Đi Giữa Bầy Thú Dữ - Lâm Chương
Chúng tôi theo xe hàng từ Phnom Penh lên cảng Kampong Som, trễ mất gần hai tiếng đồng hồ. Ngày đã xế, nhưng nắng còn đổ lửa trên đầu. Trời đứng gió, cái nóng hừng hực như hắt ra từ lò sấy. Người dẫn mối cứ thôi thúc nhanh lên, nhanh lên. Đồ đạc cái xách cái mang tất tả đến được điểm hẹn, chúng tôi mệt phờ người. Ba gã chủ chốt người Miên còn kiên nhẫn chờ trên đầu dốc nơi ngã ba đường lên chợ, dưới bóng râm của một tàng cây. Hai gã ngồi trên hai chiếc xe Honda, phì phà điếu thuốc. Gã thứ ba đứng dựa lưng vào gốc cây.
Thấy chúng tôi tới, họ bu lại vồn
vã, cùng lúc những chiếc xe đò cổ lỗ xỉ ì ạch bò lên dốc. Khói xe và hơi nóng
phả vào mặt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp họ. Người dẫn mối giới thiệu chúng tôi
bằng tiếng Miên. Họ cũng tự giới thiệu lại mình. Một gã tên Nu da xám, môi chì,
mắt trắng, nói thạo tiếng Việt. Hai gã kia chỉ nói tiếng Miên, tên khó nhớ. Gã
tóc quăn, có bịt răng vàng. Giữa cái răng vàng cẩn hình trái tim. Gã thứ ba mặt
mày sáng sủa đẹp trai, Tàu lai Miên. Tất cả, trạc tuổi ngoài ba mươi, mặc đồ chải
chuốt lịch sự, tư cách đàng hoàng đáng tin cậy.
Tôi
xin lỗi vì trễ hẹn, và giải thích rằng đường từ thủ đô lên cảng có quá nhiều trạm
kiểm soát làm mất thì giờ.
Gã
tên Nu nói không sao, làm ăn đôi khi trễ nải là chuyện thường. Gã cho biết về
phần gã đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi, còn phần tôi thì sao?
Tôi
nói: “Cũng sẵn sàng.”
Gã
hỏi nhỏ: “Có đem theo đủ số không?”
“Đủ.
Đi liền bây giờ chưa?”
“Dĩ
nhiên.”
Nu
quay qua nói với hai gã kia điều gì đó. Trông họ rất phấn khởi. Tôi cũng mừng.
Dù trễ hẹn, nhưng mọi việc vẫn tiến hành đúng như dự định.
Xe Honda bắt đầu nổ máy kêu lụp bụp như con ngựa cuồng chân nóng nảy lên đường. Tôi chào từ giã người dẫn mối. Anh là người Việt sống lâu năm ở Kampuchia, cũng là người cuối cùng của đường dây tiếp nhận lúc chúng tôi mới đặt chân đến Phnom Penh. Nhiệm vụ của anh là hướng dẫn, và giao chúng tôi cho người chủ chốt. Anh ta bắt tay tôi lần chót, chúc may mắn. Nu cho biết sẽ đi về hướng Tân Hao, bảo vợ con tôi ngồi xe của gã Tàu lai. Con tôi ngồi giữa. Vợ tôi ngồi sau, choàng tay qua đứa con, ôm eo gã Tàu lai. Nu và tôi đi chung với gã răng vàng. Mỗi chiếc Honda chở ba người. Xe chạy. Tôi ngó ngoái về phía sau, thấy người dẫn mối còn giơ tay vẫy vẫy.
Đường
đi Tân Hao rộng thoáng. Mặt đường không tráng nhựa. Nhiều đoạn lởm chởm trơ ra
những sỏi đá, hoặc trũng thành ổ gà. Thế nhưng hai chiếc Honda vẫn phóng như
bay. Không khéo cán phải đá hay vấp ổ gà, quăng cả lũ xuống đường, sứt tay gãy
gọng như chơi. Tôi nói với Nu, bảo gã lái xe chạy cẩn thận hơn. Nu cười rằng đừng
lo, gã đã từng lái xe trên đường này hàng trăm lần rồi, chưa bao giờ xảy ra tai
nạn.
Hai
bên đường là rừng. Có lúc xe chạy ngang qua trảng trống, hoặc đồng cỏ tranh.
Nhìn xa xa về bên trái, thấy bờ biển và mặt nước xanh rờn, bao la ngút mắt. Mùa
này, gió lặng sóng êm. Mặt biển láng như trải lụa. Vùng biển từ đây tới Lem Ngộp,
Nu bảo đảm không có hải tặc. Mọi việc chắc chắn sẽ êm xuôi. Và vào khoảng quá nửa
đêm, sẽ đặt chân lên bờ biển Thái Lan. Nghĩ tới một chân trời mới sẽ mở ra cũng
đủ thấy đời tươi đẹp. Tự nhiên yêu biển lạ lùng.
Xe
đang chạy, Nu bảo: “Sắp tới nơi rồi. Đưa vàng.”
Tôi
hỏi: “Sao không chờ lúc xuống bãi?”
“Tới
nơi là gấp rút chạy ào xuống bãi lên ghe. Nếu lằng nhằng mất thì giờ vì chuyện
này, sẽ bể việc lớn.”
Cũng
có lý. Cái giờ phút quan trọng nhất là lúc bắt đầu lên ghe. Thành hay bại cũng
từ nơi khởi điểm này. Tôi nghĩ, chiếc ghe đã chờ sẵn ở đâu đó. Honda vừa ngừng
là chúng tôi nhào lên ghe liền. Bọn an ninh bờ biển có trở tay cũng muộn. Bởi
người đầu mối đã cho biết, ghe được trang bị máy bốn lốc đầu bạc. Tôi chẳng biết
máy bốn lốc đầu bạc là máy gì, mạnh yếu ra sao? Nhưng người ta đã khoe như thế
thì chắc là phải ngon lành lắm. Dù công an tuần duyên có đuổi theo, cũng đành
ngửi khói mà thôi. Chúng tôi sẽ chơi một cú thật ngoạn mục. Hồi hộp bất ngờ giống
như phim trinh thám. Còn chuyện đưa vàng, trước sau gì cũng đưa. Thôi thì đưa
ngay bây giờ, đổi lấy một chuyến đi định mệnh. Tôi luồn tay vào cái túi nhỏ may
dính dưới đũng quần lót, móc hai thỏi vàng, đưa cho Nu.
Gã
đặt vàng trong lòng bàn tay nâng thử để ước lượng sức nặng, rồi nhét vội vô
túi.
“Chưa
đủ.” Gã nói khi xe đang chạy.
Tôi
nói: “Còn hai cây nữa, vợ tôi cất.”
“Bảo
vợ anh đưa ngay bây giờ.”
Tôi
gật đầu.
Nu
nói tiếng Miên với gã răng vàng. Gã này phóng xe lên song song với gã Tàu
lai.
Tôi
bảo vợ: “Anh đưa vàng rồi. Em đưa luôn cho họ đi.”
Vợ
nói: “Chờ xuống bãi.”
“Họ
muốn ngay bây giờ.”
“Ngồi
trên xe, không lấy ra được.”
Tôi
biết lý do vợ tôi không thể lấy vàng lúc này.
Tôi
nói với Nu: “Anh nghe chưa?”
“Tôi
nghe. Xuống bãi đưa.”
Ba
gã lại nói líu lo. Xe vẫn phóng như bay, tới một khoảng rừng rậm, họ dừng lại đột
ngột. Nu nắm tay vợ con tôi lôi bừa, khom người chạy lúp xúp men theo rặng phi
lao, vào rừng. Có lẽ gã sợ những chiếc xe đò ngang qua nhìn thấy. Tôi ôm cái
túi xách, hấp tấp chạy theo. Hai chiếc Honda bỏ chúng tôi lại đó, vọt thẳng về
hướng Tân Hao. Chúng tôi luồn lách qua những lùm bụi gai góc, đến một con suối
cạn. Mùa nắng, lòng suối khô phơi bày cát đá.
Vừa
ngồi xuống, Nu bảo: “Núp ở đây, chờ ghe đến, mình sẽ ra bãi.”
Tôi
hồi hộp, tinh thần căng thẳng đến cùng tột. Nếu bị lính Miên bắt quả tang đang
núp ló để chuẩn bị lên ghe thì đời khốn nạn ngay. Vợ con tôi ngồi nép vào nhau,
thở hổn hển, mặt xanh như tàu lá.
Tôi
hỏi: “Anh có đi theo ghe với chúng tôi không?”
Nu
nói: “Tôi đưa anh tới Thái Lan.”
Rồi
gã nhìn vợ tôi, xòe tay ra: “Đưa vàng cho tôi.”
Cách
nói chuyện của Nu thẳng thừng, cử chỉ thô lỗ. Tôi nghĩ gã là người Miên quen
tính bộc trực nên cũng không lấy đó làm khó chịu. Chỉ cảm thấy có điều gì bất
thường, khi vợ ngó tôi, ngầm hỏi ý kiến. Xuống xe, chúng tôi chạy ào, nhưng
không phải ào lên ghe như Nu diễn tả, mà ào vào rừng. Ghe đâu không thấy. Thế
thì có gì gấp rút? Kế hoạch thay đổi chăng? Dẫu sao, đã tới mức này rồi, một liều
ba bảy cũng liều. Tôi nhìn vợ, gật đầu.
Vợ tôi đứng dậy, đi khuất vào bụi rậm. Tôi biết vợ đang móc vàng từ trong cửa mình.
Trong
chuyến mang vàng lên Kampuchia. Vợ giao tôi cất giữ năm khâu vàng, còn bao
nhiêu vợ giữ. Lúc qua biên giới Việt- Miên, công an biên phòng xét hỏi. Tôi sợ
quá, nhét ba chiếc khâu vô hậu môn, nghe nhói cấn khó chịu. Còn lại hai khâu
không biết giấu đút nơi nào, tôi cho vô miệng nuốt luôn, trước khi họ mò xét khắp
người. Tôi qua khỏi, chỉ lo vợ bị rắc rối. Nhưng vợ tôi cũng qua luôn. Sau đó,
tôi hỏi em giấu ở đâu mà tài thế? Vợ mỉm cười, không nói.
