▼

Monday, May 29, 2023

Trôi về miền quá khứ, lớp Đệ Ngũ Nguyễn Hoàng - Đào Dân 




Mấy năm nay, nhất là từ khi bước qua khỏi tuổi 75, tôi có một thứ cảm giác hơi lạ. Có những động tác thường ngày thôi, nhưng có lúc nó khơi dậy trong tôi một kỷ niệm mơ hồ nào đó trong quá khứ. Cái cảm giác mơ hồ đó lại như đang thôi thúc tôi phải làm một cái gì đó, để thỏa mãn với chính mình, hay kể lại cho người khác biết. Nhưng rồi nó cũng qua nhanh theo dòng thời gian. Rồi quên hẳn. Nhưng có một lúc đó, nó quay trở lại. Rồi lặp đi lặp lại như một chu kỳ bất thường. Để giải tỏa cho nỗi ẩn ức của quá khứ ấy, hôm nay tôi thử bắt đầu viết lại những chuyện cũ của đời mình, cũng để xem trí óc và bút lực của mình có thể đi tới đâu, và để xem có giúp gì cho việc giải tỏa cảm giác ấy được không. Biết đâu nhờ vậy mà  trí óc có thể thanh thản để dọn đường cho hành trình đi vào cỏi hư vô?
 
Tôi sẽ bắt đầu thiên ký sự nầy bằng những chuyện về lớp Đệ Ngũ 1 ở trường trung học Nguyễn Hoàng niên khóa 1960-1961. Đó là năm tôi bắt đầu mới lớn, tuổi thiếu niên. Cũng là năm tôi bắt đầu làm quen với không khí thị thành sau hai năm lầm lủi đi bộ từ một làng quê nghèo khó của một chú nhóc nhà quê ốm o đen đủi. Cũng là năm mà lớp học đã có màu sắc phong phú hơn, có nhiều chuyện vui buồn hơn.
 
Bốn môn học chính năm đó đều do bốn thầy giáo vừa mới tốt nghiệp từ Huế ra dạy. Anh văn là thầy Lê văn Sét, toán là thầy Nguyễn văn Tuấn còn lý hóa là do thầy Lê Hữu Nam và quốc văn là thầy Lê trọng Ấn. Những chuyện xảy ra năm đó phần lớn liên quan đến thầy Ấn vì thầy Ấn vừa dậy quốc văn vừa là giáo sư cố vấn, mà tôi thì tuy năm đó văn vẫn còn dốt nhưng lại có khuynh hướng thích văn chương và một tâm hồn hơi lãng mạn nên nó đã để lại cho tôi nhiều dấu ấn sâu sắc hơn các môn học khác, đến giờ vẫn không quên.
 
Môn quốc văn ở trường trung học nào hồi đó cũng có hai phần: cổ văn và kim văn. Mới những ngày đầu vào lớp, thầy Ấn đã cho chép hai bài thơ của hai nhà thơ nổi tiếng từ thời tiền chiến là Xuân Diệu với bài Đây mùa thu tới và Huy Cận với bài Trường Giang. Rồi kêu học trò lên bình luận và có ý kiến về bài thơ. Đứng dậy phát biểu thường là những khuôn mặt quen thuộc trong lớp  như Lê văn Chính, Lý thơ Hiểu hay Phan bá Ân, vừa lớn tuổi, bạo dạn và có khiếu ăn nói, thích văn thơ. Còn phần lớn thì chỉ há mồm ra nghe. Tôi thì thích nghe những lời thầy Ấn thao thao trên bục giảng hay đi lên đi xuống dọc theo lối đi ở giữa. Người cao to, mái tóc chải bồng bềnh, khuôn mặt điển trai, dáng đi oai vệ với cái đầu ngúc ngắc qua lại làm thành một cái dáng rất riêng của thầy mà tôi chưa thấy ai có trong đời học trò của mình.
 
Khoảng giữa năm thì thầy lại cho học một bài thơ khác của một nhà thơ, không phải là tiền chiến nhưng cũng đang ở miền bắc. Bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Thầy lại không cho ai lên chép bài thơ trên bảng mà lại bắt học sinh về tìm tòi, chép vô vở để học thuộc lòng. Có một gợi ý của thầy là tìm trên báo Phổ Thông của Nguyễn Vỹ. Nhờ Phan văn Lộc có người anh đang làm công chức ở tòa  hành chánh Tỉnh, chắc có đặt mua báo này định kỳ, tôi mới có bài thơ để học. Năm sau, học đệ tứ, ba bài thơ học từ thầy Ấn đã là những bài thơ đầu tiên mà tôi đã sao chép vào  cuốn sổ bìa cứng để làm tập thơ gối đầu giường, lâu lâu đem ra đọc cho vui.
 
