Văn Hóa Đốt Sách - Trần Vũ
![]() |
| Trần Vũ |
Học giả Nguyễn Hiến Lê sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 và mất
ngày 22 tháng 12 năm 1984.
Trước 75 trong Nam không học sinh nào không đọc sách Nguyễn Hiến Lê. Ưu điểm của cụ Lê là cụ giản lược những đề tài rộng lớn, phác thảo những đại cương trong khuôn khổ một cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, nhờ vào lối văn giản dị không cầu kỳ như bản thân đời sống của cụ.
Sách Nguyễn Hiến Lê hầu hết viết cho ban Tú tài nhưng không phải vì vậy đã không có những công trình lớn: Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Kinh Dịch, Bách Gia Tranh Minh… là những tập sách dày công nghiên cứu, đã đem đến vô vàn kiến thức cho thanh niên miền Nam buổi ấy. Chính vì sau hai thập niên Việt hóa học đường, không còn một học sinh nào, từ Nam ra Bắc đọc thông một quyển sách chữ Hán cũng như chữ Pháp. Thế hệ Nguyễn Hiến Lê là chiếc cầu nối tuổi trẻ Việt Nam với kho tàng thế giới. Trên 120 đầu sách, Nguyễn Hiến Lê cống hiến sở học của mình.Sau 75 cụ Lê còn là nhân chứng của công cuộc giải phóng thô
bạo trên nửa phần đất nước. Vào ngày giỗ muộn màng thứ 39, hãy cùng đọc lại ghi
chép của Nguyễn Hiến Lê về nạn đốt sách của phía chiến thắng. Là những trang
chữ bị kiểm duyệt.
Trần Vũ
Hồi Ký Của Nguyễn Hiến Lê
(trích...)
Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy
tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm
của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt.
Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.
Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính
quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy
sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong
Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như
vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của
cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh
phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.
Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt
các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để
kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả
phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được
phép lưu hành.
Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách
tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở
Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản
động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết
ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên
phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách
Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào
hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…
Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi
trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông
ấy kêu người lại bán với giá cao.
Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng
chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải
hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy
(hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi
nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật
lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải
tiếp 5,6 bạn lại vấn kế.
Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách
báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán
bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai”
một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.
Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa
nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới
mắt công an.
Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm
mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được
giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.
Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông
ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên
Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.
Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được
một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem
về nhà mỗi khi cần dùng tới.
Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở
Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó
ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân
sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời
bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.
Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị
kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua
hẳn. Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách
nữa, ai xin tôi cũng cho.
Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi
đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí
Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một
người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Observateur (của khối thân
Cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng
không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào
bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt,
ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ
mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi.
Cũng có người đọc lén được.
Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917
đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được
đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga
cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao,
ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi
giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho
viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị
của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức
danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ
rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong
rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm
người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa,
không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ
Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!
Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi
một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm
đóng hộp, các thuốc tây không có propriétés cho biết cách dùng, trị bệnh gì… mà
chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo
thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là
kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì
họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra
Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã
Ðại mất 2 tháng, có khi 4 tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy,
họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình
cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?
Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với
nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy
anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có
bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói
láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.
Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai
chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu
chiến … mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho
kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại 3,4 giờ để kiểm
soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy
bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi
đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi
bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với
tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì
làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu
thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”
Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50
cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy 3 trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà
tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã
dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có
thể tin lời đó được.
Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở
lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham
đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100
nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi
đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách
có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in
nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới
ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán
chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh
Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một
bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê- Nin toàn tập
giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí
lô.
Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều,
trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng
chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.
Nguyễn Hiến Lê
.png)