Sông Bến Hải - Phạm Hữu Trác
Hiệp Định Genève 20-7-1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam!
Hiệp định Genève 20-7-1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới đình chiến giữa hai miền Nam Bắc, từ đó hai chữ Bến Hải đi vào lịch sử Việt Nam.
Sông Bến Hải còn có tên là Rào Thanh bắt nguồn từ vùng núi Động Chân, tỉnh Quảng Trị, thuộc dãy Trường Sơn, cao hơn mặt biển 500m, chẩy theo hướng từ Tây Nam sang Đông Bắc, đổ ra biển ở Cửa Tùng, thuộc quận Vĩnh Linh, Quảng Trị. Sông dài chừng 100km, nơi rộng nhất khoảng 200m, hai đầu sông rất hẹp, ở Thượng Nguồn nơi có Nhà Thờ Phước Sơn, sông chỉ rộng 20m, ở Cửa Tùng lòng sông rộng 30m. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông Bến Hói, theo tiếng địa phương hói có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc trại ra là Bến Hải!
Từ Tầu Nguồn sông Bến Hải chẩy được 80km thì gặp sông Sa Lung từ phía Tây Bắc đổ vào, hai sông hợp lưu chẩy tiếp ra biển, qua làng Minh Lương ở bờ Bắc nên có tên là sông Minh Lương. Do phải kiêng húy tên vua Minh Mạng, nên cả tên Làng và tên Sông đều đổi thành Hiền Lương, cây cầu gần ngã ba sông cũng mang tên là Hiền Lương!
Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ số 1 bắc qua sông Bến Hải, nơi sông rộng hơn 150m, lui một ít về phía Nam vĩ tuyến 17, thuộc quản hạt Quận Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tính đến nay đã có nhiều lần cấu trúc chiếc cầu bắc qua sông Bến Hải thay đổi, nhưng cây cầu lịch sử vẫn là cây cầu từ 1952 đên 1967. Cầu bắt đầu xây dựng bằng gỗ thô sơ năm 1922 dành cho người đi bộ, thay đổi nhiều lần đến khi xây lại năm 2003 tất cả là 8 lần!
Cây cầu mà tôi đã đứng trên đó do người Pháp xây dựng năm 1952 bằng
bê tông cốt sắt dài 178m, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, trọng tải tối
đa 18 tấn, gồm 7 nhịp, mặt cầu lát bằng 894 tấm ván gỗ thông, chia ra miền Bắc
một nửa, miền Nam một nửa, mỗi bên 89m. Ở giữa cầu ngăn ra bằng hai vạch song
song, trừ Cảnh-Sát hai bên có thể đi qua hết chiều dài của cầu, người khác chỉ
được đứng trong phạm vi giới hạn NAM - BẮC của mình. Cây cầu này tồn tại 15 năm
từ 1952 cho đến 1967 khi máy bay Mỹ phá sập!
Mỗi đầu cầu có một Đồn Cảnh-Sát 16 người (phía Bắc gọi là Đồn
Công-An) thường xuyên cử hai nhân viên tuần tiễu an ninh trên cầu. Nghe nói ở Cửa
Tùng cũng có một Đồn Cảnh-Sát ở bờ Bắc thuộc Xã Vinh Quang và một đồn ở phía
Nam thuộc Xã Cát Sơn. Sau năm 1965, khi chiến tranh leo thang thì hệ thống Đồn
Bót dọc hai bên sông Bến Hải đều ngưng hoạt động!
Phuc vụ tại Sư Đoàn 1 Bộ Binh từ 1963 đến 1965 (1), tôi đã nhiều lần
ra thăm cầu Hiền Lương, mổi lần đối với tôi là một kỷ niệm khó quên! Vì là
trong vùng 5 cây số Phi Quân Sự, nên mỗi lần đến cầu đều phải mặc thường phục,
nếu đi quân xa thì mang phải mang số ẩn tế, có khi vội thì lấy bùn bôi lấp đi bảng
Số Quân Xa!
Lần đầu tiên vào cuối năm 1963, lúc mới đến đơn vị mới là đã muốn
đi thăm Bến Hải. Từ Huế theo quốc lộ số 1, qua Quảng Trị rồi Đông Hà, khi vào tới
địa hạt Vĩnh Linh là đã thấy lòng nao nao vì nhớ nhà sau 9 năm xa miền Bắc!
Dòng sông chẩy chậm, trên cầu gió nhẹ, đứng ở bên này vạch trắng mà nhớ lại những
xót xa lúc xuống tầu há mồm rời miền Bắc!