Bài văn cuối cùng của môn Kim văn mà tôi  còn ghi lại trong bộ nhớ của mình là bài Phấn thông vàng của Xuân Diệu, trong đó tác giả Xuân Diệu đã trích hai câu thơ bất hủ của một nhà thơ thời Sơ Đường là Vương Bột,  bài phú Đằng vương các tự:
 
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc.
 
Hai câu thơ bằng chữ Hán mà ý nghĩa của nó nghe lờ mờ nhưng đọc đi đọc lại vẫn thấy hồn mình dâng lên một nỗi buồn man mác, đến nỗi nó khắc sâu vào một tâm hồn còn thơ dại cho đến cuối đời.
Đó là về kim văn
 
Cổ văn năm đệ ngũ thời chúng tôi học là quyển truyện thơ Chinh phụ ngâm khúc của Đặng trần Côn với bản dịch của bà Đoàn thị Điểm. Ngoài phần học về thân thế và sự nghiệp của tác giả và dịch giả, những bài bình giảng của thầy thường là những trích đoạn  của phần đầu cuốn truyện  mà những câu thơ trữ tình về cuộc chia ly đau đớn, về những nhớ nhung, những hy vọng rồi thất vọng của người vợ có chồng đi chinh chiến miền xa, đã để lại trong tôi nhiều thương cảm, nhất là đoạn thơ đầy điệp ngữ, nghe như tiếng vọng của niềm đau từ đáy vực vọng về:
 
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
 Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
 
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?...
 
Cũng chính những dòng thơ mang đầy nét cổ thi này đã gây trong tôi nỗi xúc cảm to lớn khi tình cờ nghe được bản nhạc "Chiều mưa biên giới" của Nguyễn Văn Đông vào một buổi chiều nghỉ học, tôi dắt trâu về chuồng qua ngõ nhà bác Trình. Hồi đó tôi không biết  gì về ân nhạc nhưng những câu chữ trong bản nhạc đã gây cho tôi mối đồng cảm về nỗi đau của người lính chiến nơi sa trường, cũng như hình ảnh của chàng chinh phu đi vào nơi gió cát:
 
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
người về bơ vơ
.....
Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi
 
Ngoài tiếng nhạc du dương quyến rũ thì có lẽ sự đam mê quyển truyện thơ Chinh phụ ngâm đã ngấm vào hồn sau khi tôi chép lại nguyên cả cuốn cho dì Nghè thì khi nghe lời bài hát với những chữ quen thuộc như giang đầu, trăng còn khuyết, khu chiến, hay khanh tướng, sa trường... đã bắt tôi phải nấn ná ở lại lâu hơn trong chuồng trâu để nghe cho hết bản nhạc vang vang từ nhà bác.
 
Sau khi vô nhà, ăn xong bữa trưa, tôi lót tót vượt qua hàng cây ngăn cách giữa hai nhà để qua nhà Bác, xem cho được cái vật thể quái lạ đã phát ra bản nhạc gây cho tôi một niềm thích thú mới lạ mà dù đã đi học trung học ngoài Tỉnh, tôi vẫn chưa hình dung ra nó là cái gì. Bản nhạc xen kẽ giữa những bài vọng cổ được phát ra từ chiếc máy hát quay vòng với cái kim chạy trên băng từ do bác Trình gái mượn về từ nhà người em ruột là dì Hằng mà chồng là dượng Trữ, một Thượng sĩ đang ngày ngày đạp xe đi làm việc ngoài Tỉnh mà tôi thường gặp khi đi bộ đến trường.
 
Mấy tháng học thơ Chinh phụ ngâm trong lớp cũng đã để lại trong tôi một kỷ niệm, không biết là vui hay buồn, nhưng mỗi lần nhớ lại quá khứ của thời học sinh, câu chuyện ghi lại trong tâm trí tôi một dấu ấn sâu sắc.
 
