Nguyễn Thị Hoàng Người Yêu Muôn Thuở - Thụy Khuê
Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11-12-1939, tại Huế. Bút hiệu khác Hoàng Đông Phương. Nguyên quán: thôn Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Cha là Nguyễn Văn Hoằng, công chức cao cấp trong bộ giáo dục. Học trung học đệ nhất cấp ở trường Đồng Khánh, Huế. Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh.
Tại đây, xẩy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên (1909-2008) người dạy thêm Nguyễn Thị Hoàng về Pháp văn tại nhà, gây xôn xao dư luận. Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, người thiếu nữ đứng ra nhận trách nhiệm: không hề bị dụ dỗ, vị giáo sư được trắng án, nàng sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, do bà Nguyên nuôi vì bà không có con.
Năm 1960, Nguyễn Thị Hoàng vào Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa, rồi Luật, được ít lâu bỏ dở, làm thư ký riêng cho một tỷ phú. Năm 1961, bỏ việc, dạy Việt và Anh văn. 1962 lên Đà Lạt, dạy trường trung học Trần Hưng Đạo; tại đây xẩy ra mối tình giữa cô giáo đệ nhất cấp Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành, học sinh lớp 12, sanh con gái Mai Quỳnh Chi (mẹ của Thành nuôi). Mai Tiến Thành về sau viết cuốn Vòng tay học trò, do Thụy Vũ đề tựa và Kim Anh xuất bản; sáng tác tập thơ Bi ca và nhục cảm.
Năm 1963, Nguyễn Thị Hoàng trở về Sài Gòn. Vòng Tay Học Trò viết tại Sài Gòn trong vòng một tháng, ký bút hiệu Hoàng Đông Phương, gửi đăng trên Bách Khoa từ số 169 (15/1/1964) đến số 192 (1/5/1965). Tiếp đó, Nguyễn Thị Hoàng kết hôn với Nguyễn Phúc Bửu Sum, giáo sư triết, cả hai về sống ẩn dật ở miền Bình Định, Hoàng làm việc cho hãng nhuộm Sincovina ở thị xã An Nhơn.
Năm 1966, ký giả văn học Lê Phương Chi người giúp đỡ nhà xuất bản Kim Anh, tìm gặp tác giả để điều đình in tác phẩm Vòng tay học trò, sách đoạt thành công kỷ lục, tái bản 4 lần trong vài tháng. Nhưng Nguyễn Thị Hoàng cho biết: "Sóng gió nổi lên từ mọi phiá... Năm tờ báo, cùng nhất loạt lên tiếng phê phán, chỉ trích, tóm lại là chửi bới." (Trả lời phỏng vấn của Mai Ninh).
![]() |
| Nguyễn Thị Hoàng |
Trừ
Nhật Tiến trong bài Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua (Bách Khoa số
265-266, 15/1/1968), đã nhận định đúng giá trị của Vòng tay học
trò và của những tác phẩm văn học phái nữ xuất hiện trong hai năm
1966-1967.
Tháng 11/1967, Nguyễn Thị Hoàng cùng chồng lập nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bà cho biết: "Từ năm 1966 đến 1969, mình viết liên tục theo những "đơn đặt hàng". Trong thời gian này mình viết rất nhanh, có khi viết hai, ba truyện cùng một lúc... rồi thì lại buồn chán, mệt mỏi, kiệt sức và mất hoàn toàn tinh thần làm việc vì trong suốt những năm dài liên tục mình chỉ sống với bổn phận làm vợ, làm mẹ và gánh vác kinh tế gia đình. Cái nguồn sống riêng phải nín lại, bị khô héo đi. Sau một chuyến đi xa vào năm 1970 mình lấy lại được hứng khởi và phần không nhỏ cũng là vì năm đứa con, một đòi hỏi lớn về kinh tế gia đình nên phải tiếp tục viết... Do đó mà chưa có quyển nào coi như được viết từ tim óc của mình" (Trả lời phỏng vấn của Tố Tâm, Đất Mới, số 4, bộ 2, tháng 4/1990).
Về cách viết của bà, Hồ Trường An kể: "Dàn bài khi được coi như hoàn tất; tức thời chị Hoàng đảo ngọn bút, viết nhanh như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngòi bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi. Vậy mà chị Nguyễn Thị Hoàng vẫn có thì giờ chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa; đảm đang việc bếp núc. Anh Bửu Sum hết vụ trốn lính, tới chuyện đào ngũ, rồi bị bắt, rồi lại đào ngũ, không làm ăn gì được" (Giai Thoại Hồng, trang 278).