Lần khác theo đoàn sinh viên Sài Gòn ra thăm Huế đi cùng với Tướng
Nguyễn Chánh Thi. Khi đoàn người tới chân cầu thì hai nhân viên Công An miền Bắc
sang bên này quan sát, quả nhiên không bao lâu sau thì có tin Cộng Sản phản đối
sự hiện diện của Tướng Thi ở vùng Phi Quân Sự! Mấy ông Ấn Độ, Ba Lan, Gia Nã Đại
trong Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến từ đâu bỗng thấy kéo đến, bên ta trả lời là Tướng
Thi ngoài chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn có là Đại Biểu chính phủ tại Khu 11 Chiến Thuật,
một trách vụ Hành Chính. Thế là xong một hiệp, mà không biết trong vòng 21 năm
đã có bao nhiêu vụ khiếu nại qua hai bên cầu!
Khoảng giữa tháng 9-1964 vài đồng nghiệp và tôi rủ nhau ra thăm Bến
Hải. Hôm ấy Tướng Lâm Văn Phát kéo quân vào Sài-Gòn áp lực Đảo Chính, ở ngoài
giới tuyến nghe rõ nhạc hành quân trên đài phát thanh Sài-Gòn cùng với tin tức
và kêu gọi của hai phe, Đảo Chính và Phản Đảo Chính. Ở trên cầu Hiền Lương hai
anh Công An miền Bắc đến chào hỏi “ĐỒNG-BÀO”, rồi tỏ ý chê bai, nói với chúng
tôi là mấy anh Tướng miền Nam thích đánh nhau tranh dành quyền hành, anh bạn Lý
Hồng Sen nhanh trí đáp lại: bên tôi Dân Chủ như vậy đó, ai làm việc không được
thì bắt xuống, bây giờ để chứng tỏ Dân Chủ, ở giữa cầu này, tôi hô đả đảo Nguyễn
Khánh, đồng chí phải hô đả đảo Hồ Chí Minh, nói xong anh giơ tay hô lớn đả đảo
Nguyễn Khánh, rồi đòi anh Công An trả nợ phần của anh đối với Hồ Chí Minh! Dĩ
nhiên anh bị ngọng, trách ngược lại người “ĐỒNG-BÀO” kỳ cục! Chúng tôi bồi
thêm, cật vấn anh ta tại sao chân cầu phía Bắc lại có cái cổng lớn trên ghi bốn
chữ "NAM BẮC MỘT NHÀ", giữa nhà sao lại xây cổng?!
Khi Không Quân Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu oanh tạc Bắc Vĩ Tuyến 17,
nhiệm vụ của Quân Y Sư Đoàn là bay trên trực thăng phía Nam sông Bến Hải để yểm
trợ cứu cấp trường hợp Phi Công bị trúng thương. Tôi nhớ hình như hồi đó quân đội
Việt Nam sử dụng trực thăng loại Huey, chở được tám người, hai cáng thương, thường
bay hai chiếc để hỗ trợ lẫn nhau! Trường hợp may mắn, chúng tôi đã có hy vọng
tiếp cứu đuợc Phi Công Phạm Phú Quốc, nếu máy bay trúng đạn của anh còn bay được
sâu về phía Nam. Cuối cùng chúng tôi chẳng cứu được ai mà trớ trêu hơn nữa,
chính chúng tôi phải lo cho mình, số là hôm ấy một trong hai chiếc trực thăng hỏng
máy, phải đáp xuống đất, tất cả dụng cụ trang bị Quân Sự và Y Khoa phải tháo gỡ
cùng với phi hành đoàn đưa sang chiếc thứ hai bay về sân bay thành nội Huế!
Ngày 19-3-1965 tôi cũng muốn ra chứng kiến cảnh trục xuất giáo sư
Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và ký giả Cao Minh Chiếm qua cầu
Hiền Lương, nhưng vì bận công tác khác nên không thể ra coi được!
Năm 1967 cầu bị phi cơ Mỹ đánh sập, đến 1972 khi đem quân chiếm miền
Nam, công binh Cộng Sản bắc cầu phao qua sông Bến Hải lùi 20m về phía thượng
lưu cầu cũ. Năm 2003 công việc phục chế cầu Hiền Lương phỏng theo kiểu cũ hoàn
thành, mặt cầu được lát bằng gỗ lim.