Trong số gần 20 nữ sinh của lớp đệ ngũ  năm đó, hầu hết lớn tuổi, chững chạc, mà tôi nếu bất đắc dĩ phải nói chuyện thì thường gọi họ bằng chị, vẫn có hai cô học trò nho nhỏ, cở tuổi tôi hay thậm chí còn nhỏ hơn nữa, có tên viết tắt đều là chữ  N. Hai cô này là hai thái cực. Cô  da trắng thì nhí nhảnh, lém lỉnh hay nói và cười đùa với mọi học sinh khác trong lớp, bất kể nam hay nữ. Còn một cô thì nước da hơi đen, tóc dài xỏa ngang lưng, ít nói, trầm lặng, đi về như một chiếc bóng. Thực ra với tôi thì con gái đã là một thế giới khác, xa lạ, bí mật, và rất...đáng sợ nữa nên họ chẵng ảnh hưởng gì đến tôi nếu như không có một nhân vật nam ngang tàng, phá phách, ồn ào đang hàng ngày ngồi cùng bàn với tôi, đã kéo tôi dính vào một scandal không mong muốn. Đó là Mai đức Đ
 
Dù hay nói cười chọc ghẹo người khác nhưng Đ với tôi cũng khá thân qua đường dây cho nhau mượn truyện. Nếu ai có truyện thì sau khi đọc xong là đưa cho bạn truyện của mình. Dù một biến cố lớn đã xảy ra giữa chúng tôi làm cho tôi giận hắn không ít, nhưng đường dây mượn truyện này chỉ bị đứt quảng một thời gian ngắn rồi vì mê truyện mà tình bạn-truyện giữa hai đứa vẫn tiếp tục cho đến khi chúng tôi lên đệ tam thì mới bị chia cắt vì hai đứa học hai ban khác nhau: Hắn ban A và tôi ban B, cho đến khi nghe tin Đ đã hy sinh ngoài chiến trường không lâu sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức.
 
Trong số những bài trích giảng của thầy Ấn có một bài nói về nỗi nhớ nhung của người chinh phụ nghe đau đớn đến đứt ruột với những câu như:
 
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
 
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Mưa dường cưa xẻ héo cành ngô
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
 
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
 
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau.
 
Không biết từ đâu mà một buổi sáng vô lớp, Mai Đức Đ bỗng phát lên ông ổng khi tôi và cô N đen đã có mặt trong lớp:
 
Dân bảo N, N in một tấm,
N lồng Dân, Dân đắm từng cơn.
N Dân, Dân N trùng trùng,
Trên Dân dưới N trong lòng sướng thay!
 
Không phải Đ chỉ ngâm bốn câu thơ một lần mà mỗi khi lớp học vô  ngồi gần đủ, có cả hai đứa tôi và N, và trước khi thầy giáo vô lớp là tiếng ông ổng của Đ. lại vang lên làm cả lớp cười ầm ỹ. Tôi thì dù đã xấu hổ đến chín người nhưng cũng phải im lặng vì  không biết nói gì và làm thế nào để ngăn cản Đ Hắn tuy không cao nhưng vừa to, khỏe. Cánh tay hắn khi gồng lên nổi vồng, cứng như một thanh sắt nguội. Nên tôi đành cúi đầu chịu trận để cho Đ cứ thế làm tới hoài. N thì chắc cũng như tôi, nhút nhát và cũng ít lời nên cũng âm thầm chịu trận. Không biết N nghĩ thế nào về trò chọc phá của Đ. , chỉ thấy cô im lìm càng im lìm hơn, khuôn mặt lạnh lùng càng thấy lạnh lùng hơn. Tuy nhiên, trò đùa dù hay ho đến mấy mà lâu ngày cũng thành nhàm, chẵng ai để ý nữa. Rồi cũng đi vào quên lãng.
 
Ngoài dạy môn Quốc văn, thầy Ấn còn là giáo sư cố vấn của lớp. Gần cuối năm học, thầy tổ chức cho lớp đi chơi ở biển Mỹ Thủy rồi sau đó đi cắm trại ở rừng An Đôn. Đi chơi biển chỉ là một cuộc du ngoạn trong ngày nên thầy cho tự do, ai muốn đi thì đi, nhất là vì học sinh phải tự túc phương tiện nên chỉ ai có xe đạp hay có người chở mới đi chơi được. Tôi thì hàng ngày vẫn cuốc bộ đến trường nên tôi vắng mặt và vì vậy đã không biết gì về cuộc đi du ngoạn ở bãi biển Mỹ Thủy này cả. Đi cắm trại thì phải ở lại hai đêm và cả lớp phải cùng nhau theo thầy đi bộ qua cầu ga Thạch Hản. Nhờ vậy tôi vẫn còn nhớ một vài mẩu chuyện nhỏ để kể lại.
 