Khi đến Phnom Penh, người dẫn mối gởi chúng tôi tạm trú nơi nhà người Miên. Tôi bắt đầu móc ba chiếc khâu trong hậu môn, nhưng thọt ngón tay vào không đụng. Không biết tại sao nó chạy tuốt vô sâu? Tôi hoảng. Vợ bảo, nó nằm trong phần ruột già, không đáng ngại. Khi đi cầu, phân sẽ tống nó ra trước.
Đúng
như vợ dự đoán. Hôm sau tôi đi cầu. Thỏi phân như cục đất sét khô, đẩy ba chiếc
khâu rớt xuống cái bô nhựa. Tôi dùng que bới cục phân, không tìm được hai chiếc
khâu đã nuốt. Tôi tính đem đi đổ. Vợ giựt cái bô lại, bịt mũi rà tìm lần nữa. Vẫn
không thấy.
Ngày
hôm sau, tôi không đi cầu. Bao nhiêu lo lắng dồn dập làm bộ tiêu hóa nổi chứng
rối loạn bất thường. Vả lại mấy ngày không ăn rau, tôi bị táo bón. Vợ nóng ruột,
mua cho tôi một liều thuốc xổ. Tôi uống thuốc với nhiều nước. Và nửa khuya đêm
đó, như cái nút chai bung ra, tôi tháo dạ ào ạt. Quậy trong cái chất lợn cợn dậy
mùi. May quá, bắt được một khâu. Còn một khâu đi đàng nào?
Thêm ngày hôm sau nữa, tôi lại nín ỉa. Cứ vài tiếng đồng hồ, vợ bảo xách cái bô vô buồng ngồi rặn, quyết tìm cho ra chiếc khâu.
Tôi
nói: “Bụng trống không, rặn thế nào được?”
“Mất
chiếc khâu hai chỉ là chết em.” Vợ nhăn nhó.
“Nó
không ra, anh sẽ bị nguy. Em không lo cho tính mạng anh, chỉ tiếc của.”
“Nó
còn trong ấy, không đáng ngại. Sợ ra rồi mà mình không bắt gặp mới chết chứ?”
Đến ngày chúng tôi lên đường đi Kongpong Xom, chiếc khâu vàng vẫn còn lẩn trốn đâu đó trong cái dạ dày, hoặc khúc ruột ngoằn ngoèo của tôi.
Trở
về với hiện tại. Khi vợ tôi từ bụi rậm đi ra, trao cho tôi một nắm khâu vàng.
Những chiếc khâu được buộc thành hai chùm bằng sợi chỉ còn ươn ướt.
Tôi
đưa cho Nu: “Thêm phần này là đủ số.”
Nu
cầm vàng, xòe ra nhìn, suy nghĩ. Tôi đâm lo. Tổng số vàng, vẫn còn thiếu một chiếc
khâu hai chỉ. Nếu Nu phát giác chưa đủ số, làm khó trong giờ phút này thì thật
rắc rối. Nhưng gã chẳng nói gì, đưa lên ngửi thử.
Tôi
hỏi: “Anh thử vàng cái kiểu gì lạ vậy?”
Gã
không trả lời, ra dấu bảo chúng tôi ngồi yên đấy, rồi bất ngờ quay lưng lủi khuất
vào rừng rậm, nhanh như con chồn.
Tôi
thảng thốt: “Anh đi đâu?”
Không
có tiếng trả lời.
Tôi
phóng theo: “Anh ơi! Anh ơi!”
Tiếng
kêu không ai hồi đáp.
Tôi
lại gào bằng tiếng Miên: “Bòn ơi! Bòn ơi!”
“Bòn” có nghĩa là “anh”, tôi học được từ lúc mới đặt chân lên đất Kampuchia. Dù đã gào hai tiếng “bòn ơi” thống thiết, nhưng Nu vẫn mất hút. Tìm loanh quanh một đỗi không thấy Nu, tôi tuyệt vọng trở lại con suối, ngồi lau mồ hôi, thở dốc. Vợ con tôi co rúm người, sợ hãi. Tôi chợt nghĩ đến những trường hợp đã từng xảy ra. Nhiều người lên Kampuchia vượt biên, bị lừa lấy hết vàng, rồi bị giết luôn để trừ hậu họa.
Tôi
bảo vợ: “Em dẫn con Khuê tìm chỗ kín đáo ẩn núp. Anh ở lại đây chờ xem động tịnh
ra sao.”.
Khi
nói điều đó tôi đã có chủ đích. Nếu chúng trở lại đưa đi thì coi như tôi hiểu lầm
thiện ý của chúng. Nếu chúng manh tâm sát hại, tôi sẵn sàng một mất một còn với
chúng.
Vợ
tôi dẫn con tìm chỗ núp.
Tôi
chạy theo dặn dò: “Dù có thế nào, em cũng đừng ra mặt.”
Ngồi
một mình nơi lòng suối, tôi tự hỏi trong tay không một tấc sắt, lấy gì chống đỡ
khi bộ ba của chúng trở lại? Và nếu muốn giết tôi, chúng phải tay dao tay búa sẵn
sàng. Tôi khó mà thoát thân, nói chi đến chuyện dằn co ấu đả? Suy cho cùng, tôi
quyết định bỏ của chạy lấy người.
Tôi
đến chỗ vợ con đang trốn: “Phải rời khỏi nơi đây ngay.”
Vợ
nói: “Chờ một chút. Có thể họ trở lại đưa mình đi.”
“Họ
đưa đi mua muối.” Tôi gắt.
Vợ
xót của: “Còn vàng trao cho họ thì sao?”
“Bỏ
vàng, giữ lại cái mạng cùi.”
“Ráng
chờ, anh ơi. Còn nước còn tát.”
“Nước
nôi gì nữa mà tát? Hết vàng, nó sẽ lấy máu. Chạy ngay bây giờ, may ra còn kịp.”
Tôi
nắm tay đứa con gái, băng ra đường. Ngoài đường trống trải. Thỉnh thoảng có xe
qua lại, bọn sát nhân không dám làm ẩu. Trong khi chờ xe ngược về Kongpong Xom,
vợ tôi ngồi bẹp xuống lề đường, thảm não khóc không ra tiếng. Chưa bao giờ tôi
thấy cái mặt của vợ đau khổ như lúc này. Bao nhiêu tiền của chắt bóp dành dụm
trong mười năm trời, chờ tôi ở tù về để cùng nhau vượt biên, bỗng chốc hóa
thành trắng tay. Chuyện đời như sân khấu. Tự nhiên tôi bật cười khan. Chẳng biết
tại sao tôi có thể cười được trong tình huống bi đát này? Ai đó đã nói, cười là
tiếng khóc khô không lệ. Có phải tôi cười như thế không? Đời thật chó đẻ! Mình
lao đao khốn khó, chạy trốn bọn ác ôn, lại gặp thằng thất đức.
Sau
tiếng cười, tôi ngửa mặt lên trời, uất khí xung thiên: “Phật và Chúa đi đâu cả
rồi? Sao không vặn họng mấy thằng quỷ sứ?“
Tôi
muốn tiếng la vang rền cả thinh không như giọng gầm sư tử hống của Tạ Tốn.
Nhưng sao tôi nghe tiếng mình nhỏ như tiếng con dế rè gáy trong bờ cỏ thấp.
Vợ
tôi quẹt nước mắt, phẫn nộ: “Giờ phút này mà anh còn cười. Tôi hận anh!”
Mất
của, vợ bắt đầu nổi điên, giở giọng ngang bướng xưng “tôi” với chồng.
Tôi
dịu nhẹ: “Em không hiểu anh.”
“Tôi
còn lạ gì anh mà không hiểu? Ai ở tù cũng đều rên xiết, nhưng anh ở tù với bộ mặt
tỉnh bơ. Chuyện gì đối với anh cũng là trò đùa. Tôi mất vàng, tôi xót. Nhưng
anh lại cười.”
“Em
muốn anh làm sao?”
Vợ
rít giữa hai hàm răng sắc lạnh: “Chém nó!”
“Anh
không có dao. Anh sẽ cắn nó.”
Tôi
vừa dứt câu, vợ tru lên đau đớn như sói tru trăng ngoài đại mạc.
Chúng
tôi trở lại Kongpong Xom, bằng Honda ôm. Xe chở bốn người. Con Khuê ngồi trên
bình xăng phía trước, trong lòng gã người Miên lái xe. Vợ chồng tôi ngồi phía
sau. Trên đường đi, gã nói và chỉ trỏ vô rừng. Tôi không hiểu. Gã làm dấu bằng
cách đưa bàn tay cứa ngang cổ. Ý muốn nói nhiều người đã bị giết dọc theo cánh
rừng này chăng?
Chúng
tôi lên tới chợ Kongpong Xom, lúc mặt trời sắp lặn. Từ khi rời Kongpong Xom cho
đến lúc trở lại, chỉ cách bốn tiếng đồng hồ. Chúng tôi, những người đi tìm
tương lai bỗng hóa ra kẻ đầu đường xó chợ. Tôi lang thang, làm quen với một cụ
già người Việt hành nghề mài dao cho các thớt thịt. Tôi bịa ra chuyện đi tìm
người bà con nhưng địa chỉ không rõ ràng nên bị lạc. Đồng thời tôi xin cụ giúp
chỗ tạm trú qua đêm. Đêm đó, cụ dẫn chúng tôi về chỗ ngủ của cụ. Đây là chái
hiên lề đường, bên hông một tiệm sửa Honda và xe đạp. Dọc theo các chái hiên
khác, có những người hành khất nằm ngủ. Cụ nhường chiếc sạp cho vợ con tôi. Sạp
kê sát đất bằng những mảnh gỗ vụn ghép lại. Cụ và tôi trải manh chiếu trên nền
đất. Hơi đất lành lạnh dưới lưng, mùi dầu nhớt bốc thoang thoảng. Tôi nằm gối đầu
lên bọc quần áo.