Tóm
lại, sau thời kỳ sống sung túc, đến giai đoạn khó khăn: Bà một mình gánh vác
kinh tế gia đình, viết văn để kiếm tiền nuôi năm con đến kiệt sức. Chuyến đi xa
năm 1970 mà bà nhắc đến trên đây có lẽ là chuyến sang Nhật. Xúc cảm trước bối cảnh
huyền bí của cố đô Kyoto, bà đã viết tuyệt tác Tan theo sương mù (in
trong tập Bóng lá hồn hoa).
Cũng trong thời gian này, bà tổ chức cho chồng trốn lính, sau đó, bị truy nã, gia đình lánh về Long Xuyên, ở một nơi hẻo lánh, lập Trại Đá Mềm... bà chỉ trở lại Sài Gòn khoảng 1975. Sau 1975 là thời gian dài im lặng. Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện lại với tác phẩm Nhật ký của im lặng do Đồng Nai in năm 1990.
![]() |
| Nguyễn Thị Hoàng |
Tác
phẩm đã in: Đã in hơn 30 tác phẩm, còn khoảng 10 cuốn chưa xuất bản.
Truyện
dài: Vòng tay học trò (Kim Anh, 1966), Tuổi Sài Gòn (Kim
Anh, 1967), Ngày qua bóng tối (Văn, 1967), Vào nơi gió
cát (Hoàng Đông Phương, 1967), Về trong sương mù (Thái Phương,
1968), Một ngày rồi thôi (Hoàng Đông Phương, 1969), Cho đến khi
chiều xuống (Gió, 1969), Đất hứa (Hoàng Đông Phương,
1969), Tiếng chuông gọi người tình trở về (Sống Mới, 1969), Vực
nước mắt (Gió, 1969), Vết sương trên ghế đá hồng (Hoàng Đông
Phương, 1970), Tiếng hát lên trời (Xuân Hương, 1970), Trời xanh
trên mái cao (Tân Văn, 1970), Bóng người thiên thu (Hoàng Đông
Phương, 1971), Bóng tối cuối cùng (Giao Điểm, 1971), Tình yêu, địa
ngục (Nguyễn Đình Vượng, 1971), Định mệnh còn gõ cửa (Đồng Nai,
1972), Bây giờ và mãi mãi (Đời Mới, 1973), Năm tháng đìu
hiu (Đới Mới, 1973), Trời xanh không còn nữa (Đời Mới,
1973), Tuần trăng mật mầu xanh (Đồng Nai, 1973), Buồn như đời
người (Đời Mới, 1974), Chút tình xin lãng quên (Trương Vĩnh Ký,
1974) Cuộc tình trong ngục thất (Nguyễn Đình Vượng, 1974), Nhật
ký của im lặng (Đồng Nai, 1990)...
Truyện
ngắn: Trên thiên đường ký ức (Hoàng Đông Phương, 1967), Mảnh trời
cuối cùng (Hoàng Đông Phương, 1968), Cho những mùa xuân
phai (Văn Uyển, 1968), Dưới vầng hoa trắng (Sống Mới, không đề
rõ năm), Bóng lá hồn hoa (Văn, 1973)...
Thơ: Sầu riêng (1960), Kiếp đam mê (1961), Thi ca và nhục cảm (1967).
Thơ
Nguyễn Thị Hoàng
Nguyễn
Thị Hoàng xuất hiện trước tiên như một nhà thơ. Khi còn ở Nha Trang, tháng
8/1959 đã gửi tới Bách Khoa một chùm 4 bài, tựa đề Bước thời gian, phỏng
theo câu thơ của Gérard de Nerval: Semons de roses/Les pas du
temps được Hoàng dịch sang tiếng Việt:
Hãy
gieo cánh hồng
Trên bước thời gian.
Bách
Khoa đăng ngay hai bài đầu: I- Nắng trưa (số 63, 15/8/1959) và II-Chiều (số
64, 1/9/1959), sau đó ngừng 8 tháng, với lời cáo lỗi "vì một lẽ
riêng" nay mới cho đăng tiếp bài III- Chiêm bao (số 80, 1/5/60)
và bài IV- Ánh sáng (số 81,15/5/60).
