▼

Tuesday, June 3, 2025

Cha Tôi - Đào Dân

 

Cha tôi chết khi tôi vừa tròn bốn tuổi nên những gì còn lại trong tôi về ông gần như là con số không. Có lẽ hình ảnh duy nhất còn sót lại là cái vòng hoa nhỏ làm bằng những sợi thiếc mỏng được sơn màu hồng nhạt luôn quay vòng trên hai cái mây- dơ của chiếc xe đạp mà cha tôi đạp về nhà từ nơi làm việc có tên là Xã Thương vào một buổi chiều hè đã lôi kéo sự chú ý của tôi và bọn nhỏ để chúng tôi chạy theo và reo hò ầm ỷ.

 

Còn ngoài ra, những chuyện tôi kể hôm nay về cha tôi là tôi được nghe từ mẹ tôi, người thường kể chuyện đời của mẹ trong khi cả nhà đang ăn cơm, khi mẹ đang làm việc nhà, và cả lúc mẹ ra vườn trồng rau cải vào mùa đông. Mà tôi thì lúc nào cũng đeo theo gấu quần mẹ nên có lẽ nghe được nhiều chuyện nhất. Những lúc như thế, có khi mẹ còn ngâm những đoạn thơ ngắn trong  truyện Kiều, Cung Oán, Chinh phụ, hay Lục Vân Tiên. Nhưng nhiều nhất vẫn là hơn chục bài thơ của cha tôi mà ông đã làm khi ông về làm ruộng sau 1945 mà sau này đọc lại và ngẫm nghĩ kỹ, tôi gọi là những bài thơ kháng chiến. Không biết mẹ tôi ngâm thơ ông bao nhiêu lần trong thời thơ ấu của tôi để đến nỗi các anh chị em tôi còn nhớ và thuộc lòng nhiều bài thơ của ông.

Hồi đó chắc khoảng năm 1948, sau khi Pháp đã bình định được vùng quê tôi để lập nên làng Hội Tề và cha tôi được đưa lên làm Lý trưởng. Cái chức Lý trưởng này không phải tự nhiên mà cha tôi nhận làm khi được đề nghị. Cũng phải có sự đồng ý của Việt Minh mà người đại diện là Bác Vận, người anh trong họ đã thoát ly và làm trong ngành quân báo. Dĩ nhiên cha tôi phải báo cáo cho Việt Minh những gì mà cha tôi biết về địch.

Công việc mà mẹ tôi gọi làm Địch Vận đó có lẽ cũng không phải dễ dàng gì nên cha tôi thường bị chính quyền địa phương Pháp nghi ngờ và đã mấy lần bị tên Đội Quẹo ở đồn Qua Lồ bắt về đồn đánh đập để tra hỏi xem cha tôi có làm việc cho Việt MInh không. Đồn Qua Lồ được Pháp xây ở làng Văn Vận thuộc xã Hải Quy ngày nay, chỉ cách làng tôi một bãi cát trắng hồi đó chúng tôi gọi là độông cát. Ngoài ra, trong một lần đi ốp (hành quân) của quân Tây, cha tôi bị chúng bắt giải vô quận Hải Lăng, bị giam ở đó mấy ngày để rồi cuối cùng ông đã được ông Phủ Tắc ( ông Đặng hữu Tắc, người bạn thời còn học ở trường Quốc Học Huế) đang làm Quận trưởng mời vô gặp ăn cơm nói chuyện rồi thả về. Cảm cái nghĩa của người bạn đồng môn, cha tôi làm bài thơ thất ngôn bát cú về tình bạn của họ. Bài thơ như sau:

Tình Bằng Hữu

Hai chục năm trời thắm thoắt qua

Đồng song bạn cũ nhớ chăng là

Sớm chiều Quốc học vui đèn sách

Non nước Thần kinh tưởng gấm hoa

Chung đỉnh xui người nên trưởng giả

Điền viên khiến tớ hóa nông gia

Quan dân hai chữ tuy rằng cách

Bằng hữu tình xưa vẫn đậm đà

Đào Xuân Thâm

 

Rồi có lẽ cũng vì cha tôi đã không chu toàn nhiệm vụ cho cả hai bên mà ông đành phải thoát ly, trốn ra vùng kháng chiến. Nơi mà cha tôi sống đầu tiên nơi vùng kháng chiến này là làng An Thơ, một trong những làng của miền duyên hải tỉnh Quảng Trị, mà chung quanh đó, có một địa danh nổi tiếng trong chiến tranh Việt Pháp (1946-1954) là trận đánh dữ dội giữa Việt Minh và quân Pháp  ở làng Thanh Hương. Cũng nơi đây đã làm cái nôi cho Bernard Fall ( một phóng viên chiến trường nổi tiếng người Mỹ gốc Áo - Pháp) sau đó mấy năm viết nên tác phẩm nổi tiếng không kém là Street Without  Joy. Còn trong cuộc nội chiến Nam Bắc (1955-1975), khu vực miền duyên hải ở biên giới của hai tỉnh Quảng trị và Thừa thiên này lại sản sinh ra một nhạc phẩm nổi tiếng là  "Chiều trên Phá Tam giang" của Trần Thiện Thanh,  phổ theo thơ của Tô Thùy Yên.