Tôi cứ băn khoăn về những yếu tố nào trong cuộc Điều Đình mặc cả
giữa Pháp và Việt Minh trong cuộc đàm phán Genève đã đưa đến thỏa thuận nhận
sông Bến Hải làm ranh giới? Cho đến mấy năm gần đây nhờ những tài liệu mới xuất
bản (2) mới có thể lần ra manh mối việc chia đôi đất nước. Xin ghi lại ở đây những
nét chính yếu.
Vào tuần lễ thứ ba của Hội Nghị, phương án vạch một giới tuyến NAM
BẮC hầu như đã được công nhận, Phạm Văn Đồng đưa ra ý kiến lấy vĩ tuyến 13 làm
ranh giới, các nước Phương Tây phản đối dữ dội!
Chu Ân Lai thấy cần phải thuyết phục phía Việt Minh, trên đường từ
Genève trở về Bắc Kinh qua thăm Ấn Độ và Miến Điện, bèn triệu tập một phiên họp
tại Quảng Tây với Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, cùng hai cố vấn
Trung Quốc bên cạnh Việt Minh là La Qúi Ba và Vi Quốc Thanh, để thông báo cho
biết tình hình đàm phán và vấn đề chia vùng!
Cuộc gặp gỡ này diễn ra tại Liễu Châu (thành phố thuộc tỉnh Quảng
Tây) trong 8 phiên họp từ ngày, từ 3 đến 5 tháng 7, 1954. Sau khi Võ Nguyên
Giáp và Vi Quốc Thanh trình bày tình hình chiến trường, Chu Ân Lai thuyết giảng
dài về vấn đề Chiến Tranh và Hòa Bình. Ông trình bày rất tỉ mỉ, cho rằng trước
mắt có ba khả năng, thượng sách là Hòa được, trung sách là Đánh rồi Hòa, hạ
sách là Đánh tiếp! Cuối cùng ông cho biết có hy vọng vạch đường phân giới tạm
thời tại Vĩ Tuyến 16. Ông khuyến dụ: từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc là nơi Việt Nam
hưng quốc, có 13 triệu dân, có hải cảng, có thể xây dựng. Vì người Pháp đòi
chia vùng ở Vĩ Tuyến 18 và vì Vĩ Tuyến 16 ở phía Nam Đà Nẵng nên muốn trấn an
người Pháp, ông bảo cảng Đà Nẵng, Huế và quốc lộ số 9 (từ Đông Hà sang Lào, ở
phía Bắc thị xã Quảng Trị) có thể đặc biệt lưu lại cho Pháp một hai năm, như thế
chúng ta có thể đòi các điều kiện khác!
Hồ Chí Minh nói vào lúc xế chiều ngày 4 tháng 7, ông nói ta phải giúp
Mendès-France khỏi đổ, hạ quyết tâm tranh thủ Hòa Bình. Buổi tối hôm đó Chu Ân
Lai báo cáo về trung ương, xin lùi ngày về Bắc Kinh, họp thêm một ngày nữa liên
quan đến phương án giải quyết cụ thể!
Trong phiên họp sáng ngày 5 tháng 7, 1954 Võ Nguyên Giáp biểu thị
đồng ý chọn Vĩ Tuyến 16, nhưng nói thêm vì Phạm Văn Đồng đang đề xuất phương án
Vĩ Tuyến 13, nên có thể lùi từng bước, đến vĩ tuyến 16 là giới hạn cuối cùng,
khi rút quân miền Nam thì rút từ cấp Tỉnh trở lên, nhưng từ cấp Huyện trở xuống
và đội du kích không rút, đem cất giấu vũ khí!
Vi Quốc Thanh đồng ý với ý kiến chủ hòa của Chu Ân Lai, nếu tiếp tục
đánh, có thể đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại đưa vào kể địch mạnh (Mỹ). Đó là
tình hình đòi hỏi chúng ta phải tránh né nhất. Chu Ân Lai nói xen vào: Đó không
phải là giả thiết mà là sự thật!
Khi kết quả hội nghị Liễu Châu đã thực hiện hoàn toàn theo dự kiến
của Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh phát biểu có tính cách tổng kết, hiện nay chúng ta
đang đứng trước ngã tư đường, có khả năng Hòa cũng có khả năng Chiến, phương hướng
chủ yếu là tranh thủ Hòa chuẩn bị Chiến! Bởi vì khẩu hiệu trước đây là Kháng
Chiến Đến Cùng, bây giờ lại muốn Hòa, đối với người bình thường thậm chí là Cán
Bộ, rốt cuộc thì cái nào đúng đây? Nên vấn đề hàng đầu là đả thông tư tưởng, nếu
chuẩn bị tiếp thu Hà Nội, thì phải chuẩn bị một loạt Cán Bộ mà hiện nay không đủ,
vẫn cần các Đồng Chí Cố Vấn giúp đỡ!