Cụ
nói: “Đừng sợ mất đồ. Cùng đinh ăn mày cũng có nghĩa khí của cùng đinh ăn mày.”
“Tôi
đã mất tất cả rồi. Chẳng còn gì để mất thêm.”
Tôi
nói trong niềm cay đắng. Không ngờ có một ngày, mình rơi vào nỗi tận cùng bệ rạc
thế này.
Nửa
khuya, cụ già ngồi dậy quấn thuốc hút. Anh đèn đường vàng vọt soi không rõ.
Khuôn mặt cụ nhòe bóng tối. Hình ảnh âm u, in lên nền phong héo úa như một tấm
tranh đời bi thiết. Mọi vật quanh tôi đều im lìm sâu lắng. Chỉ còn tiếng muỗi
vo ve. Đầu thuốc cháy, từng chặp lóe đỏ lên là điểm sáng duy nhất còn linh động.
Vợ
con tôi ngủ mê mệt sau một ngày vất vả. Tôi trằn trọc đau xót mãi khôn nguôi,
ngồi lên xin cụ điếu thuốc. Thuốc gắt quá, tôi ôm ngực ho sặc sụa. Nước mắt
tuôn trào ràn rụa. Cụ già vỗ nhẹ vào lưng tôi như đè xuống một cơn ho, như an ủi
một niềm thống khổ. Tôi quay ra ngoài hỉ mũi rẹt rẹt, và chùi nước mắt.
Cụ
nói: “Dẫn vợ con đi vượt biên. Coi chừng mất mạng đấy.”
Dù
tôi không bày tỏ, nhưng cụ đã biết cả rồi.
Cụ
tiếp: ”Lần sau đừng dại dột tin lời người khác. Hãy về Việt Nam đi.”
Tôi
nín thinh, nhìn qua dãy nhà tối ám bên kia đường. Còn có một chỗ nào để đi về
không? Sau thời gian vắng mặt không lý do, tôi về là tự đem thân nạp mạng cho
chính quyền địa phương.
“Cụ
ơi, tôi không thể về. Tôi hết đường tới, chẳng còn đường lui.”
“Phải
có cách giải quyết chứ?”
“Tôi
ở lại Kampuchia, tìm việc làm.”
“Làm
gì? Cái tướng trói gà của cậu khuân vác không nổi. Tính kế lừa thiên hạ ư? Tôi
cho cậu biết, ở đây con người như lang sói. Cậu chưa kịp lừa ai, thiên hạ đã lừa
cậu mất rồi.”
“Tôi
muốn chẻ đầu bọn lừa đảo.” Khi nói, tôi nhìn những con dao chặt thịt to bản, để
kế bên bộ đồ nghề mài dao của cụ.
Cụ ngó vào mặt tôi: “Dám không?”
Lời
cụ như cái thước đo xem tính khí liều lĩnh của tôi tới cỡ nào. Cái mạng của bọn
kia, đáng triệt tiêu để trừ bớt ung nhọt cho xã hội. Còn cái thân tôi sau đó, nếu
không chết cũng chịu một hậu quả vô cùng khốc liệt. Nó có xứng đáng để tôi đánh
đổi một hậu quả như thế hay không?
Cuối
cùng, tôi lắc đầu nói với giọng yếu xìu: “Tôi hèn.”
Cụ
quấn cho tôi thêm điếu thuốc: “Hàn Tín chịu luồn trôn giữa chợ, vì không thể lấy
cái mạng đáng giá muôn người, đổi mạng của tên vô lại.”
“Tôi
không thể so với Hàn Tín. Tôi hèn, vì tôi quá thương tôi.”
“Còn
biết thương mình là còn ham sống. Từ từ làm lại cuộc đời.”
Cách
lý luận của cụ già, tôi thấy lạ. Với một cái đầu như thế, sao lại chịu sống hẩm
hiu như người hành khất?
Tôi
nói: “Tôi không hiểu cụ.”
Cụ
bảo: “Con người sở dĩ còn gần gũi được nhau là vì không hiểu nhau đấy.”
“Cụ
nói chi lạ vậy?”
“Không
phải sao? Mọi người đến với nhau bằng cái mặt nạ. Ngày nào mặt nạ rớt xuống,
nhìn rõ mặt thật của nhau, ngày ấy hai bên trở thành kẻ thù.”
“Đúng
vậy, cụ ơi! Tôi có thêm vài kẻ thù, nhưng mình không làm gì được nó, mới đau chứ.”
“Nếu
tất cả mối thù đều có thể thanh toán thì lúc nào cũng thấy mọi người chém giết
nhau.”
“Cụ
là ai mà thấu rõ tình đời đến thế?” Tôi hỏi.
Cụ
chỉ bộ đồ nghề: “Cậu thấy đó. Tôi là lão mài dao.”
“Phía
sau tấm bình phong ấy là gì?”
“Cậu
nghĩ tôi làm khổ nhục kế? Hahaha ...”
Tiếng
cười òa vỡ giữa đêm khuya. Vợ tôi thức giấc trở mình. Tôi thật không hiểu tiếng
cười của cụ. Óc tôi đông đặc mù mờ không còn phân định điều gì. Tiếng cười như
sảng khoái, lại nhuốm một nỗi gì u uất bi thương.
Cụ
tiếp: “Trước ngày mất Miền Nam, nếu cậu biết hỏi một câu như thế thì những tên
ăn mày, những thằng đi mua ve chai đồ cũ đâu có mặt, để sau này thay hình đổi dạng
ra làm ủy viên, chủ tịch ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.”
Tôi
ngạc nhiên, một cụ già mài dao mà có được tư tưởng thế sao? Tôi chợt nhớ chuyện
Kinh Kha khi đến nước Yên làm bạn với người bán thịt chó và người gảy đàn trúc
tên Cao Tiệm Ly, ngày ngày cùng nhau uống rượu. Lúc rượu say, Cao Tiệm Ly gảy
đàn, Kinh Kha theo đàn mà hát, và cuối cùng ôm nhau khóc giữa chợ nước Yên như
chỗ không người. Họ mượn rượu cho vơi bớt nỗi niềm u uất không thể tâm sự cùng
ai. Còn cụ già mài dao, lòng cụ ra sao mà cũng ưu tư thế sự?
Sáng
ngày, cụ đưa chúng tôi ra bến xe về Phnom Penh. Tôi mua cho mỗi người một ổ
bánh mì thịt.
Cụ
nhất định không nhận: “Hãy lo cho vợ con đi. Coi bộ tình trạng sắp tới của cậu
bi đát lắm đấy.”
“Chuyện
gì rồi cũng sẽ qua.” Tôi nói một câu mà lòng không chủ đích.
“Cậu
còn có vợ con, nghĩa là chưa mất hết đâu. Ở xứ lạ quê người, mang bộ mặt ngơ
ngáo như cậu, dễ bị chúng lấy mạng, và cướp vợ con đưa vào nhà thổ.”
Giờ
phút chia tay, tôi còn nhiều bịn rịn. Nhưng cụ tỏ ra cương nghị dứt khoát, khác
với vẻ người đờ đẫn mà tôi gặp chiều hôm qua.
“Đi
đi. Cứ như đàn bà con gái thế này thì còn làm ăn gì được?”
Tôi
lên xe, lòng vẫn tự hỏi cụ già mài dao là ai? Là ai?
Tôi
trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối.
Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng
tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không
xong.
Vợ
nói: “Mình có thể buôn bán.”
Tôi
hỏi: “Vốn đâu?”
“Em
còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”
“Anh
làm gì có?”
Vợ
chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”
“Tính
mổ bụng anh hả?”
“Gì
mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”
“Nếu
nó không ra?”
“Thế
thì nguy cho anh.”
“Thôi,
chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.
Vợ
đề nghị: “Thuê giường ở đây.”
“Thuê
giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”
Tôi
dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt
làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tấp nập kẻ lại người qua. Đặc
biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt
ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới
làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.
Thấy
tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”
Tôi
nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết
không.
Chị
bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm.
Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”
Tôi
lắc đầu, cười gượng.
Thêm
vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với
cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp
cho một chỗ ngủ qua đêm.
Một
chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”
Tôi
chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”
“Gì
mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”
Vợ
con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.
“Đi
tìm việc hả?”
“Không.
Tìm người bà con.”
“Đừng
có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”
Chị
khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể
bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”
Vợ
tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”
“Ở
đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”
“Không.
Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”
“Đàn
bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ.
Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”
Vợ
tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”
Chị
trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở
đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”
Vợ
tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao
nghe như muối xát gừng cay.
Không
muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn
cho nó.”
Vợ
con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay,
được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải
cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt.
Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn
mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.
Tôi
xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?
Trong
khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ
hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán
chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết
họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị,
so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng
này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những
lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng
dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông
khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ
chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.
Tôi
hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”
“Giường
làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.
Tôi
lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc
khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe
hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào
nhau, kêu lách chách.
Sau
màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới
nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng
đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ
hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người
đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc
khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng
ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay
kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm
màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau
đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay
nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt
lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt
đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông.
Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.
Bất
ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”
Tôi
lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ
không để vợ làm cái nghề dị hợm này!
Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.
Các
chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp
coi thêm màn giác hơi.
Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.
Chiều
tàn. Người trong khu chợ Ô Hòa Xây thưa dần. Các chị cuốn chiếu, thu dọn đồ nghề
và mua cơm phần gói trong lá sen cho bữa ăn tối. Chúng tôi theo các chị về bằng
xe Lambretta ba bánh. Ngồi trên xe, tôi nhắm mắt lại. Có cảm tưởng như mình
đang lao vào cõi mông lung vô định với nhiều rủi ro bất trắc.