Trong lớp, ngoài bạn Phan Hoành vẫn được bầu là lớp trưởng  từ năm đệ thất, năm đệ ngũ này thầy Ấn còn chia lớp ra nhiều tổ. Tôi không nhớ có mấy tổ, nhưng tổ của tôi gồm phần lớn là những đứa nhỏ, ngồi học ở mấy bàn đầu của dãy phía trong ( phía bên ngoài kia là mấy chị nữ sinh) và tổ trưởng là bạn Nguyễn văn Du, một người có vẽ lớn tuổi, chững chạc nhưng dáng dấp hơi lề mề. Trong một buổi họp lớp trước khi đi cắm trại, thầy Ấn đã thay đổi một vài người trong tổ, cất chức tổ trưởng Nguyễn văn Du và thay bằng một thằng nhóc còn nhỏ hơn tôi là Nguyễn văn Hùng. Tôi còn nhớ năm đầu vô đệ thất 1 Nguyễn Hoàng, tôi ngồi cùng bàn với Hùng. Lúc đầu tôi coi thường Hùng vì hắn quá trẻ, nhỏ hơn tôi đến hai tuổi, học hành cũng bình bình không có gì xuất sắc. Vậy mà suốt  năm đệ thất đó, vì ngồi bên cạnh nên tôi thường bị hắn chọc ghẹo hoài nhưng gần như chỉ bằng một trò duy nhất: Hắn quay qua tôi, gọi tên cho tôi chú ý, đưa tay lên cao như thử muốn đánh vào mặt tôi làm cho tôi giật mình.  Thế là hắn cười khoái trá và khi tôi né tránh thì hắn đưa tay đang dơ cao xuống vuốt mớ tóc lơ thơ vài sợi, đang xỏa trên vầng trán cao trông có vẽ thông minh của hắn.  Những lần đầu thì tôi nổi giận, chưởi hắn ( dường như vũ khí duy nhất của tôi là chưởi)  nhưng những lần sau đã quen nên tôi cứ lờ đi.
 
Vậy mà tự nhiên, thầy Ấn lại đưa hắn lên làm tổ trưởng một tổ có nhiều bạn lớn tuổi và chững chạc hơn. Nhưng sau buổi cắm trại về, thấy hắn làm việc đâu ra đó, mọi chuyện đều ổn và khi về họp ở lớp, thầy còn chấm điểm cho Hùng là tổ trưởng xuất sắc nhất, điểm 20.
 
Khi họp tổ để phân chia công việc cho từng người, ngoài việc đem theo áo quần, gạo cơm và tiền bạc, tôi tình nguyện mang theo một tấm bạt dùng làm lều cắm trại. Đây là tấm bạt của nhà dượng Tiền, ở cách nhà tôi mấy nhà, cùng tổ liên gia, thường gặp nhau hàng năm nấu ăn chung một bữa cơm đoàn kết để chào mừng ngày quốc khánh 26-10. Hồi đó dượng là một trung sĩ nhất quân cảnh đang làm việc ở ngoài Tỉnh, hàng ngày đạp chiếc xe cuốc cao lêu nghêu đi làm. Dượng người đã cao, mũi cao như Tây, mặt lại lạnh lùng dưới cái mũ Cap đen của quân cảnh nên trông oai vệ và dữ dằn nữa. Tụi nhỏ như tôi, dù học hành cũng khá ở trường Nguyễn Hoàng nổi tiếng nhất tỉnh  thời ấy, nhưng gặp dượng thì tôi cũng không dám nhìn, chỉ cúi đầu rồi  len lén nhìn trộm. Tấm bạt này đã cũng được tôi mượn một lần vào năm ngoái, năm học đệ lục, khi trường Nguyễn Hoàng tổ chức cắm trại cho toàn trường bên bờ sông Thạch Hãn cũng trên địa phận làng An Đôn. Lẽ dĩ nhiên tôi chỉ qua nhà khi dượng đã đi làm, chỉ có O Xanh ở nhà với mấy đứa con.  Tấm bạt màu vàng kaki của quân đội Pháp dày cộm được xếp bỏ vào chiếc ba lô cũng mượn của O, cọng với áo quần, gạo, chén bát đũa, và những đồ linh tinh khác mà tôi phải mang theo trên vai, đi bộ hơn ba cây số tới trường và từ trường đi bộ khoảng hơn ba cây số nữa qua khỏi làng An Đôn đến một vùng sơn địa vắng vẻ.
 