Trong
bốn bài thơ này, bài số III và số IV giọng tâm sự về mối tình đầu:
Bẻ
khóa đào nguyên lướt dặm trời.
Hồn xa dương thế một lần thôi
Mênh mông bốn phiá trời mây nước
Chỉ một người yêu với một người.
(Chiêm bao)
và:
Lòng
khép chặt nẻo u sầu tăm tối
Hồn
tìm sang tinh tuý của tình yêu.
(Ánh sáng)
Phải
chăng vì lẽ đó mà Bách Khoa ngại không đăng ngay, sợ làm phiền nhà văn Cung Giũ
Nguyên, đang viết cho Bách Khoa lúc bấy giờ?
Tiếp
đó, sang giai đoạn hai, thơ làm ở Sài Gòn, với bài Niềm đau chia phôi,
sáng tác tại khu Bàn Cờ, chiều 6/6/60, đăng trên BK số 83 (15/6/60), đánh dấu sự
chia tay với mối tình đầu:
"Đã
ba mùa cách trở
Nửa
năm rồi biệt ly
Áo
màu không thắm nữa
Thủa
tàn phai xuân thì..."
(Niềm
đau chia phôi)
Rồi
bẵng đi ba năm không đăng thơ, đến BK số 156 (1-7-63) có bài Nỗi niềm, chỉ
bốn câu:
"Nỗi
niềm bi thiết ai hay
Năm
năm nước cũ sông này trôi xuôi
In
lên sắc xám da trời
Nét
buồn thiu nửa cuộc đời lang thang"
(Nỗi niềm)
Lời
thơ lâm ly vọng về mối tình cũ. Nhưng đến ba bài Yêu, Nhớ, Nhịp buồn, làm
mùa hè năm 1963 (BK số 161, 15/9/63), mối tình mới hiện ra đậm nét:
"Khi
em về giữa vòng tay
Trong
yêu dòng nước mắt này lại khô
Vết
hôn ngày cũ chưa mờ
Phút
giây đầm ấm bao giờ nữa em"
(Yêu)
"Không
ai về thăm chiều nay
Cho
tôi chết giữa vòng tay một người
Tiếng
hôn khép kín môi cười
Gối
chăn mùa lạnh rã rời thú xưa"
(Nhớ)
Và
bài Nhịp buồn:
"Cúi
đầu đếm bước bơ vơ
Hoàng
hôn khép kín bao giờ đây em?
Nhìn
lên thành phố không đèn.
Âm
u còn lại màn đêm cuối cùng
Mắt
sâu dòng lệ ngập ngừng
Mình
xa nhau đã muôn trùng thời gian".
(Nhịp buồn)
Tóm
lại, thời gian (1959-63) thơ thể hiện tâm sự hai mối tình.
Tháng
giêng 1964 là ngõ quặt lớn trong đời văn: Bách Khoa số 169 (15/1/64) đăng
bài Giới hạn, thơ Nguyễn Thị Hoàng, đồng thời bắt đầu in truyện
dài Vòng Tay Học Trò ký tên Hoàng Đông Phương. Giới hạn tỏ
ý muốn dứt khoát với cuộc tình "học trò" và nói đến sáng tác như một
phục sinh:
"Ngày
mai tôi bỏ đi
Xa
vòng đua thứ nhất
Cuộc
đời không chấm dứt
Bằng
một lần phân ly
Tôi
bắt đầu vẽ lại
Những
vòng cung ái tình
Thêm
một lần tuổi dại
Chết
theo hồn băng trinh".
(Giới hạn)
Sau đó trên Bách Khoa thơ bớt dần, chỉ còn lại truyện dài Vòng Tay Học Trò.