Các
chị thuê phòng trên tầng lầu thứ tư của một chung cư. Chúng tôi lên lầu cùng
lúc những ông chồng của các chị về tới. Mỗi ông xách theo một thùng nước, tay
kia xách cục nước đá treo tòn ten bằng sợi dây. Nước đá được bỏ vào thau nước
lã, dùng làm nước giải khát. Còn thùng nước, dành cho các chị tắm rửa.
Chồng của các chị làm phu khuân vác nơi chợ búa, hoặc các bến xe hàng. Tất cả, họ thuê chung một căn phòng rất rộng. Phòng được chia ra từng phần làm chỗ ngủ, diện tích vừa tấm chiếu, che bằng những tấm màn vải. Họ sống tạm bợ. Kể cả tình nghĩa vợ chồng cũng là sự gán ghép tạm bợ giữa đường. Bởi những người đàn bà đàn ông này, đều đã có gia đình ở quê nhà. Họ trôi giạt sang xứ người kiếm sống và ráp lại từng cặp, chẳng qua vì vấn đề âm dương phối hợp mà thôi.
Chủ nhà là một bà già người Miên, ít nói. Đôi mắt cú vọ nhìn người lom lom, thể hiện cái thói gian tham, xảo quyệt. Dù chúng tôi nằm dưới sàn gạch, bà cũng bắt chẹt phải trả tiền một đêm. Nghe nói vào thời Pol Pot cầm quyền, những người dân thành phố, một số chạy trốn, một số khác bị giết, hoặc bị lùa đi các công nông trường. Họ đi không bao giờ về nữa. Dân cùng đinh khố rách khắp nơi tràn vào thành phố, chiếm lấy nhà cửa. Từ đó, thành sở hữu chủ luôn.
Buổi
tối. Tôi xuống đường, tắm nơi vòi nước máy và xách lên một thùng cho vợ con.
Vòi nước công cộng, một tay anh chị mặt rô tự đứng ra quản lý, phân phối và thu
tiền bỏ túi. Ai dám phản đối? Thời buổi nhiễu nhương rối loạn. Luật pháp như
cái cân hư. Xã hội xô bồ. Lưu manh ngự trị. Trời Phật không có chỗ đứng trong
lòng người. Lòng dạ người nào cũng thủ sẵn một con dao. Họ vừa bảo vệ bản thân,
vừa rình cơ hội đâm mũi nhọn vào người khác.
“Ở
đây, thứ gì cũng trả tiền. Biết thế, ở lại cái nhà trọ thuê giường còn khỏe
hơn.” Vợ tôi cằn nhằn.
Tôi
nói: “Ai ngờ được những gì sẽ tới? Mình giống như nàng Kiều của Nguyễn Du. Cũng
liều nhắm mắt đưa chân. Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”
Vợ
nổi cáu: “Chết lên chết xuống không lo, còn thơ phú nữa? Dẹp ông Nguyễn Du đi.
Hãy lo moi vàng ra mà sống.”
“Anh
cũng muốn lôi nó ra, nhưng nó cứ nằm lì trong bụng. Biết làm sao?”
“Lúc
nào anh cũng tâm niệm hai tiếng “đi cầu” thì nó ra thôi.”
“Đi
cầu mà cũng tâm niệm?”
“Phải.
Anh cứ tưởng tượng mình đang chột dạ mót đi cầu, cần tống khứ tất cả những gì
trong bụng ra ngoài. Đến một lúc, anh sẽ tuôn ra hết ngay. Người ta gọi đó là tự
kỷ ám thị”
“Khổ
quá! Em điên rồi, nên nghĩ đủ điều như thế.”
“Không
ám thị được, em sẽ cho anh một liều thuốc xổ.”
"Em
ơi, anh đang mệt mỏi. Uống thuốc xổ hoài, mất sức làm sao chịu nổi?” Tôi nói
như rên.
Vợ
cương quyết: “Cũng phải chịu. Nếu đêm nay, nó không ra. Ngày mai, em mua thuốc
xổ. Em cần vàng để xoay trở. Chỉ có vàng mới cứu nguy được trong lúc này.”
Tôi
vào nhà cầu, lót tấm giấy bìa trên sàn, ngồi rặn và tự kỷ ám thị. Vàng ơi! Vàng
ơi! Tôi gọi vàng và ám thị. Tâm trí lan man, nghĩ hận bọn thằng Nu. Vì mấy cây
vàng, mà chúng nhẫn tâm xô vợ chồng tôi vào ngõ cụt.
Không biết oan gia nghiệp báo nợ nần nhau từ kiếp nào mà tai họa bám theo tôi như bóng với hình? Tôi được phóng sinh... Tôi nói phóng sinh thay vì phóng thích, mới bày tỏ hết ý nghĩa của những con người đang quằn quại trong cảnh âm ty. Vâng, tôi được phóng sinh ra khỏi trại tù, cũng chưa thoát nạn. Về quê, lại gặp chính quyền địa phương hà khắc. Họ chèn ép, bắt tôi đi làm thủy lợi liên miên. Gặp hồi mạt vận, vùng vẫy cách nào cũng không thoát. Đành cắn răng chịu đựng. Nín thở qua sông. Qua chưa hết con sông, lại nghe họ sắp đưa tôi đi gỡ mìn trên biên giới. Đã có nhiều người bỏ mạng vì công tác này rồi. Tôi biết họ muốn dồn tôi vào cửa tử. Không lẽ cúi đầu chờ chết? Tôi dẫn vợ con trốn ra miền Trung, tìm đường vượt biên. Từ đó, thiên la địa võng trùng trùng bủa vây. Chạy ngã nào cũng chạm mặt bất lương.
Đầu tiên, tôi quen một bà mệnh phụ tại Nha Trang. Bà tự giới thiệu, trong quá khứ bà là giáo sư của một trường nữ trung học ở Huế, và là vợ của một viên thiếu tá chế độ cũ, tù cải tạo chưa về. Tôi đặt niềm tin nơi người đàn bà mô phạm này. Bà nói, bà đã từng tổ chức đưa người vượt biên trót lọt. Tôi là người đồng cảnh ngộ với chồng bà, nên được đặc biệt ưu tiên, tận tình chiếu cố. Điều kiện vượt biên, không đưa vàng trước. Chỉ khi nào đặt chân lên ghe lớn, mới trao thư và mật mã để thân nhân căn cứ vào đó mà đưa vàng. Thời buổi củi quế gạo châu, con người lọc lừa phản trắc, khó tin tuyệt đối nơi một người nào. Điều kiện như thế, thật là sòng phẳng hợp lý. Để củng cố thêm niềm tin cho những kẻ sắp vượt trùng dương tìm đất mới, bà gọi bọn đàn em đến nhà, thắp đèn đốt nhang, cùng nhau thề nguyền trước bàn Phật. Phật đã chứng kiến. Con nào thằng nào dám lật lọng, trời tru đất diệt nó!
Một đêm tối trời, tại Hòn Khói. Tôi dẫn vợ con lên chiếc ghe nhỏ taxi, ra đảo hoang nằm chờ ghe lớn. Trên đảo đã có sẵn hơn ba chục người chờ đợi. Giữa trời nước bao la, ban đêm gió lạnh thổi ù ù. Mọi người nằm rúc vào nhau tìm hơi ấm. Ban ngày, trời nắng như thiêu đốt. Ngồi núp theo những hốc đá, hả họng mà đớp khí trời. Đã thế, còn thêm cái nạn bị muỗi và bù mắt đốt. Da thịt chân tay nổi mận sần sùi ngứa ngáy. Đám con nít không biết tại sao cha mẹ đem chúng ra chốn này để sấy khô, ướp lạnh. Chúng khóc la ỏm tỏi, đòi về. Khóc khan cổ họng, rồi cũng phải nín. Dưới cái nóng buổi trưa, chúng nằm thoi thóp, tội nghiệp.
Trong
các hốc đá, nhóm tổ chức còn cẩn thận trữ sẵn gạo, muối, đường, cà phê. Nhiều
người khen họ chuẩn bị chu đáo. Nhưng coi kỹ lại, không tìm đâu ra chiếc nồi để
nấu. Đó là những vật dùng làm cảnh tạo niềm tin. Vật làm cảnh để đấy, thì muôn
đời vẫn còn nguyên đấy thôi. Không ai dùng được.
Mỗi
ngày, có chiếc ghe nhỏ đem cơm nước từ đất liền ra đảo. Mọi người nôn nóng nhao
nhao hỏi thăm chừng nào ghe lớn đưa đi? Được trả lời rằng, chưa thuận tiện. Phải
chờ. Chờ cho thời gian chín muồi đau khổ.
Một
hôm, người đem cơm chỉ một chiếc thuyền xa xa, báo tin mừng: “ Con cá lớn sắp tới
rồi. Bà con viết thư mau lên.”
Trong
nỗi mừng vui quá đỗi, mọi người hấp tấp viết thư và ghi rõ mật mã cho thân
nhân. Người đem cơm cũng sốt ruột không kém, anh ta thúc hối từng người, nhanh
chóng thu gom tất cả thư từ. Sau khi kiểm đủ số thư, anh cho biết cần chạy ra
liên lạc với con cá lớn. Mọi người vất bỏ những thứ lỉnh kỉnh không cần thiết,
thu gọn đồ đạc, nhấp nhỏm ngồi chờ. Bao nhiêu mệt nhọc trong những ngày qua,
phút chốc đều tan theo sóng biển. Con cá lớn sẽ đưa ta về miền đất hứa. Ôi, ba
tiếng “con cá lớn” thân yêu biết dường nào! Ta mong đợi ngươi từ lâu lắm.
