếu mền thiếu
cả than củi. Nhưng người Quảng Trị vốn sinh ra và lớn lên trong sự khắc nghiệt
của thiên nhiên, nên hoàn cảnh thế nào cũng lặng lẽ qua đi, đói rét lắm cũng có
ngày no đủ.
Riêng tôi, vết hằn mãi sâu bỡi trời trót ban cho tâm hồn nhạy cảm dại khờ
của thiếu nữ, trong thân thể trưởng thành phụ nữ, nên mãi hoài đau đáu nhớ
thương về thời xa xưa, về vùng ký ức ấm áp bỡi tất cả hạnh phúc bình yên của
mình thật sự ở nơi thiêng liêng đó.
Bao lần trở về xóm ga đi vòng quanh nhìn lại cảnh xưa, mong gặp được dù
chỉ một người quen cũ. Nhưng hỡi ôi mỏi gối chồn chân chỉ thấy lòng mình thất
vọng tiếc thuơng. Khu vườn nhà xưa đẹp đẻ biết bao, bị cắt chia thành từng
mảnh, bán lại cho nhiều gia đình sinh sống. Muốn tìm đường vào nhìn ngắm cái giếng
của tuổi thơ mình, thăm cây khế vào mùa xum xuê trái, muốn tìm lại dấu tích
vườn cũ với nhiều loại cây ăn quả nhưng chỉ thấy mỗi tấm bảng NHÀ NGHỈ xập xệ,
phai màu trên bờ tường hoen ố.... Cửa rào bịt kín hầu như không có lối vào. Lân
la hỏi thăm chẳng còn mấy người quen. Xóm ga của tôi giờ đây lạ lùng quá Mụ
Phàn, ông Đức hay bà Thiệu ... ông Hảo, Thiềng giờ là nguời muôn năm cũ. Người
quy thiên kẻ bỏ xứ. Nghe loáng thoáng còn sót lại o Lụt, o Lội... nhưng biết
tìm ở mô chừ.
Lang thang đường lên ga, hình dung chổ bồn hoa xưa và những chiếc ghế
dành cho khách ngồi chờ tàu, nghe như không gian vẫn thoang thoảng hương thơm
bông sứ, hay từ trong ký ức chợt thức giấc xót xa....
Tôi đang là người khách lạ bước những buớc chân cô độc trên quê hương cũ.
Nơi đây ngày xưa từng mỗi chiều có con bé đen nhẻm, tóc khét nắng vàng
nhẩn nha đứng chờ ba về. Khi nghe tiếng còi tàu hú từ xa, cô bé chăm chăm nhìn
về hướng cầu lòong đợi chờ tàu đến. Người cha thân yêu luôn đứng trên bậc cửa,
tàu chưa dừng hẳn nguời đã nhảy xuống nhẹ nhàng, tay luôn cầm chiếc khăn
mouchoir cột bốn góc chứa đầy đậu phụng nấu. Quà ba cho con gái đấy. Hình ảnh
của ông trong lòng cô bé là một người tài giỏi, vĩ đại. Cô ước ao thật ngây ngô
sau nầy lớn lên mình sẽ nhẩy tàu giỏi như ba....
Nơi đây ngày xưa là sân cỏ đá banh, mỗi chiều học xong và khi chuyến tàu
cuối ngày nhả khói rời ga, trai gái trong xóm rủ nhau chia phe xúm dành trái
banh làm từ những tờ giấy báo cũ vò nát cột đầy giây thun ( sượi địu ). Phía
bên kia gần khu gia binh là lô cốt từ thời pháp thuộc, có con đường nhỏ băng
qua xóm ông Tráng lên đồi 4/1, mỗi chiều hè mình thường thơ thẩn, tung tăng
giữa bạt ngàn hoa mua, hoa sim tím ngắm hoàng hôn rơi phía An Đôn, bên kia bờ
sông Thạch Hản, nghe vọng tiếng chuông nhà thờ Như Lệ rung vang, nhìn hàng tre
lã lướt theo gió ven bờ. Có tiếng sáo diều không biết ai thả, vi vu trên bầu
trời nghiêng nắng, cảm giác sao bình yên hiền hòa đến lạ, thấm tận đến vô cùng.
Ôi khung trời cũ đẹp như giấc mơ đến vậy thì làm sao quên được, dù thời
gian là những tháng năm dài với bao thay đổi. Chân dẫu có mòn gót, tóc dẫu
sương phai lòng vẫn nguyên trinh. Những người trăm năm cũ như ba mạ tôi... cũng
đã bình yên trong giấc ngủ thiên thu. Còn tôi trở về xóm ga, đi theo đường ray
hướng về cầu ga... Để tuởng như ngày mình thơ bé, để lòng buồn man mác nhớ năm
tháng qua, nhớ da diết người xưa thân yêu đã không còn. Rồi chợt bàng hoàng
nhận ra dù đã gần hết đời người lòng vẫn chưa phẳng lặng. Mặt hồ tâm tư vẫn gợn
lên những vòng sóng nhớ nhung
Nơi ấy của một thời... một thuở. Nơi ấy là thiên đành hạnh phúc. Giờ đây truớc cảnh cũ, tâm hồn người xưa luống những đoạn trường....
Quang Tuyết
.jpg)