Vòng
tay học trò
Ở
tuổi 24, Nguyễn Thị Hoàng xuất hiện với một thi pháp độc đáo: Thi pháp của
tình yêu và đam mê. Sau Nguyễn Tuân và Mai Thảo, đây là nhà văn thứ ba
trong văn học Việt Nam có một thi pháp đặc biệt, thể hiện trong tác phẩm đầu
tay Vòng tay học trò. Ở cuốn tiểu thuyết thứ ba Ngày qua bóng tối, thi
pháp này được lồng trong nghệ thuật hiện thực huyền ảo (réalisme
fantastique), tạo nên một thứ ám ảnh có hấp lực lạ lùng. Tóm lại, tác phẩm của
Nguyễn Thị Hoàng có thể chia làm hai khuynh hướng: hiện thực hiện
sinh (Vòng tay học trò, Vào nơi gió cát, Cuộc tình trong ngục thất...) và hiện
thực huyền ảo (Mê lộ, Dấu chân bãi cát, Tan theo sương mù, Ngày
qua bóng tối, Trời xanh trên mái cao...), nhưng phải nói ngay đó là khuynh hướng
tự nhiên vì không có gì chứng minh Nguyễn Thị Hoàng, thời đó, đã tiếp xúc hay
chịu ảnh hưởng trực tiếp của những dòng văn học này.
Với
khả năng sáng tạo phi thường, Nguyễn Thị Hoàng có thể thay đổi đề tài, thay đổi
văn phong, mỗi khi có một động lực dấy lên, như: tình yêu, tan vỡ, đợi chờ, nhớ
nhung, khổ đau, hạnh phúc... tất cả đều có thể cung cấp cho bà chất liệu sáng
tác, và khi đã đặt bút rồi, bà viết không ngừng, bà viết như gió táp mưa
sa, như dòng cuồng lưu, như lời Hồ Trường An. Độc giả, hoặc không
thích, bỏ qua ngay, hoặc nếu đã nhập vào, thì sẽ bị lôi cuốn bởi dòng cuồng
lưu, không thể thoát ra được, bởi ma lực của cái đẹp trong mỗi câu văn, bởi sự
đổi thay không ngừng cảnh quan, ý thức. Khó có thể hiểu tại sao một cấu trúc
văn phong tư tưởng chặt chẽ như vậy lại có thể viết một lèo như mưa sa bão
táp.
Tính
chất thứ nhất trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực hiện sinh.
Người ta thường chế giễu Nguyễn Thị Hoàng như một nhà nhà văn "theo đuôi
hiện sinh" nhưng ít người hiểu hiện sinh là gì. Triết học hiện sinh trong
nghiã đơn thuần nhất, chính là triết học tìm hiểu con người, con người đang
sống (hiện sinh). Tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng, vô tình hay hữu ý, luôn
luôn chiếu ống kính về mình, khảo sát mình.
Vai
chính trong truyện, thường là những người đàn bà trong các tình huống khác
nhau, đối diện với người yêu, người chồng. Họ luôn luôn đi tìm mình, xem mình
là ai, muốn gì, cái gì đã xẩy ra cho mình, tất cả những hành động, cảm giác,
xúc động của "mình" đều được tác giả ghi lại để xác định bản chất
"của mình" trong cuộc đời hiện hữu.
Trong Vòng
tay học trò, tình yêu là đối tượng khảo sát, tình yêu được đưa lên
"bàn mổ" hệt như trong Buồn Nôn Sartre đã "mổ
moi" tất cả những hành động và ý tưởng của Roquentin. Một công việc như thế,
thuật ngữ triết học gọi là dùng hiện tượng luận để phân tích. Nhưng
ta không thể nói Nguyễn Thị Hoàng dùng hiện tượng luận, như thế sẽ không có tiểu
thuyết mà chỉ có tiểu luận, và chỉ có thể nói tác giả đã coi tình yêu như một hiện
tượng, bà đã chiếu nhiều ống kính vào khắp các ngõ ngách khác nhau của hiện
tượng tình yêu để vẽ lại bằng một bút pháp đam mê, lôi cuốn, đầy nghệ
thuật. Tình yêu là nội dung sáng tác và đam mê hướng dẫn
ngòi bút. Tình yêu ở đây trở thành đối tượng nghệ thuật, giống như một bức
tranh, một bài thơ, tức là tình yêu đã trở thành một vật thể. Vật thể tình
yêu này được soi rọi trên mọi khía cạnh, mọi tình huống, được nhìn bằng trăm mặt
khác nhau, và viết nên bằng một thứ bút pháp đam mê không ngừng nghỉ
như một hơi thở bất tận.
Vì
vậy, khi ta bước vào tác phẩm Vòng tay học trò, dù do bất cứ động lực
nào: vì tò mò muốn đọc một truyện "xì-căng-đan" giữa cô giáo học trò,
vì muốn biết sự "đồi trụy" của tác giả mà các ngòi bút luân lý lên
án, hay vì muốn tìm kiếm những pha dâm ô như những kẻ không đọc tác phẩm này
rêu rao.