Ở đây cha tôi được Việt Minh cho trở lại làm nghề giáo viên tiểu học, công việc mà ông đã làm vào những năm cuối cùng của triều Nguyễn. Cùng thoát ly và dạy học với cha tôi có người con rể của ông Bộ Liễn, bác ruột của cha mà chúng tôi gọi là dượng Hân. Dạy ở đó chưa đầy năm thì cha tôi chết  do bệnh kiết lỵ. Ông chết vào ngày 27 tháng 8 năm 1949, lúc đang còn trẻ, ở vào lứa tuổi 41. Ông chết vào những ngày bảo lụt mà làng An Thơ lại là vùng trũng nên việc chôn cất rất khó khăn. Tuy có một cái hòm bằng gỗ được đóng tạm bằng mấy tấm ván cũ được kê làm giường nhưng khi đưa đám thì phải chở quan tài bằng ghe, qua đến làng Xuân Viên, sát vùng biển và giáp giới với tỉnh Thừa Thiên mới tìm được chỗ đất cao để chôn. Dượng Hân có làm một tấm bia nhỏ bằng cách lấy viên gạch cũ, khắc mấy chữ đơn sơ như tên họ và ngày mất, đem  chôn sâu dưới đất trên đầu mộ vì sợ tấm bia nhỏ quá, có thể bị thất lạc.

Sau năm 1954, khi hiệp định Geneve được ký kết và hòa bình lập lại, mẹ tôi mới bắt đầu nghĩ đến việc di dời, đem nắm xương tàn của cha tôi về chôn nơi quê nhà. Lúc đó thì Dượng Hân đã tập kết ra Bắc nên ngoài những lời nhắn gởi lại thì mẹ tôi không biết gì nhiều. Làng An Thơ ở đâu, đi lối nào, hai anh em sống ở nhà nào. Theo như những gì tôi nhớ được thì số người đi bốc mộ cũng khá đông. Ngoài mẹ tôi và anh Phương, còn có bác Trình, dượng Thiềm và dượng Lân, là ba người thân thích, mẹ tôi còn nhờ thêm dượng Nậu. Dượng Lân là người làng Duân Kênh và đã đi làm thợ nề khắp vùng nên có thể là người hướng dẫn đường đi. Còn dượng Nậu là người rành về chuyện bốc mộ  nên mọi việc mồ mả đều nhờ dượng làm.  Dượng Nậu là chồng O Hoạt, là người em gái chú bác thúc bá với cha tôi. Cũng giải thích thêm ba người thuộc hàng nội thân: Bác Trình là con đầu của ông bộ Liễn, là anh em chú bác ruột của cha tôi. Còn hai dượng Thiềm và dượng Lân là hai người em rể: chồng của hai người em ruột của cha tôi: O Thiềm và O Thảo.

Năm đó tôi đã 10 tuổi, nhưng tôi không còn nhớ lộ trình mà đoàn người phải đi từ nhà đến làng An Thơ, rồi từ đó bằng cách nào đi qua làng Xuân Viên. Cũng không nhớ là họ đã mất mấy ngày, từ khi đi cho đến khi về. Điều mà tôi nhớ nhất là nỗi sợ hãi của mọi người khi ngồi trên chiếc ghe nhỏ được chèo qua vùng cữa biển là nơi cuối cùng của sông Ô Lâu trước khi ra biển,  với những làn sóng cao và dồn dập, mà chiếc ghe thì nhỏ như một quả trứng gà trôi bập bềnh giữa vùng sóng nước mênh mông. Nỗi sợ hãi của mẹ khi kể chuyện đã lây qua cả mấy anh chị em tôi, cho đến bây giờ khi tôi viết những dòng này. Mẹ tôi cũng kể lại là khi đào mộ lên, nhận dạng đầu tiên là viên gạch của dượng Hân làm dấu tích với tên và ngày chết , và dấu tích thứ hai là chiếc răng cửa bị gãy của ông mà mẹ tôi còn nhớ. Trong khi chuyện trò với vợ chồng người chủ nhà, họ đã khen cha tôi là người dễ thương, vẫn còn rất trẻ,  trắng trẻo, và nhất là đẹp trai. Vào những ngày cuối cũng trước khi mất, ông thường kêu tên của hai đứa con đầu: Phương ơi, Liên ơi.( Không thấy nói gì đến ba đứa còn lại hết)