Nhưng, sao lạ vậy? Hình ảnh con cá lớn càng lúc càng xa mù, mất hút giữa trùng
dương xanh ngắt. Còn chiếc ghe nhỏ hướng mũi về đất liền, cũng biệt tăm luôn. Mọi
người chưng hửng nhìn nhau, chưa tìm ra câu giải đáp. Lúc sau, chừng như thấm
ý, có bà bật khóc. Rồi như một cái dịch truyền nhiễm, các bà khóc theo. Các ông
văng tục chửi thề loạn xà ngầu. Tiếng khóc, tiếng chửi theo gió biển bay đi,
không để lại một âm vọng nào.
Trưa hôm sau. Một người đàn ông khác, lái chiếc ghe nhỏ đem cơm nước ra đảo. Mọi người bu lại như muốn phanh thây xẻ thịt anh ta.
Anh
kêu gọi: “Xin bà con bình tĩnh..., bình tĩnh...” Chờ cho mọi người bớt cơn thịnh
nộ, anh giải thích. “Rất lấy làm tiếc, ghe lớn bị động, không thể rời bến như dự
định.”
Có
người hỏi: “Vậy, chừng nào rời bến được?”
“Hiện
thời, công an đang theo dõi, chưa dám nhúc nhích. Không thể nói chắc thời
gian.”
“Chúng
tôi ở đây, anh giải quyết thế nào?”
“Bà
con chịu khó nằm chờ. Ai không muốn chờ, có thể theo ghe nhỏ trở về. Khi nào có
chuyến, chúng tôi sẽ thông báo ra đi lần nữa.”
Nghĩ
đến những ngày chịu đựng vừa qua, mọi người ngán ngẩm. Tất cả đều muốn đi về,
chờ đợi chuyến sau.
Tôi
về đến nhà người em, vào lúc nửa đêm.
Em
tôi ngạc nhiên: “Ủa? Sao anh trở lại?”
Tôi
mệt mỏi: “Có đi đâu mà trở lại?”
“Tối
hôm qua, bà Thiếu Tá đến trao thư, và thông báo anh đã lên ghe bình yên. Em coi
thư, đúng là mật mã và chữ viết của anh. Em trao vàng cho bà rồi.”
Tôi
sực tỉnh, giậm chân kêu trời không thấu. Biết gặp phải lưu manh cướp cạn, năm lần
bảy lượt tôi đến nhà bà Thiếu tT, đòi lại sáu cây vàng. Nhưng bà luôn luôn đi vắng.
Một
hôm, tình cờ gặp bà trên phố. Tôi lớn tiếng đòi bà phải trả lại vàng.
Bà
bảo: “Vàng đã chia năm xẻ bảy rồi. Không thể gom lại được. Ông chờ gọi đi chuyến
sau. Tôi khuyên ông đừng nên làm rùm beng. Công an biết được, nó còng đầu cả
lũ.”
Tôi
về, thuật cho vợ nghe trường hợp gặp bà Thiếu Tá.
Vợ
nóng mặt: “Tố cáo bả và đồng bọn.”
Tôi
giải thích: “Tố cáo bả và đồng bọn lường gạt, thuộc tội hình sự, chỉ bị tù vài
tháng. Còn mình vượt biên, bị khép tội phản quốc, thuộc tội chính trị. Tội
chính trị ở tù nhẹ lắm cũng vài năm.”
Vợ
uất hận, gầm lên: “Tức chết... đi!”
Tôi
nói: “Tức cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chẳng lẽ mất vàng, còn lao đầu vô
tù?”
Chúng
tôi ở lại Nha Trang, nơi nhà người em trong sự lo âu hồi hộp.
Em
tôi trấn an: “Anh yên tâm. Láng giềng của em đều có gốc gác thuộc thành phần chế
độ cũ. Toàn là phe ta cả.”
Tôi
bị bà Thiếu tá “phe ta”, nữ giáo sư trường Đồng Khánh chơi cho một vố đau như
bò đá. Bây giờ, nghe nói “phe ta”, tự nhiên tôi có ác cảm. Thiên hạ đua nhau bợ
đít “cách mạng”, theo thời xu thế. Gió thổi cỏ rạp. Tiểu nhân cúi đầu. Loại người
mang tâm địa hèn mạt sẵn sàng bán đứng “phe ta”, đổi lấy một chút quyền lợi nhỏ
nhoi nào đó. Những năm trong tù, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. “Phe ta” lẻ
tẻ vài anh trở mặt. Họ như những con dòi cựa quậy ngoi lên trong nỗi khốn cùng
của anh em. Nịnh nọt dựa hơi “cách mạng”. Hành hạ chà đạp “phe ta” không thương
tiếc. Họ lấy sự vùi dập người khác làm sự sống còn của mình. Những khuôn mặt bẩn
thỉu lem luốc đó, ra khỏi tù, tôi còn gặp lại họ ngoài đời. Họ giỏi luồn lách,
và mau chóng thích nghi với chế độ mới. Làm người, nhưng họ mang bản năng của
loài tắc kè, đổi màu da theo cảnh sắc.
Những
người láng giềng của em tôi lịch sự và tử tế. Họ tỏ ra thân thiện với tôi như
đã cảm thông nhau từ lâu lắm. Tôi nghi ngờ, nên cố giấu thân phận mình. Nhưng
con mắt của “phe ta” rất tinh đời. Họ biết tất cả.
Một
buổi tối. Bất ngờ công an ập vào nhà, lục soát và xét giấy tờ của tôi.
Công
an hỏi: “Anh đến đây làm gì?”
Tôi
nói: “Tìm việc làm.
“Sao
không làm việc ở quê anh?”
“Quê
tôi không có việc gì cho tôi cả.”
“Anh
đi, không có phép của chính quyền địa phương. Anh ở, cũng không thông báo cho
chúng tôi biết. Tại sao?”
“Tôi
tạm trú, chờ tìm được việc, sẽ xin phép các anh cho ở đây. Nếu không tìm được
việc, tôi về quê cũ”
“Láo.
Chúng tôi biết anh đang tìm đường vượt biên. Cho anh thời hạn một tuần chuẩn bị
rời Nha Trang. Hàng ngày, anh phải lên phường trình diện với chúng tôi, cho đến
ngày đi khỏi.”
Trong
số những công an xét hỏi, có một gã còn trẻ. Gã này đang theo đuổi tán tỉnh
cháu gái tôi. Khi công an ra cửa, gã cố ý đi chậm lại đàng sau, nói nhỏ với
cháu tôi.
“Người
ta tố chú vượt biên, nhưng không tìm ra bằng chứng. Chú đang bị theo
dõi.”
“Người
ta” mà gã công an nói, là ai đây? Điểm trúng vào tử huyệt của ta, là người hiểu
ta. “Kẻ thù ngồi sau lưng bệ hạ đấy!” Trên đường bôn tẩu, An Dương Vương được
rùa thần báo như thế.
Bị
tống xuất khỏi Nha Trang, tôi về Sài Gòn tìm đến những bà con thân thuộc. Tất cả
đều thờ ơ lạnh nhạt. Trong khánh tận nỗi đời, nhìn rõ mặt trắng đen. Nhắc câu
thân tình ân nghĩa cũ, dễ làm người ta khó chịu như coi tên hề diễu dở. Không
bám víu vào đâu được, tôi như con chim run sợ trước cơn giông thời cuộc. Thấy
công an như thấy bóng hung thần. Sứ giả của chế độ mới, đến đâu là gieo rắc điềm
dữ đến đấy. Trong lao đao hốt hoảng, tôi chạy trốn theo đường dây vượt biên lên
Kampuchia. Và tại đây, tôi sa vào bẫy của thằng Nu. Sa bẫy thêm lần này, chúng
tôi thành trắng tay.
Chỉ
còn hy vọng vào chiếc khâu vàng, nhưng không biết nó còn trong bụng, hay đã lọt
đi đàng nào?
Ngồi
trong nhà cầu, tôi ám thị và gọi mãi vàng ơi vàng ơi, trong niềm đau nhức.
“Ra
chưa anh?” Vợ hỏi vọng vào.
Tôi
nói: “Chưa thấy gì.”
“Ngồi
ráng thêm chút nữa coi sao.”
“Ráng
vô ích. Cho anh liều thuốc xổ thôi.” Tôi đi ra ngoài.
Vợ
nhìn mặt: “Mấy hôm nay, trông anh hốc hác nhiều. Uống thuốc xổ cũng tội, nhưng
không còn cách gì khác.”
Buổi
tối, trong gian phòng rộng lớn. Mọi người ngồi dựa lưng vào vách tường, tán gẫu
đủ thứ chuyện. Qua câu chuyện, tôi biết có một chị, sáng mai sẽ về Việt Nam
thăm gia đình. Những món quà chị sắm cho chồng con, đặc biệt có chiếc quần Jean
sờn gối. Chị nói, chồng chị sẽ rất thích chiếc quần này, dân chơi đúng điệu chỉ
mặc quần Jean bạc màu sờn rách. Chị ngồi dựa lưng vào lòng anh chồng hờ. Anh
cũng âu yếm vòng tay ôm khít lấy chị. Họ tận dụng những giờ phút còn gần gũi
bên nhau. Tất cả những người khác coi thế là tự nhiên, nhưng vợ tôi ngượng.
“Kỳ!”
Vợ nói nhỏ.
Tôi
bảo: “Kệ người ta.”
Đến
giờ ngủ, những tấm màn vải được kéo ra, ngăn làm nhiều phòng nhỏ sát chân tường.
Còn lại khoảng trống giữa phòng, tôi trải tấm chiếu cho vợ chồng tôi và đứa
con.
Đèn
tắt, nhưng phòng còn có ánh sáng do ngọn đèn đường hắt vào. Chung quanh chỗ tôi
nằm, từng cặp nói chuyện thầm thì, cười khúc khích. Một hồi sau, nổi lên những
tiếng động dâm dật. Họ không cần khẽ khàng, dè chừng ai nữa. Cặp nào cũng như
nhau, coi đó là điều tự nhiên. Mục đích gán ghép vợ chồng tạm bợ của họ, cũng
chỉ vì chuyện ấy mà thôi. Chúng tôi bị bao vây bởi những âm thanh đầy kích
thích.