Dù
bằng lý do gì chăng nữa, thì qua những trang đầu, hoặc ta sẽ quẳng sách đi, vì
thấy nó "chẳng có chuyện gì xẩy ra cả" hoặc ta bị lôi cuốn vào cái
văn phong đam mê ấy, ta sẽ đọc tác phẩm như nghe một bản nhạc giao hưởng về tình
yêu, thoát khỏi cõi trần nhơ nhớp: bởi tình yêu ở đây đã thăng hoa thành nghệ
thuật. Trâm, người phụ nữ đã từng sống một thời dạ lạc, nhìn lại những tình
nhân đã qua, thấy "bây giờ họ là những xác chết. Mỗi tình yêu là một
bông hoa đã uá tàn. Mỗi ngày vui là một chiếc lá vàng rơi rụng", nàng
bỏ đi, định sẽ không bao giờ còn yêu được nữa: "nàng bỏ đi như một từ
khước và như một lẩn trốn. Từ khước những thú vui buông thả đưa tới lỗi lầm cay
đắng, đưa tới trống không dằng dặc tủi hờn, lẩn trốn những đòi hỏi xôn xao của
chính mình, của một bản chất sôi nổi, thèm sống, thèm yêu đến tột cùng, đến vô
bờ vô bến" (trang 9).
Từ
bỏ Sài Gòn ồn ào ồ ạt, nàng tìm đến Đà Lạt như một nơi để "vùi chôn đời
đời". Nhưng đâu có dễ. Trốn đi đâu? Bởi Trâm không thể trốn được
chính mình, nàng là "nòi tình", nàng là hiện thân của tình yêu, làm
sao bỏ "nó" được.
Khi
"thằng nhóc" Minh đến, nó đã kéo nàng trở lại với bản lai chân diện mục
của mình. Bản giao hưởng dẫn ta vào những trầm bổng của nhịp tình, lôi cuốn, hờn
ghen, đớn đau, giận dỗi... Ở đây không hề có tội. Tội gì? Khi tất cả chỉ là sự
tiếp nối không ngừng những ái ân thanh cao tế nhị nhất:
"Trâm
lần tay xuống những cành củi thông. Tiếng sột soạt nhẹ nhàng của củi cọ trên
sàn gỗ, bỗng Trâm cảm thấy tay mình vương vướng trên mớ củi khô. Những ngón tay
cóng tê run rẩy, những dây thần kinh bé bỏng đầu ngón tay chuyền cảm giác đi khắp
thân thể Trâm như những đoàn quân nồng nhiệt đi chiếm đóng một quê hương gần
hàng phục, bị trị. Trong một mấp máy của thời gian, Trâm như trong chiêm bao mơ
hồ thấy hơi ấm dịu dàng của bàn tay người con trai ấp ủ lấy bàn tay hấp hối của
mình. Giọng Trâm rưng rưng vừa ăn năn vừa thú tội: -Em... Hai bàn tay bứt rứt
buông nhau." (trang 177).
Thi
pháp tình yêu và đam mê đã dẫn ta tới nguồn cội của cảm giác: chỉ cần sự
va chạm của mấy ngón tay đã đủ đánh thức tất cả hệ thống thần kinh, đã khơi dậy
một trời đam mê, đã thoả mãn cả núi đồi nhục cảm. Giá trị tác phẩm nằm ở chỗ
đó.
"Mỗi
một hơi thở, một cựa mình... là một lời gọi kêu tội lỗi", "Từng ngón
tay Trâm đột nhiên run rẩy bám chặt vào chéo gối", "Mùi thuốc
thơm phảng phất. Hơi khói nồng nồng quen thuộc từ phiá Minh len lén bay qua phả
lên mặt nàng như một gửi trao liều lĩnh"...
Không
một chữ sàm, chữ sỡ, không dâm, không ô, trong toàn bộ tác phẩm.
Vòng tay học trò đã đào sâu tình yêu qua ngả nhận thức và cảm giác. Mỗi yếu tố nhỏ nhất đều có thể là động tác tình yêu: một hơi thở, một tiếng cựa mình, một làn khói... tất cả đều đã có chất yêu ở trong, nhà văn đã chắt nó ra, và như thế, tác giả đã tìm tới tất cả những nguồn cội dẫn đến nhục cảm có thể tưởng tượng được.
