Giải Phóng hay ăn cướp Miền Nam ? - Tài liệu lịch sử
Những em nào sanh ra thời 9x, 2000. Nên đọc kỹ để hiểu rõ tại sao nhưng người Saigon bỏ nước ra đi, liều mạng sống trên biển nhưng vẫn ra đi. Coi đi rồi mới hiểu tại sao 49 năm qua rồi mà mọi người vẫn không tha thứ đuọc nỗi đau mất mát do CS gây ra. Các bạn đừng so sánh khập khễnh giữa VN và các nước khác như Đức chẳng hạn.
Họ thống nhất đất nước đưa cả nước thành một nhưng họ chưa bao giờ cướp của người dân vô tội thì đừng bao giờ so sánh VN vơi những nước mà có chiến tranh. Dĩ nhiên thắng làm vua, thua làm giặc. Nhưng CS bắc việt chiếm được miền nam, vơ vét hết tài sản của dân miền nam, bắt người ta đi tù , đi kinh tế mới và ghép cho cái tội “Tư Bản”. Nếu là bạn, bạn có tha thứ không? Trả lại hết tài sản đã cướp, trả hết những năm người ta bị tù đày, bị đánh đập dã man đén bỏ mạng trong tù đi, rồi những mạng ngươi chết trên biển đông. Trả lại hết những mất mát đó đi ròi hoà giải và cùng nhau xây dựng đất nước nhé.Ăn Cướp Mà Gọi Giải Phóng
“Đánh tư sản” ở miền nam sau 1975
I. Đánh tư sản
Đánh tư sản cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam
ngang hàng sự kiện Thuyền nhân Việt Nam và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm
1975.
– Sự kiện Đánh tư sản do Hà Nội thực hiện đối với người dân
miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do
Phạm Hùng ký đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền
Nam.
Các đợt Đánh tư sản đối với người dân miền Nam được Hà Nội
cho ký số X1, X2 và X3.
– Đợt X1 được bắt đầu vào sáng ngày 9 tháng Chín năm 1975 xảy
ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào
nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân
phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống.
Đợt X1 này tập trung vào những người tư sản mại bản gốc Hoa
vốn đã sanh sống thành công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.
– Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được
kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt.
Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành
phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do
chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn.
– Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập
trung tại Sài Gòn. Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế
ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là
người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.
Bảy giờ sáng ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh
to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ
Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến
dịch X3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.
Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng,
kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ
làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ,
chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong tài
sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm
niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết
nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên
các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.
Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ Nhà
văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ
xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính
sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ tiêu dùng, gia dụng trong
nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hủy. Không những thế, các nhà
máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy, … cũng bị tê liệt vì
chủ nhân bị quốc hữu hóa.
Chiến dịch X3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục 28.787 nhà
máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.
Ông Nguyễn Văn Linh nói:
– “Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương, tìm hiểu và dự
kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười
thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955,
nên con số mới phồng to lên như vậy. Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh
ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định”. – (Nguyễn Văn
Linh – Những trăn trở trước đổi mới).
Ông Đỗ Mười đã đưa hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu vào
diện cải tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.
Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã
có trên 10000 tiệm bán hàng bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ
sinh cũng không có mà mua, mà dùng.
Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn
Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng.
Đồng thời ông bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công
nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp
chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ
Chí Minh.
Kết quả X3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng
hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống
kê hết. Từ chiếc xe hơi, tivi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều bị
kê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến
thành phế thải.
– Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã
vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi
từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng”
bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn
người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi
nhà bị tịch thu.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết
tài sản và bị cưỡng bức đi Kinh tế mới là khoảng 600.000 người, tạo ra một sự
hoảng sợ hoang mang chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều
đại.
Cuối đợt X3, ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950.000 người
Sài Gòn bị cưỡng bức đi Kinh tế mới, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu
hai người!
– Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiệt
quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy.
Hơn 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần
cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay,
đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đến gần chín đến hai mươi
mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường
hoàn toàn không còn hy vọng để phục hồi.
– Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch thu từ tư bản ở miền
Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng – nhưng đây chỉ
là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai
năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ
trang và kim cương thu trong những đợt Đánh tư sản ở miền Nam.
II. Hợp tác hóa
– Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị vào tháng 5 năm 1978
đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông
qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất”.