Tôi
cố dỗ giấc, và lãng quên. Nhưng cái lỗ tai bây giờ quá thính. Tôi nghe rõ cả
hơi thở dồn dập của họ, sát bên. Trong đầu tôi hiện ra hình ảnh và động tác...
Con
tôi, sau những ngày vất vả, buông mình xuống là ngủ khì. Vợ tôi nằm lặng, không
biết thức hay ngủ? Tôi khẽ trở mình, đưa tay khều thử.
Vợ
hất tay: “Đừng.”
“Ngủ
chưa?”
“Hứ!”
Tôi
cười thầm. Vợ tôi đang chú ý cái âm thanh gợi dục này, còn hơn tôi nữa.
Sau
một chặp đầu hôm, mọi người đi vào giấc ngủ. Tôi vẫn trăn trở lo lắng buồn rầu
cho một ngày mai. Nửa khuya, tôi nghe có sự cựa quậy nơi vị trí của người đàn
bà sắp về Việt Nam. Tiếng động dâm dật lại nổi lên. Anh chị cố vớt vát thêm thú
vui dục lạc, bù lại những ngày sắp xa nhau. Về thăm chồng lần này, nếu chị mang
thai, đứa bé ra đời, dĩ nhiên chồng chị chịu trách nhiệm. Nhưng nó là con ai,
chỉ có chị biết mà thôi. Khi tiết trinh là điều xa xỉ, loạn dâm là chuyện bình
thường thì loài người đồng hóa với súc sinh. Sáng ra, tôi nói với vợ ý nghĩ
này.
Vợ
nguýt dài: “Khéo lo chuyện tầm phào.”
Tôi
cười cười: “Đêm rồi ngủ ngon không?”
“Đừng
hỏi báp láp. Ông ham lắm!”
“Ham
gì?”
“Chuyện
đó.”
“Chuyện
đó, ai không ham? Em cũng vậy.”
“Không
có tôi đâu. Đừng nói chuyện đó nữa. Bây giờ, ông vào nhà cầu rặn chiếc khâu cho
tôi. Nếu nó ra, tôi khỏi tốn tiền mua thuốc xổ.”
“Lúc
nào em cũng nghĩ đến chiếc khâu!”
“Chứ
sao? Thiếu nó thì còn làm ăn gì được?”
Vợ
chưa mua thuốc xổ. Tôi bắt lại được khâu vàng, sau một tuần lẩn trốn trong bụng.
Một chị đấm bóp tình nguyện dẫn chúng tôi đi bán vàng. Dĩ nhiên, sự cám ơn phải
thể hiện bằng tiền. Chị lại hướng dẫn chúng tôi ra vùng ngoại ô thành phố, mướn
một căn lều bằng lá. Một căn lều theo đúng nghĩa đích thực của nó, nhưng chúng
tôi gọi là căn nhà cho đỡ tủi thân. Mái nhà lợp bằng lá mía, chung quanh che chắn
bằng liếp tre đan thưa thớt. Chiều sâu căn nhà quá ngắn, nhưng chiều ngang lại
quá dài. Nghe nói, trước đây người chủ của nó dùng làm chuồng nuôi gà công nghiệp.
Nhưng gà chết toi nhiều quá, nên dẹp luôn. Chuồng bỏ trống. Phía sau nhà còn chất
đầy những chiếc lồng gà cũ. Có được một chỗ trú mưa che nắng là tốt rồi. Tôi ra
sức quét dọn tẩy uế cả ngày, trông cũng mát mắt. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc
tạo điều kiện đời sống. Mua chăn màn nơi sạp bán đồ cũ. Mua chén dĩa, vài cái nồi
nấu ăn, thêm chiếc nồi lớn dùng hấp xôi. Vợ tôi chọn nghề bán xôi làm kế sinh
nhai. Cái nghề ít vốn, thích hợp với hoàn cảnh, tiện lợi cho việc ăn uống. Xôi
bán không hết, vợ chồng con cái ăn xôi trừ cơm. Đỡ phí của trời!
Sáng
sớm. Tôi gánh xôi vào thành phố. Vợ ngồi bên lề bán cho khách qua đường. Người
mua kẻ bán nói với nhau bằng ngôn ngữ đôi tay. Miệng ú ớ không nên lời. Đôi khi
ngớ ngẩn đến buồn cười. Mấy ngày sau, tôi nghĩ ra một sáng kiến. Nhờ người viết
tấm bảng bảng liệt kê giá cả bằng tiếng Miên. Gói nhỏ một đồng. Gói vừa hai đồng.
Gói lớn ba đồng. Người mua giơ ngón tay chỉ vào một trong ba hàng chữ ấy. Dễ
dàng cho cả đôi bên. Con tôi cũng tích cực góp phần vào sinh kế. Nó bưng cái
mâm có những nắm xôi đã gói sẵn, bán dạo theo các tiệm cà phê. Nó biết nở nụ cười
mời khách. Có người không muốn ăn xôi, nhưng thấy nó lí nhí nói cái thứ tiếng
chẳng ai nghe được và cười hoài, người ta cũng mua. Mặt nó vui hẳn lên, mỗi lần
bán được gói xôi. Mười hai tuổi, lăn vào chốn mưu sinh, nó hiểu thế nào là giá
trị của những đồng tiền. Còn tôi, đứng xớ rớ không biết làm gì. Lòng bứt rứt
không yên. Tôi lang thang tới bến xe đò, xin làm phu khuân vác. Ở ngoài nhìn
vào, cứ tưởng vai u thịt bắp là được việc. Nhưng không. Còn một điều kiện khác
nữa, và đây mới là điều kiện cần thiết. Muốn có việc, phải giành mối. Trên đường
đời, tôi thiếu bon chen, tay chân cò vạc lại vụng về xốc vác, nên chẳng ai thèm
mướn.
Chiều về, tôi nằm trên chiếc võng đưa qua đưa lại, buồn bã rời rã. Nhìn vợ con lu bu chuẩn bị cho nồi xôi ngày mai, tôi thấy rõ ràng mình đang sống bám trên hai chiếc lưng gầy gò yếu đuối. Giận mình bất tài vô tướng. Buồn giận quá, đâm ra quẫn trí. Tôi thù bọn chính quyền của quê tôi, thù bà thiếu tá giáo sư ở Nha Trang, thù bọn thằng Nu ở Miên. Từ đó, tôi ghét lây đến cả người đời. Sau những bản mặt hiền từ, họ còn giấu biết bao điều tàn ác bất lương. Những kẻ giả danh, mặt người dạ thú. Trong uất hận, tôi tưởng tượng mình có đủ quyền uy để làm như một Néron ngồi uống rượu, xem lửa đốt thành La Mã. Hay một Tần Thủy Hoàng lùa thiên hạ xuống hầm sâu chôn sống.
Tính
tình tôi trở nên bẳn gắt. Con tôi sợ hãi người cha lầm lì dữ tợn. Nó đâu biết
trong sâu thẳm cõi lòng, tôi thương và tội nghiệp nó đến nhàu nát ruột gan.
Hoàn cảnh khó khăn, nó không được đến trường. Đêm đêm, dưới ngọn đèn dầu, tôi dạy
nó về những kiến thức nhà trường. Cố nhồi nhét vô đầu nó những con số toán học.
Nó quờ quạng với những ẩn số x, y. Tôi cú đầu nó, và la hét ầm lên. Nó hoảng.
Càng hoảng, càng không lãnh hội được gì.
Vợ
nói: “Anh dạy học với thái độ của nhân viên phòng tra tấn.”
Nghĩ
lại, tôi thấy mình quá nóng tính. Tôi không thể làm thầy, dù là thầy của con
mình. Tôi tuyên bố không làm gia sư nữa. Con tôi mừng.
Vợ
lại nói: “Suy nghĩ nhiều, coi chừng điên đấy. Phải làm việc gì cho khuây khỏa.”
“Việc
gì? Khuân vác cũng không ai mướn.”
“Không
làm mướn cho ai cả. Anh đủ sức vác bao bánh mì không?”
“Dư
sức.”
“Được
rồi. Anh vác bao bánh mì đi bán dạo theo các xe đò đậu dài dài trên đường Thu
Mút, gần chỗ em bán xôi.”
“Em
có lý. Xôi bán ế, ăn hoài nhợn lên tới cổ họng. Bây giờ thêm bánh mì ế nữa.
Mình có thể thay đổi món ăn. Một bữa ăn bánh mì, một bữa ăn xôi.”
Thế là từ đó trở đi, tôi làm người bán bánh mì dạo. Sau khi gánh xôi vào thành phố cho vợ ngồi bán, tôi lội bộ ba cây số tới lò bánh mì, vác một bao trở lại đường Thu Mút. Tôi rảo theo những chiếc xe đò, cầm ổ bánh mì chìa ra trước mặt khách trên xe. Tôi mời họ mua, bằng cách kêu “bòn, bòn”, và gật gật cái đầu.
Ngày
đầu tiên, bán được nửa bao bánh mì. Còn nửa bao, tôi vác về. Vợ chồng con cái
ngồi ăn bánh mì, cười hỉ hả.
Con
tôi nói: “Ăn bánh mì chấm nước mắm, ngon hơn ăn xôi với đường.”
Tôi
hỏi: “Con chịu ăn hoài như thế này không?”
“Con
chịu. Nếu cho con thêm chút thịt thì ngon hơn.”
Câu
nói của con làm lòng tôi đau nhói. Nó cần thịt, nhưng từ lâu chúng tôi đâu dám
tốn kém vì loại thực phẩm cao cấp này.
Buổi
tối, tôi nói với vợ, dù buôn bán được hay không cũng mua cho con miếng thịt. Vợ
nói, đã nghĩ điều đó rồi.