Ngay trong ngày kết thúc Hội Nghị, Hồ Chí Minh đã tự tay thảo chỉ
thị 5/7 gửi cho Phạm Văn Đồng, xác định “PHƯƠNG ÁN THẤP NHẤT TRONG ĐÀM PHÁN”
(chấp nhận Vĩ Tuyến 16), chỉ thị này gửi qua Trung Ương đảng Cộng Sản Trung Quốc
trước, nếu không có ý kiến, sẽ chuyển cho đồng chí để tiến hành!
Tối ngày 5 tháng 7, cử hành phiên họp thứ tám, chủ yếu bàn về tình
hình sau khi ngưng bắn, tiếp quản thành thị, Hội Nghị thảo luận và sửa chữa bốn
điều trong “BỐ CAO YÊN DÂN KHI VÀO THÀNH -PHỐ” do La Qúi Ba khởi thảo, tiếp
theo bàn luận và sửa chữa “CHÍNH SÁCH VÙNG TIẾP QUẢN” cũng do La Qúi Ba khởi thảo.
Cuối cùng Chu Ân Lai tuyên bố Kết Thúc Hội Nghị!
Một tuần lễ sau khi về Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Genève ngày
12-7-1954, nghe các Phụ Tá báo cáo tình hình đàm phán. Thứ Trưởng Ngoại Giao
Trương Văn Thiên cho rằng Đoàn Đại Biểu Việt Minh lần lữa không chịu theo chỉ
thị 5/7 của Hồ Chí Minh là do đã đề cao lực lượng của mình và đặc biệt là đánh
giá quá cao chiến thắng Điện Biên Phủ, vì thế đã không nhượng bộ thích ứng, đồng
thời còn có tư tưởng Liên Bang Đông Dương, không phân biệt nổi Cách Mạng Nhân
Dân và Đấu Tranh Giải Phóng Dân Tộc là hai loại không cùng tính chất!
Khó khăn hiện nay là Pháp chủ trương lấy Vĩ Tuyến 18 làm giới hạn,
trong khi Trung Ương Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đồng ý lấy Vĩ Tuyến 16,
nhưng đoàn Đại Biểu VN vẫn dừng lại ở Vĩ Tuyến 14-15!
9 giờ 30 tối hôm đó Chu Ân Lai đến khách sạn của Đoàn Đại Biểu Việt
Nam hội đàm với Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Phan Anh, Trần Công Tường thì được
biết ngày 11 và 12-7-1954 Phạm Văn Đồng đã gặp Mendès-France, Phạm Văn Đồng thử
thăm dò Vĩ Tuyến 16, nhưng Mendès-France ngang nhiên từ chối, kiên trì đòi Vĩ
Tuyến 18. Đến nửa đêm, nhận thấy nơi Phạm Văn Đồng trú ngụ không đủ bảo đảm bí
mật, Chu Ân Lai đề nghị về nơi ông trú ngụ tại biệt thự Vạn Hoa bàn tiếp, tại
đây Chu Ân Lai cho Phạm Văn Đồng biết là nếu tiếp tục Đánh Nhau, ít ra cũng phải
ba năm, thế nhưng Mỹ can thiệp là điều khó tránh khỏi, lúc đó không phải là vấn
đề ba năm nữa!
Chu Ân Lai cho rằng nếu VN muốn giữ Vùng Tập Kết tại Liên Khu Năm
(Quảng Ngãi, Bình Định) thì phía Pháp cũng đòi giữ Vùng Tập Kết tại đồng bằng
sông Hồng. Nếu dứt khoát lấy ranh giới Vĩ Tuyến 16 thì có thể thành lập một dạng
Quốc Gia ở phía Bắc, qua phổ thông bầu cử mà hoàn thành thống nhất!
Chu Ân Lai còn cho biết sau chỉ thị 5/7, Mao Trạch Đông có thương
nghị lại với Hồ Chí Minh và hai người đã đồng ý lấy đường số 9 làm Giới Tuyến,
dù điểm này không viết trong văn kiện 5/7.