Việc hợp tác hóa ở miền Nam được tiến hành khẩn trương trong
các năm từ 1977 đến 1980. Theo kế hoạch thì ruộng đất được tập hợp lại để tổ chức
canh tác tập thể, sản phẩm được phân chia căn cứ theo mức đóng góp. Máy móc
nông nghiệp của nông dân bị trưng mua để thành lập các tập đoàn phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Các tập đoàn sản xuất có nghĩa vụ bán sản phẩm của mình cho Nhà nước
theo giá kế hoạch thấp hơn rất nhiều giá thị trường. Bù lại, Nhà nước cung cấp
vật tư và hàng hóa tiêu dùng cho các tập đoàn.
Tuy nhiên tình hình kinh tế Miền Nam không thích hợp với mô
hình hợp tác hóa vì chương trình “Người cày có ruộng” vào đầu thập niên 1970 đã
phân phối ruộng đất khiến đa số nông dân Miền Nam thuộc hạng trung nông với
năng suất khá cao. Hơn nữa chính quyền cũng đã nhận thấy lịch sử hợp tác hóa ở
miền Bắc đã gặp nhiều thất bại nên hợp tác hóa ở miền Nam cũng bị bỏ dở.
Tính đến cuối năm 1979, ở Miền Nam thành lập được 1.286 hợp
tác xã và hơn 15.000 tổ sản xuất bao gồm khoảng 50% nông dân. Vậy mà sang năm
1980 các tổ chức này đã tan rã, chỉ có trên giấy tờ mà không hoạt động được như
kế hoạch. Hậu quả là sản xuất nông nghiệp khựng lại trong khi dân số tăng, gây
ra cảnh thiếu thực phẩm khiến từ năm 1976 đến 1980 mặc dù trong hoàn cảnh hòa
bình Việt Nam phải nhập cảng 5,6 triệu tấn thực phẩm.
Sang đến năm 1979, nhà nước áp giá pháp lệnh 5,2 hào một kg
lúa trong khi thị trường là 1,5 đồng một kg nên nông dân không chịu bán. Bí thư
Võ Văn Kiệt khi ấy chỉ đạo Công ty Lương thực thu mua lúa của dân theo giá
tương xứng, cứu đói cho thành phố và để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn
được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.
III. KINH TẾ MỚI
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị tịch thu nhà, tài sản đều phải
đi về vùng Kinh tế mới, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được
xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. Hơn 600.000 nạn nhân
bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng Kinh tế mới và bỏ lại hết
toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.
Khi đến vùng Kinh tế mới để sống, họ phải tham gia vào các tập
đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn
nhân này được phân phối chia ra như sau:
– 30% trả thuế
– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
– 15% trả lương cho cán bộ quản lý ;
– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế
lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh
tế mới đã bị tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn
là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới, thế là gần cả
triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả
thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải
“Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.
Phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày
25 tháng 6 năm 1976 ông Lê Duẩn chủ trương:
“ … ở miền Nam, những người trước đây nhờ chiến tranh xâm lược
của đế quốc Mỹ mà có một mức sống vật chất vượt xa khả năng của nền kinh tế
trong nước và kết quả lao động của bản thân họ, nên hiểu rằng đó là một cuộc sống
phồn vinh giả tạo, đổi bằng đau khổ, chết chóc của hàng triệu đồng bào, bằng sự
triệt phá biết bao xóm làng, thị trấn, bằng sự sa đọa của biết bao thanh niên,
bằng sự chà đạp nhân phẩm của biết bao phụ nữ ở các vùng tạm bị chiếm, và bằng
nhục mất nước.
Họ nên hiểu rằng lối sống chạy theo những nhu cầu giả tạo
theo kiểu “xã hội tiêu thụ”, đua đòi theo những thị hiếu tầm thường, hoàn toàn
trái với cuộc sống hạnh phúc văn minh chân chính. Những đồng bào ấy ngày nay có
thể và cần trở lại với thực tế, trở về với cuộc sống của dân tộc, sống bằng kết
quả lao động của mình. Đó là con đường để tiến tới một cuộc đời tươi vui, đẹp đẽ,
có ý nghĩa, có phẩm giá, có hạnh phúc thật sự và lâu bền cho chính mình và con
cháu mình.”
Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các
vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam cả triệu người đang sống sung túc bổng
lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi
nhà.
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng
Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường trở về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời
kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.
IV. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản” ở miền
Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng.
Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam
Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt,
đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm
1985.
Trích:
“Điều IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC
BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính
quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân
nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công
cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước
trực tiếp quản lý:
– Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
– Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
– Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ,
từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
– Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản
cách mạng.”