Vào
nơi gió cát
Vào
nơi gió cát không phải là tiểu thuyết mà là một lá thư hay một bài văn dài
viết cho người chồng đang đi hành quân đâu đó; lấy câu thơ "Chàng từ
đi vào nơi gió cát" trong Chinh phụ ngâm, làm đề. Bài văn kể lại
chuyện từ lúc gặp nhau, lấy nhau, rồi nàng có thai đứa con đầu lòng và chàng xa
vắng. Ở đây, sự nhớ nhớ thương vẫn là đối tượng khảo sát bằng hiện tượng
luận.
Sự nhớ
thương chăn gối điên cuồng của một người vợ, mới cưới, chồng bị gọi động
viên, rồi ra trận, rồi liều lĩnh bỏ về thăm vợ, bị bắt, bị tù, được tha, lại phải
trở ra trận... Nỗi nhớ thương đến cuồng dại điên rồ, sự lo lắng đến bệnh hoạn về
cái chết có thể đến với chồng trong giây phút. Văn phong đam mê cực điểm đến độ
mù quáng, mê sảng. Tính chất quá độ có thể làm giảm giá trị của tác phẩm, nhưng
đây là bài văn duy nhất, đã thám hiểm đến tận đáy của cảm giác trong lòng những
thiếu phụ có chồng ra trận, dường như chưa ai dám đi xa đến thế.
Cuộc
tình trong ngục thất
Vào
nơi gió cát bắt buộc phải dẫn đến Cuộc tình trong ngục thất, bởi người
thiếu phụ không thể chịu được cảnh xa chồng, chuyện gì phải đến đã đến: họ tính
chuyện đào ngũ. Người vợ, bụng chửa sáu tháng đứa con thứ ba, giúp chồng thực
hành ý định. Tác phẩm được viết như một bi kịch kín (huis clos) xẩy ra trong
vòng 24 tiếng đồng hồ, từ khi người vợ vác bụng chạy đến phi trường tỉnh lỵ sắp
đóng cửa, nài nỉ mua cho bằng được 2 vé máy bay cho ngày hôm sau trở lại Sài
Gòn; rồi nàng về nhà trọ đợi chồng tẩu thoát từ một đơn vị đang tác chiến.
Mọi động tác, mọi toan tính đều được chắt lọc, vắt cạn, tạo sức ép đến độ nghẹt thở, hệt như trong một truyện trinh thám. Nhưng đây không phải là trinh thám mà là văn chương. Tác giả đánh động mọi giác quan của ta bằng tình yêu, bằng nỗi chết, bằng sự sống còn: nếu muốn sống, muốn yêu, thì bắt buộc phải đào ngũ. Không có đường nào khác. Không có vấn đề đê hèn hay phản chiến, mà chỉ có một lựa chọn: sống hoặc chết và họ đã chọn đường sống.
Phần
thứ nhì trong tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng là hiện thực huyền ảo.
Mê
lộ
Truyện
ngắn Mê lộ, đăng trên Bách Khoa số 246 (1/4/1967), viết về một vụ án mạng
mà nạn nhân là một tiếng hát. Tiếng hát quyền rũ tất cả, tiếng hát đưa
ta "trở về những thời gian hoang vu tiền sử xa lắc xa lơ, về những bến
bờ sơ khai nguyên thuỷ của con người...Về quê hương. Về mất mát, về chiến
tranh. Về tình yêu và những tháng ngày diễm mộng..."
Một
tiếng hát "mê hồn" như thế, làm sao có thể giết được? Kẻ sát nhân bèn
đi theo "nó", rình mò "nó" như một thám tử cừ khôi và cuối
cùng hắn đã hạ sát được "nó", hắn cắm phập con dao vào tim
"nó", trong một lâu đài hoang phế, trên ngọn đồi âm u của núi rừng. Về
lại Sài Gòn, hắn đang hả hê nghĩ đến chiến công oanh liệt của mình; bỗng, tiếng
hát lại nổi lên, mê hoặc hơn bao giờ hết, lại réo rắt vọng vào tai hắn, thì ra
hắn đã giết lầm: hắn lăn đùng ra.