Chúng tôi cắm trại trên một miếng đất trống trải, nằm giữa một khu rừng cây thấp gồm những cây sim, cây tràm, cây móc... cao lúp xúp không quá đầu người. Sau khi đến nơi và được phân địa điểm cắm trại, mọi người trong tổ đều xông vào tìm việc làm. Phần lớn lo việc dựng trại như đóng cọc, tháo dây, thắt nút... Các bạn gái thì lo tập trung gạo và chuẩn bị nồi niêu song chảo để nấu bửa ăn trưa. Cũng có vài người không rành việc thì tới kế bên mấy người đang làm để phụ giúp, như giữ cho cây cột, cầm tấm bạt, sắp chén bát... Trông toàn cảnh rất nhộn nhịp, không có ai rảnh rỗi. Dường như chỉ còn lại mình tôi không biết làm gì, mà cũng không nghe tổ trưởng sai phái, đứng lơ ngơ lạc lõng như gà con mất mẹ. Nhưng việc dựng chỉ một cái trại tạm bợ thì cũng diễn ra khá nhanh, nên tôi và vài người chui vô lều sửa soạn chổ nằm như trải chiếu, dọn cỏ rác sạch sẽ. May mắn là tôi được nằm cạnh anh bạn Phạm ngọc Điểu, người có mang theo bộ truyện gồm hai cuốn là Hán Sở Tranh Hùng dày cộm do dịch giả Mộng Bình Sơn dịch. Vừa thấy hai quyển truyện Tàu, mắt tôi đã rực sáng như tìm thấy báu vật. Không một chút ngại ngần, tôi hỏi bạn mượn tạm để đọc trong khi anh đang lui cui với công việc của mình.
 
Thế là hơn hai ngày và một đêm, tôi say sưa theo dõi từng bước chân của những nhân vật lịch sữ của nhà tiền Hán bên Tàu, nào Lưu Bang, Hạng Võ, nào Trương Lương, Hàn Tín, nào Phạm Tăng, Phàn Khoái...Ngoài những giờ ăn, giờ ngủ, và giờ rửa chén do tôi tình nguyện rửa sau khi ăn xong... đầu óc quay cuồng đến nỗi tôi không biết trong hai ngày đầu cả lớp đã làm gì, sinh hoạt như thế nào... Tôi chui vào góc lều nằm một mình yên tỉnh đến nỗi nghe cả tiếng quân reo, ngựa hí  từ thời xa xưa hình như đang vọng lại.
Luyện xong bộ truyện Tàu dày cộm sau buổi trưa của ngày cuối, tôi như thoát khỏi cơn mê của những mưu kế và những cuộc tranh hùng giữa hai phe Hán Sở rồi cuộc thanh trừng của Lưu Bang, Lã Hậu đối với Hàn Tín và các tướng lảnh khác để trở về với thực tại và lúc đó thì mới gia nhập vào sinh hoạt của lớp.
 
Trời chiều, nắng nhẹ, gió núi hiu hiu, thầy cho tổ chức cuộc thi giữa các tổ để tìm thư liên lạc. Trước đó mỗi học sinh được cho học ký hiệu Morse  để theo hướng dẫn của tấm bản đồ và những ký hiệu hướng dẫn để tìm nơi đang có một bức thư quan trọng được dấu ở một chổ bí mật. Mỗi tổ được phân công đi mỗi hướng, tổ nào tìm ra bức thư là tổ ấy thắng cuộc. Tôi lúc đó ngơ ngác đi theo tổ mình như một con vịt đi theo bầy, nhìn họ tìm tòi, giải thích, bàn bạc nhưng vẫn cứ ù ù cạc cạc đi theo với lòng khâm phục. Nhất là đối với bạn Nguyễn văn Kinh, dù không phải là tổ trưởng nhưng là người thực sự hướng dẫn cuộc đi tìm lá thư mật của tổ. Tôi không nhớ kết quả thế nào, tổ nào chiếm giải nhất nhưng cuộc chơi cũng kết thúc khi buổi chiều đang còn chút nắng để mọi người có thể về tổ chuẩn bị cho buổi tổ chức lửa trại cuối cùng tối nay rồi sáng mai lại ba lô lên đường trở về trường.
 