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ nhiều gia đình, thân
nhân của người trong quân đội, chính quyền VNCH phải chịu mất nhà mất cửa rất
thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu
nhà cửa.
Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn
nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành
phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần
tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba
đời liên quan đến Ngụy quân, và đều có tư tưởng phản động và cần phải tịch thu
nhà cửa dựa trên điều khoản này của QĐ 111/CP.
Không khí hoảng sợ , đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền
Nam.
V. Đổi tiền.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam thống nhất lãnh thổ
và tiếp sau đó là thống nhất về chế độ chính trị. Tuy nhiên, nền kinh tế quốc
gia vẫn còn bị chia cắt trên một số lĩnh vực. Một trong số đó là việc tồn tại đồng
thời 2 đơn vị tiền tệ: Đồng (tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và Đồng (tiền Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Việc chấp nhận 2 đơn vị tiền tệ cùng tồn tại thời gian đầu
được Đảng Cộng sản Việt Nam giải thích là “tuy là một nước thống nhất, nhưng do
còn có sự khác biệt về phương thức sản xuất và phân phối, chúng ta phải tạm thời
cho lưu hành hai đồng tiền khác nhau ở hai miền.”
Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn xem điều này là “trở
ngại trong giao lưu kinh tế và thanh toán giữa hai miền”. Mặt khác, quốc hiệu của
Việt Nam đã được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không dùng quốc
hiệu cũ vẫn ghi trên các đơn vị tiền tệ đang lưu thông. Do đó, Bộ Chính trị Đảng
Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương thống nhất tiền tệ.
Ngày 01 tháng 4 năm 1978, Bộ Chính trị ra nghị quyết số
08-NQ/TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền ngân hàng cũ ở hai
miền, thống nhất tiền tệ trong cả nước. Việc thống nhất tiền tệ vừa bao gồm mục
đích tạo thuận lợi cho trao đổi và thanh toán, vừa bao gồm mục đích kiểm soát
lượng tiền trong lưu thông, lại vừa bao gồm mục đích cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Ngày 05 tháng 5 năm 1978, công việc đổi tiền được tiến hành
trên toàn quốc. 1 đồng (tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đổi bằng 1 đồng mới,
0,80 đồng (tiền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) đổi bằng 1 đồng
mới.
Mức tiền mặt được đổi ngay được ấn định như sau:
– Mỗi hộ độc thân được đổi ngay đến mức tối đa ở thành thị
là 100 đồng, ở nông thôn là 50 đồng;
– Mỗi hộ gia đình có 2 nhân khẩu được đổi ngay ở thành thị mức
tối đa là 200 đồng, ở nông thôn là 100 đồng;
– Mỗi hộ gia đình có 3 nhân khẩu trở lên được đổi thêm cho mỗi
nhân khẩu ở thành thị là 50 đồng, ở nông thôn là 30 đồng, những hộ nhiều nhân
khẩu nhất cũng chỉ được đổi ngay đến mức tối đa ở thành thị là 500 đồng, ở nông
thôn là 300 đồng;
– Mỗi nhân khẩu trong các hộ tập thể, như bộ đội, công an vũ
trang, công nhân viên chức, sinh viên… được đổi ngay đến mức tối đa là 100 đồng.
– Số tiền sở hữu trên mức tối đa phải khai báo và ký thác
vào ngân hàng. Khi cần dùng thì tiền đó có thể rút ra nếu có lý do chính đáng.
Một điều kiện nữa là người dân phải chứng minh rằng số tiền
trên mức tối đa là tiền kiếm được bằng “lao động cá nhân” chân chính chứ không
phải tiền trục lợi qua lao động của người khác. (!)
VI. Hậu quả quá trình Đánh tư sản của Hà Nội:
– Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt
Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản
Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba
trên thế giới vào năm 1985.
– Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục
được một phần hậu quả của 10 năm Quá Độ, Đánh tư sản do Hà Nội tiến hành từ năm
1976 đến năm 1987.
– Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho
những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu
đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền
Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10
năm đó.
– Sang đến năm 1989, chính quyền bắt đầu tiến hành trả lại
nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề
cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị
tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center
Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù
nhân trung tâm cải tạo)
– Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới
và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ
giúp, mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi đánh tư sản từ các báo chí đài phát thanh
của Đảng cũng bị dẹp dần đi.
Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt
triệu người dân miền Nam về hành động này.
Tài liệu sưu tầm