Ngày hôm sau, 13-7-1954, Chu Ân Lai tiếp Mendès-France lúc 10 giờ
30 sáng tại biệt thự Vạn Hoa. Thủ Tướng Pháp trải ra một bản đồ trước mặt Chu
Ân Lai và nói: Không có đường Giới Tuyến nào thích hợp hơn Vĩ Tuyến 18. Nhất định
ngài sẽ nói với tôi Việt Minh chiếm nhiều nơi giữa Vĩ Tuyến 13 đến 16, thế
nhưng giữa Vĩ Tuyến 16 và 18 chúng tôi có vùng chiếm lĩnh!
Không thể lấy diện tích ra để so sánh, trên thực tế những thành phố
như Hà Nội Hải Phòng, Huế, Tourane, đồng bằng sông Hồng, tính quan trọng về Dân
Số, Chính Trị, Kinh Tế đều lớn hơn những vùng mà Việt Minh rút khỏi. Lấy Dân Số
ra mà nói, vùng chúng tôi phải rút là 300.000 Dân, còn Việt Minh chỉ phải rút
có 30.000 Người!
Vạch đường Giới Tuyến về Địa Lý, Lịch Sử và Logique đều nên lấy
Porte d’Annam (cổng An Nam tức là Hoành Sơn Quan do vua Minh Mạng cho xây năm
1833 trên đèo Ngang) gần Vĩ Tuyến 18 là hợp lý nhất. Vì biết Mendès-France chiều
hôm ấy sẽ về Paris gặp Foster Dulles, Chu Ân Lai nhấn mạnh muốn để cho Hòa Bình
được củng cố phải có sự bảo đảm của các nước tham dự, ám chỉ không muốn Mỹ đứng
ngoài cuộc Đàm Phán, đồng thời khéo léo cho biết Việt Minh có khả năng nhượng bộ!
Đến ngày 19 tháng 7, cuộc Đàm Phán vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng, vấn đề vạch đường Giới Tuyến còn giằng co. Hồi 12 giờ 45 ngày hôm đó, Mendès-France và Eden cùng với các Phụ Tá đến gặp Chu Ân Lai thảo luận một giờ đồng hồ. Khi kết thúc Eden đề nghị Phụ Tá Caccia của ông sẽ gặp Trương Văn Thiên thảo luận thêm vào buổi chiều! Năm giờ bốn mươi lăm phút chiêù ngày 19-7-1954, Thứ Trưởng Trương Văn Thiên đến nơi ở của phái đoàn Anh, hội kiến với Caccia, Phụ Tá Eden. Trương Văn Thiên thông báo nhượng bộ cuối cùng, có thể chấp nhận đường Giới Tuyến khoảng 10 cây số về phía Bắc đường số 9. Thiên nhấn mạnh nếu đối phương không tiếp nhận, chúng tôi chỉ có thể mua vé bay bay về nhà. Caccia nói 10 cây số sợ rằng hẹp quá! Thiên nói có thể bắt chước Triều Tiên, thiết lập Khu Phi Quân Sự 5 cây số ở mỗi bên. Caccia đề nghị là giữa đường số 9 và Vĩ Tuyến 17 có hai con sông, có thể chọn một trong hai con sông đó làm Giới Tuyến (Bến Hải và Sa Lung?). Tiếp đó hai người bàn đến vấn đề Tổng Tuyển Cử…
Chiều tối ngày 20 tháng 7 năm 1954 vì Đại Biểu Campuchia, Đại Biểu Lào và Đại Biểu Việt Nam Ngô Đình Luyện lại có những đề nghị khác, cuộc thương lượng phải kéo dài thêm, mà hạn chót của Mendès-France đối với Quốc Hội Pháp là nửa đêm, nên đồng hồ trong phòng họp phải ngưng lại vào lúc 24 giờ. Mãi đến 3 giờ 20 sáng Đại Biểu Quân Sự hai bên mới có thể tề tựu tại đại sảnh của Liên Hiệp Quốc, Thiếu Tướng Delteil đại diện Quân Đội Viễn Chinh Pháp, Thứ Trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký tên trên HIỆP ĐỊNH ĐÌNH CHIẾN! Sau khi ký xong Tạ Quang Bửu tươi cười tới trước mặt Delteil đề nghị bây giờ chúng ta hãy cùng uống một ly Sâm Banh. Delteil trả lời: Chắc ông biết rõ là tôi không thể nhận lời, nói xong ông ta đi thẳng về phía phái đoàn của mình!!!
Sông Bến Hải đi vào lịch sử từ giờ phút đó!!!
Phạm-Hữu-Trác

.jpg)
.jpg)