Cuộc đốt lửa trại đêm đó cũng vui. Xung quanh một đống củi được đốt cháy  phừng phực, những cậu học sinh của lứa tuổi niên thiếu cùng với thầy nắm tay nhau đi vòng quanh, hát ca vang những bài ca lửa trại: 
 
...Bập bùng bập bùng trong đêm thâu
A ... ngồi trong ánh hương đêm
Ta... cùng cất cao lời nguyền
Thề đồng tâm ta quyết thề sông núi
Đem tâm can xây đắp ngày tươi mới...
 
Trước khi nhảy lửa trại thì cũng có một vài tiết mục văn nghệ được biểu diễn mà tôi không nhớ gì, trái lại tiết mục biểu diễn xiếc của Đoàn Văn Lúa của tổ tôi là tôi còn nhớ như in. Cũng đơn giản thôi, nhưng hồi đó mọi người đều khâm phục hắn lắm. Đó là hắn cầm một cái que gổ bằng ngón tay út, cứng,  dài khoảng 5, 6 tấc và một cái dĩa sành dùng để đựng thức ăn, lật ngữa nó ra, quăng dĩa lên cao rồi khéo léo đút cái que vô đáy. Và hắn điều khiển cái dĩa thế nào mà lại quay vòng vòng theo cái que được dựng đứng phía dưới một cách nhuần nhuyễn. Tiết mục cũng chỉ diễn ra năm ba phút, nhưng sau khi chấm dứt, mọi người vổ tay rào rào.
***
Đáng lẽ tôi chấm dứt chuyện của năm học đệ ngũ của tôi nơi đây, nhưng tôi muốn nói thêm về việc học của lớp về hai môn Toán và Anh Văn do hai thầy Tuấn và thầy Sét dạy. Đó là dạy được mấy tháng, cả hai thầy đều tổ chức lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm cở 5 hay 7 học sinh với nhóm trưởng, cuối tuần đến nhà của ai đó rồi học chung với nhau, như giải bài tập của thầy cho đem về nhà, học thêm về bài mới. Nếu ai không hiểu thì giúp nhau học để cùng tiến bộ. Và cả hai môn  tôi đều được hai thầy chỉ định làm nhóm trưởng!
Tôi không nhớ tên tất cả các bạn cùng nhóm, nhưng không biết tại sao, dù cả hai thầy không hẹn nhau, nhóm tôi lại cùng lúc có hai người, một là chị Nguyễn thị Trợ và một là bạn Lê văn Bình. Và cả hai nhóm đều tập trung học tại nhà Bình, tuy thuộc làng Thạch Hãn nhưng chỉ sau lưng đường Trần Hưng Đạo mà bên kia là trường Nữ tiểu học Quảng trị.
 
Vậy là mỗi tuần, vào sáng chủ nhật, tôi lại lọc cọc cuốc bộ ra nhà Lê văn Bình để học nhóm. Cũng thấy vui vui và tôi thì tập làm quen và sinh hoạt chung với các bạn khác mà thường ngày tôi chỉ lủi thủi cô độc sống một mình với các cuốn truyện, từ truyện tàu cho đến truyện kiếm hiệp xuất bản từng kỳ gồm các chương rồi đóng thành tập như Côn luân lão hiệp, Hồng Y Nương, Cô gái áo vàng... Còn nói về kết quả học tập thì tôi thấy không có tiến bộ mấy tí.
 
Rồi một năm cũng đi qua, mấy tháng hè vui chơi giữa ruộng đồng với con trâu nghé chỉ hơn một năm tuổi mà nhà tôi vừa có được nhờ công nuôi rẽ con trâu nái của nhà bác Thiệt. Còn tôi thì chờ đợi được vô lớp Đệ Tứ đầy thử thách với cái bằng Trung học đệ nhất cấp đang chờ tôi phải vượt qua...
 
Đào Dân
(Viết xong ngày 3 tháng tư năm 2023)