Hôm
sau, tôi vác nửa bao bánh mì cũ đi bán nữa. Khách cầm ổ bánh bóp thử, rồi trả về.
Tôi cố gỡ gạc tiền vốn, chỉ bán hai phần ba giá, nhưng người ta cũng từ chối.
Không ai chịu mua một ổ bánh mì cứng đơ như khúc củi.
Hôm
ấy, nửa bao bánh mì cũ còn nguyên. Tôi muốn bỏ nghề.
Vợ
khuyên: “Mới thua keo đầu, không đáng ngại. Thử thời vận thêm vài bữa xem sao?”
“Ừ,
thì thử. Nhưng cái vốn của mình, đủ sức bù lỗ không?”
“Em
còn đủ sức chịu lỗ mười ngày như thế. Hồi còn ở Việt Nam, có người chỉ cho em
cách làm bánh mì cũ, trở thành bánh mì nóng giòn. Em sẽ thử.”
Trong
khi chúng tôi bàn chuyện, con tôi ăn bánh mì cũ với thịt heo ram mặn.
Nó
nói: “Thịt heo Kampuchia, ngon hơn thịt heo xứ mình.”
Tôi
hiểu ngay rằng, vì quá thiếu thốn mà nó thấy ngon đó thôi.
Những
ngày sau, tôi tiếp tục đi bán bánh mì. Công việc quen dần, tôi rút được nhiều
kinh nghiệm mời khách. Làm ăn có khá hơn. Tuy thế, ngày nào cũng còn dư bánh mì
đem về. Vợ tôi thoa nhẹ một lớp nước mỏng lên ổ bánh, và ủ qua đêm trong cái
bao nylon. Buổi sáng, đem ra hơ trên lửa than. Bánh mì cũ lại trở thành bánh mì
nóng giòn!
Chuyện
buôn bán cũng đủ cho gia đình sống lây lất qua ngày. Dù vất vả nhưng không bi
thảm như lúc đầu. Đêm, tôi nằm hút thuốc trên chiếc võng đưa cọt kẹt. Vợ con
tôi lo hấp xôi. Con tôi ríu rít kể chuyện. Có người ăn một lần đến ba gói xôi.
Có người ăn xong, còn mua vài gói đem về nhà. Cũng có người chỉ ăn nửa gói, còn
nửa gói chê dở, trả và đòi tiền lại.
“Rồi
con có trả lại tiền không?” Vợ tôi hỏi.
Nó
cười: “Không. Con bỏ chạy.”
Vợ
nói: “Lần sau, nếu gặp người như thế nữa, con trả lại tiền cho người ta.”
“Nhưng
họ ăn hết nửa gói rồi.”
“Thì
trả lại tiền nửa gói.”
Nó
vẫn cương quyết: “Không trả. Gói xôi ăn lỡ dở, thì còn bán cho ai được nữa?”
Trong
câu chuyện, thường nó khoe học được nhiều tiếng Miên. Nó dạy cho vợ chồng tôi đếm
số. Và điều này, cũng cần thiết cho chúng tôi trong giao dịch buôn bán hằng
ngày. Không khí gia đình tương đối dễ thở, nhưng láng giềng có điều rắc rối.
Xóm
nhà lá tôi ở, toàn là gia đình nghèo người Miên. Cuối xóm, có một nhà người Việt,
nhưng tôi cũng không gần gũi tiếp xúc. Qua bao nhiêu cạm bẫy cung ná, tôi nghi
ngờ sự thân thiện của người đời. Chúng tôi sống âm thầm khép kín. Tránh động chạm
làm mất lòng những người chung quanh. Tuy thế, một hôm bà Miên gần nhà, chỉ trỏ
qua nhà tôi và la ầm lên. Tôi đứng bên này cười, dù không hiểu lý do. Nụ cười
không đúng lúc, bà tưởng tôi khiêu khích. Bà gầm thét, ném khúc gỗ sang tôi.
Tôi né tránh, không phản ứng. Loại người vô giáo dục, thường rất đanh đá chanh
chua.
Lúc
đó, có anh người Việt nhà cuối xóm đi ngang, thấy vậy đứng lại nhìn. Tôi nhờ
anh ta hỏi xem bà có chuyện gì? Sau khi hỏi, anh cho biết bả chửi vì tôi quăng
cứt qua nhà bả.
Tôi
nói: “Tôi không làm chuyện dơ bẩn đó.”
Bà
Miên không tin, cho rằng chỉ có thằng Việt Nam xấu xa mới chơi kiểu mất dạy như
thế. Bà còn dọa, coi chừng bà đốt nhà tôi.
Sau hôm ấy, hai nhà hai bên quét rác đùa qua sân nhà tôi. Hành vi kiếm cớ gây sự. Tôi chẳng nói gì. Trò bỉ ổi tiếp diễn mỗi ngày. Cái sân thành nơi đổ rác. Kệ mẹ nó! Nói tới nói lui, ngôn ngữ bất đồng dễ thành lớn chuyện. Im lặng là một cách tỏ lòng khinh bỉ. Tôi cũng đâu cần ăn đời ở kiếp nơi cái xóm nhà lá khốn nạn này. Lúc nào đầu óc tôi cũng nghĩ chuyện ra đi. Tôi như co chim chỉ đậu tạm qua đêm. Rồi bình minh sẽ đến, và tôi sẽ bay đi thật xa.
Mỗi
ngày, tôi lội bộ đi và về sáu cây số để lấy bánh mì từ lò nướng. Vợ tôi bàn,
nên sắm chiếc xe đạp, giúp đôi chân đỡ mỏi đường xa. Tôi mua chiếc xe cũ trành,
với giá rẻ mạt. Xe không thắng, không chuông, không đèn, không vè. Chiếc xe trần
trụi đơn sơ đến mức, nếu bỏ bớt một bộ phận nào đó, thì không chạy được. Chẳng
ai động động lòng tham với chiếc xe thổ tả này, tôi nghĩ thế. Tôi thường dựng
xe nơi góc phố. Đúng năm ngày sau, chiếc xe bị cuỗm mất. Đây cũng là bài học dạy
cho tôi biết rằng, bản chất con người là tham ác gian manh. Họ không từ nan bất
cứ một thứ gì. Kể cả những vật nhỏ nhoi như cây kim sợi chỉ, cũng dấy lên trong
đầu họ ý muốn chiếm đoạt. Từ nghìn xưa, Phật và Chúa đã biết thế, nên chiêu dụ
con người ăn ở hiền lành thì được lên Niết Bàn của Phật, hay Thiên Đàng của
Chúa. Nhưng người đời thực tế lắm. Họ không thả mồi bắt bóng. Niết Bàn hay
Thiên Đàng là ảo ảnh. Của cải trên thế gian là hiện thực. Chiếc xe đạp trành của
tôi, dù không béo bở, nhưng rõ ràng nó là một miếng mồi hiện thực, có thể nhá
được. Đừng ai đem địa ngục kinh khiếp mà dọa chúng sinh. Ngay chốn trần gian
này, đã là địa ngục rồi. Có ai sợ đâu?
Những ngày bán bánh mì, tôi quen một cô tên Nga. Tôi gặp lần đầu khi cô đáp chuyến xe đò từ Krong Kaoh Kong về Phnom Penh. Cô bước xuống đường Thu Mút trong cái dáng vẻ của một cô gái bụi đời. Hút thuốc và ngồi quán uống cà phê. Cô mua bánh mì, ăn kèm với bò kho. Thấy tôi là người Việt, cô bắt chuyện làm quen. Vài lần như thế, đôi bên tỏ ra thiện cảm. Cô cho biết đã sống bốn năm trên xứ Chùa Tháp. Quê cô ở Bến Tre. Năm hai mươi tuổi, cô có người yêu đi Bộ Đội, đóng quân trên đất Kampuchia. Cô lên đây tìm người yêu, nhưng anh đã chết tan xác trong một cuộc phục kích bằng mìn của quân Khmer Đỏ. Đau buồn không muốn trở về quê cũ, cô sống lang thang nương tựa vào các trại quân Việt Nam. Tôi hiểu ngay rằng cô đang làm gái điếm. Năm nay, cô hai mươi bốn tuổi. Bốn năm lăn lóc bụi đời, cô già đi trước tuổi. Tôi cũng nói với cô về chuyện gia đình làm ăn sinh sống. Cô ngỏ ý muốn thăm vợ con tôi. Tôi dẫn về nhà, giới thiệu vợ con. Từ đó trở đi, đôi bên thành chỗ thân quen. Mỗi lần về Phnom Penh, cô ngủ lại nhà tôi.
Có
lần cô nói: “Em xin kết nghĩa làm em nuôi của anh chị.”
Tôi
hỏi đùa: “Ai sẽ nuôi ai?”
Cô
cười: “Anh chị nuôi em.”
“Nhà
anh chỉ có xôi và bánh mì.”
“Hai
thứ đó cũng đủ no rồi.”
Buổi
tối, vợ tôi thì thầm: “Giai đoạn đầu, làm em nuôi. Giai đoạn sau, làm vợ nhỏ.”
Tôi
nạt: “Nghĩ bậy!”
“Anh
sắp ló đuôi rồi đấy.”
“Đuôi
gì?”
“Đuôi
dê.”
“Anh
coi nó như em.”
“Lằn
ranh anh em kết nghĩa mỏng manh lắm. Nhích tới một bước, em nuôi biến thành vợ
nhỏ.”
“Ghen
hả?”
“Tôi
mà thèm ghen với con đĩ ngựa ấy à?”
“Ô
hay! Sao mạt sát người ta? Nếu em không thích, anh bảo nó đừng đến đây nữa.”
“Hứ!
Để coi hai người sẽ tiến đến đâu.”
Dù
thế, bề ngoài vợ tôi không tỏ vẻ gì để cô Nga biết được ý nghĩ của mình. Tôi
cũng không hề bảo cô đừng đến nữa. Cô coi gia đình tôi là chỗ thân tình. Lâu dần,
cô hiểu rõ hoàn cảnh và lý do chúng tôi có mặt trên đất Kampuchia.