Hắn
là ai? Hắn chính là cái quê hương, nơi chôn rau cắt rốn của "nó", hắn
đã sản sinh ra "nó", thế mà...
Mê
Lộ là một trong những truyện ngắn rất hay và rất lạ của Nguyễn Thị
Hoàng. Mê Lộ xác định tính cách fantastique, trong cõi viết Nguyễn
Thị Hoàng, từ năm 1967, đưa bà lên địa vị một trong những nhà văn Việt Nam đầu
tiên viết theo lối hiện thực huyền ảo (réalisme fantastique), mặc dù
lúc ấy ở Việt Nam có lẽ chưa mấy ai biết hiện thực huyền ảo là gì.
Ngày
qua bóng tối
Tiểu
thuyết Ngày qua bóng tối, cảm hứng từ mối tình đầu ở Nha Trang, có cấu
trúc khác hẳn Vòng tay học trò. Ở đây tác giả đã nhuần nhuyễn kỹ thuật
huyền ảo với một nghệ thuật làm lạc hướng tài tình, khiến ta không thể nhận được,
đâu là hư, đâu là thực, ai là ai, còn sống hay đã chết. Truyện mở vào không
gian trinh thám với cái chết rùng rợn của một kẻ bị ám sát, chết ngồi trên mui
xe lửa, máu rớt xuống vai áo những hành khách trong toa tầu...
Nhưng
đó chỉ là đòn lừa, dẫn đến một "thực tại" khác hẳn: sự gặp gỡ bất ngờ
trên tầu, của cô gái chưa mười tám và cặp vợ chồng đứng bóng, "ân
nhân" của nàng.
Nhân
dạng mối tình đầu hiện dần ra: người đàn ông đứng tuổi"như một khách lạ ở
hành tinh xa vời nào xuống nhàn du trái đất" mà cô gái gọi
là người lạ. Chính người lạ này sẽ đánh thức những tiềm
năng ngủ sâu trong tâm hồn và thể xác của cô gái, toàn bộ tri thức, nhận thức,
cảm quan, giác quan của nàng được dựng dậy, được khai thác...
Người lạ vừa là thày, vừa là đối tượng bí mật cần khám phá, một thứ thần tượng, từ khâm phục dẫn đến thần phục và tình yêu. Người con gái chưa hiểu được thứ cảm tình gì chi phối mình, kèm thêm thứ cảm tình lạ lẫm đối với người vợ bao dung của ông ta, luôn luôn che chở và săn sóc nàng như một người em gái yếu mềm, dễ vỡ. Tất cả những xao động và hành động xẩy ra giữa nàng và người lạ, và bà vợ dẫn đến những đổ vỡ, ăn năn, tuyệt vọng và nỗi chết. Tác phẩm vừa bí mật, vừa lôi cuốn như một truyện hoang đường, không lối thoát, nhưng nó xác nhận mối tình đầu mới là mối tình sâu xa nhất của tác giả, mối tình này vẫn sống trong nàng, mặc dù nó đã chết từ lâu.
Tan
theo sương mù
Tan
theo sương mù là một tuyệt tác trong những truyện ngắn của Nguyễn Thị
Hoàng và của văn học Việt Nam, viết năm 1970 ở Osaka. Trong tác phẩm này, tất cả
đều đạt đỉnh cao của tế nhị và hư ảo: Tình yêu được đặt trong một không gian mới
lạ, diệu kỳ. Không hiểu tại sao chỉ một chuyến qua Kyoto, mà tác giả có thể nhập
vào nhiều thứ đến thế: không khí mê hoặc của những gia trang huyền bí Nhật Bản,
của vườn cảnh, của những bình phong, của những bông hoa lạ, của hương thơm, của
ảo giác, của bức tranh bí mật dị kỳ và nhất là của tâm hồn Nhật Bản. Bút pháp
trong Tan theo sương mù không thua bất bất cứ loại bút pháp nào trong
tác phẩm của Kawabata. Tình yêu ở đây là sự sống chung giữa mộng và thực, giữa
trần gian và âm cảnh của người đàn ông với người vợ đã chết, ẩn thêm bóng
dáng người lạ của Ngày qua bóng tối, nhưng Nhật Bản hơn, thanh
khiết và cao đạo hơn.
Thụy
Khuê
thuykhue.free.fr
Paris, tháng 10-2018

.jpg)