Một
buổi trưa. Tôi đang nằm trên võng. Vợ con tôi đi chợ mua nếp và lá sen dùng cho
việc bán xôi. Có gã Bộ Đội Việt Nam mang quân hàm thượng úy xuất hiện đột ngột
trước ngưỡng cửa.
Gã
hỏi: “Có phải anh tên Trần Văn Năm?”
Tôi
tái mặt. Có chuyện gì đây? Đối với tôi, người của chính quyền Việt Nam được coi
như sứ giả của điềm báo tai ương.
“Vâng.
Tôi là Trần Văn Năm.”
Khi
giao tiếp với mọi người, tôi tự đặt cho mình một cái tên giả. Nhưng sao gã Bộ Đội
này biết? Gã tìm tôi có chuyện gì? Và biết gì về thân thế tôi? Nếu gã phát giác
ra tôi đang cư ngụ bất hợp pháp, rắc rối sẽ không nhỏ. Tôi chưa kịp mời, gã đã
vào nhà kéo ghế ngồi. Gã là khách, nhưng thái độ và cử chỉ hoàn toàn chủ động.
Tôi trở nên lúng túng thụ động trước một đối tượng mà tôi rất ngại phải gặp mặt.
Tôi
miễn cưỡng tiếp người lạ bằng chén nước lã: “Xin lỗi, nhà tôi không có sẵn nước
trà.”
Gã
khoát tay: “Được rồi.”
Tôi
ngồi bối rối.
Gã
tra vấn: ”Anh lên Kampuchia làm gì?”
“Bán
bánh mì.”
Gã
cười nhạt: “Thật không?”
“Nếu
không tin, anh có thể hỏi những người Miên chung quanh đây. Họ biết việc làm của
vợ chồng tôi.”
“Ở
Việt Nam anh làm nghề gì?”
“Thợ
mộc.”
“Cách
Mạng vào Miền Nam, anh có đi cải tạo không?”
“Không.
Chính sách của Cách Mạng không bắt những người dân như tôi đi cải tạo.”
Gã
lắc đầu: “Tôi muốn nói chuyện với anh trong tinh thần hiểu biết và thành thật,
nhưng anh chối quanh. Anh biết cô Nga không?”
“Biết.”
Gã
nhắc tên cô Nga làm tôi giật mình.
“Cô
là gì của anh?”
“Em
nuôi.”
“Cô
Nga nói, anh là sĩ quan Ngụy. Đi cải tạo, được Cách Mạng tha về. Trốn đi vượt
biên, và bị người ta giựt hết vàng. Có đúng không nào?”
Thôi
rồi. Bể chuyện hết rồi. Tôi hoảng sợ, ngồi im. Có lẽ, mặt tôi cắt không còn giọt
máu. Thầm rủa con Nga khốn nạn. Nó lợi dụng sự thân mật của gia đình tôi để điều
tra và tố cáo.
Gã
tiếp: “Tôi đến đây là muốn giúp anh.”
Gã
giúp được gì cho tôi? Muốn bắt bớ hay lường gạt? Gã lầm. Tôi chẳng còn của cải
gì cho gã giở trò lưu manh lường gạt.
“Anh
vượt biên là hành động trốn chạy. Tôi giúp phương tiện cho anh chạy. Nếu ở lại
hoạt động chống đối, tôi bắt anh.”
Tôi
ngồi nghe, không dám tin, không dám có ý kiến.
“Tôi
đóng quân ở Tân Hao. Về đây công tác, sẵn dịp ghé lại nói chuyện cùng anh. Tôi
có quen với một thằng chủ ghe người Miên. Hắn thường chở người vượt biên. Tôi
là người cho hắn mượn súng đề phòng bọn cướp biển Thái Lan. Chuyến nào cũng
trót lọt an toàn. Khi có dịp, tôi sẽ dẫn hắn đến đây để hai người trực tiếp nói
chuyện với nhau.”
Tôi
dè dặt: “Cô Nga đã nói về tôi, chắc cũng đã cho anh biết, tôi không còn vàng để
vượt biên.”
“Vì
thế mà tôi muốn anh gặp hắn để bàn xem có cách nào giúp được anh.”
“Tôi
bỏ ý định vượt biên rồi. Hiện tại, chỉ lo làm nuôi vợ con.”
Gã
cau mặt: “Cô Nga năn nỉ tôi giúp anh, nhưng anh nghi ngờ mãi.”
“Xin
đừng gài bẫy tôi, tội nghiệp.”
“Muốn
bắt anh lúc nào chả được. Gài bẫy làm đếch gì.”
“Tôi
sẽ hỏi lại cô Nga, về chuyện này.”
Gã
đến đột ngột như muốn áp đảo tinh thần tôi. Và ngồi chưa nóng đít, đã thoắt đi
như một cơn dông. Thái độ kỳ lạ của gã làm tôi hoang mang, nửa tin nửa ngờ.
Mong gặp cô Nga để hỏi về gã sĩ quan bộ đội. Nhưng cô như cánh chim phiêu bạt,
biết đâu mà tìm?
Cô
Nga về lại Phnom Penh, khi gia đình tôi đang ăn cơm chiều. Lần nào về, cô cũng
mang theo món gì đó để ăn với chúng tôi. Tôi nghĩ, cô chịu đựng sự dày vò thân
xác để mua món ăn đem đến. Đã mấy lần, tôi bảo cô không nên mua gì cả. Cô chỉ ậm
ờ, rồi vẫn làm như những lần trước.
Vợ
tôi nói: “Em về đây, đừng phí tiền mua món này món kia. Chị ngại lắm.”
Cô
cười: “Không tốn kém bao nhiêu. Em góp phần cho vui.”
Khi
nói chuyện, cô thường nở nụ cười rất tươi. Vì thế mà nhiều thằng mê cô chăng?
Sau
bữa cơm, tôi chờ cô nói về gã Bộ Đội, nhưng cô cứ lờ đi.
Cuối
cùng, tôi mở lời: “Hôm trước có một thượng úy đến nhà anh...”
“Ồ!
Hắn đến rồi hả? Có nói gì không?”
Tôi
hỏi lại: “Em đã nói gì với hắn?”
Cô
gọi vợ tôi cùng ngồi: “Em quen với gã thượng úy này lâu rồi. Hắn có nhiều tiền.
Em thắc mắc, với đồng lương chết đói của bộ đội, hắn lấy tiền đâu ra mà nhiều
thế? Hắn kể rằng hắn bán bãi cho những tổ chức vượt biên. Nghe chuyện vượt
biên, em nghĩ ngay đến anh chị. Em kể cho hắn về những khó khăn hiện tại của
anh chị, và yêu cầu hắn giúp đỡ. Hắn đòi điều kiện. Em bảo, thân xác em chính
là điều kiện của hắn.”
“Sao
em tự hy sinh mình như thế?” Vợ tôi ái ngại.
Cô
nói: “Chị ơi, đời em đã ba chìm bảy nổi, quý giá chi đâu mà so đo hơn thiệt. Em
tính đưa hắn về đây giới thiệu, nhưng chưa có dịp. Không ngờ hắn tự mò đến trước.
Hắn nói với anh chị thế nào?”
“Hắn
nói sẽ dẫn thằng cha chủ ghe đến, nhưng anh chưa biết thực hư ra sao, chưa dám
tin.”
“Chuyện
này có thể tin được. Hắn chịu giúp mà không đặt điều kiện với anh chị, vì hắn
biết anh chị không còn gì cả.”
“Tốt
đến thế à?”
“Không.
Hắn đặt điều kiện với em.”
“Điều
kiện gì?”
“Sau
khi anh chị ra đi, em làm vợ hắn.”
Vợ
tôi hỏi: “Rồi em tính sao?”
Cô
bình thản: “Trao đổi như thế cũng hay. Hắn cần tình. Em cần tiền.
Ngồi
lặng một lúc lâu, vợ tôi xúc động cầm tay cô Nga: “Chị có lỗi với em,”
Cô
ngạc nhiên: “Không. Chị có lỗi gì đâu?”
Cô
Nga không hiểu, nhưng tôi hiểu. Vợ tôi ân hận vì đã nghi ngờ có chuyện vụng trộm
giữa tôi và cô Nga, và gọi cô là con đĩ ngựa, dù chỉ nói với tôi.
Trong một đêm trăng mù sương, nơi ven rừng âm u sát bờ biển, cô Nga đưa chúng tôi xuống bãi Tân Hao. Cô đi với gã thượng úy. Gã đến đây, kiểm soát và đếm đầu người để tính ra số vàng tên chủ ghe người Miên phải trả.
Mọi
người đã lên ghe. Vợ con tôi cũng lên ghe rồi. Cô Nga đứng sát mé nước. Sóng
trườn lên bãi ướt cả gấu quần. Tôi cầm tay cô, ứa nước mắt nói những lời từ biệt.
Cô
cũng siết tay tôi: “Anh chị ra đi bình yên. Mong chị không hiểu lầm em.”
Dưới
màu trăng khuya, tôi không nhìn rõ mặt cô Nga nhưng tôi đoán cô buồn lắm. Đó là
lần cuối cùng tôi và cô còn gặp.
Mười hai năm, trên xứ Mỹ. Thời gian không dài lắm, nhưng cũng đủ lãng quên những oán hờn ngày cũ. Bao nhiêu khuôn mặt bẩn thỉu xấu xa trong quá khứ, nhòa dần trong trí nhớ. Chỉ hình ảnh một cô Nga là còn đậm nét trong tôi. Muốn tìm cô để đền cái ơn tri ngộ, không là điều dễ. Trên đất nước Kampuchia ngày ấy, tôi cũng chẳng biết cô lưu lạc phương nào. Và tên Nga cũng chưa chắc là tên thật của cô ở quê nhà. Làm sao tìm lại được một con chim bay trong bao la trời đất?
Lâm
Chương