Việc tổ chức tang lễ cho cha tôi cũng chỉ đơn giản, trong vòng nội thân. Không phải là một chiếc quan tài to đặt giữa nhà mà chỉ là một cái tiểu nhỏ được thợ mộc là ông Khuyên trong họ đóng. Tuy bằng gỗ mới nhưng khi đặt lên bộ ghế ngựa giữa nhà để làm lễ thì được bọc bằng tấm giấy điều màu đỏ. Cái tiểu chỉ dài hơn thước, rộng khoảng hai mươi lăm phân, và bề cao cũng cở đó.Đó là một ngày mùa hạ nắng cháy da người. Gió Nam ( gió Lào) thổi ào ào, trong nhà thì nóng hầm hập. Mẹ tôi và bốn đứa con thì không ai mặc áo sô mà mỗi người chỉ quấn một vòng khăn tang trắng bằng vải thô (vì hồi đó nhà tôi còn nghèo lắm). Cả nhà không ai khóc, và mẹ tôi thì chạy lên xuống để lo việc đón tiếp bà con thân thuộc tới thăm và thắp hương cho cha tôi. Nhưng khi đã đưa cha tôi lên chôn trên độộng Trằm Ri trở về, mọi người đến thăm viếng cũng ra về hết và màn đêm bắt đầu buông xuống thì nỗi buồn tự nhiên ở đâu ập xuống cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi. Cả năm mẹ con cùng ngồi khóc, chụm đầu vào nhau, giữa những tiếng kêu xào xạc, phì phạch của rặng tre và những bụi chuối sau nhà mà tôi nghe và liên tưởng như những tiếng kêu của lũ ma trơi đang than thở. Rồi tự nhiên mẹ tôi khóc lớn hơn, chúng tôi cùng khóc lớn theo, hòa thành một nhịp, to đến nổi bên nhà bác Trình có người nghe và bác gái đã sai anh Trình ( con cả của bác) qua nhà tôi để xem chuyện gì xảy ra. Khi anh Trình thấy cả nhà ngồi khóc lóc thảm thiết thì anh khuyên giải mẹ tôi. Tuy anh còn nhỏ, mới 17, bằng tuổi chị Liên, nhưng những lời khuyên giải của anh như một người lớn đã giúp mẹ tôi trở lại bình tĩnh để quên đi nỗi đau của sự mất mát.

Trên đây là tóm tắt câu chuyện của cha tôi mà tôi nhặt được qua sự hiểu biết và qua lời kể của mẹ tôi mà tôi còn nhớ. Ngoài những ngày giỗ hàng năm mà mẹ và chúng tôi thường làm bữa cơm sơ sài để mời bà con tới tham dự, chuyện trò, nhắc lại chuyện xưa, chuyện người quá vãng thì những chuyện về ông dần dần cũng bị quên lãng giữa cuộc mưu sinh đầy hối hả và đàn con cháu ngày thêm đông đúc rộn ràng đã che lấp đi những nỗi nhớ thương xưa cũ.

Trong thời gian tôi đi cải tạo, qua những bức thư của mẹ, tôi biết rằng vào những ngày đầu sau tháng tư năm 1975, những cán bộ Cộng Sản trong làng có tới nhà tôi để biếu tặng hai mét vải mậu dịch như là một cách đền ơn người đã chết trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tưởng mọi chuyện đã yên ắng trong âm thầm tưởng nhớ thì chính sách về thương binh liệt sĩ của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời vào những năm đầu của thập niên 1980. Chuyện đó không làm tôi quan tâm vì với chính quyền, tôi là một sĩ quan Ngụy và anh Phương tôi là một cảnh sát Ngụy dù đã chết thì chuyện hưởng ơn mưa móc của chính quyền đã trở nên ảo tưởng. Nhưng vào một buổi chiều, khi chị Anh bán sạp vải ngoài chợ Quảng trị trở về, đưa cho tôi xem một tờ giấy học trò, màu vàng hơi cũ,  trong đó là những chữ viết tay với chữ ký của dượng Hân xác nhận về cái chết của cha tôi như là kết quả của những trận đòn tra tấn của giặc Pháp. Dượng Hân là cán bộ ngành giáo dục đi tập kết ngoài Bắc trở về sinh sống ở làng, và là người đã chứng kiến tận mắt cái chết của cha tôi. Sau đó dượng kể về những đau đớn, những vật vã, những tiếng la hét của cha tôi trước khi qua đời. Những đêm không ngủ vì bị ám ảnh của những lần bị tra tấn, những cơn ác mộng đó cứ ám ảnh, đeo bám cha tôi vào những ngày cuối đời.  Nào là những lần bị tra khảo của bọn Pháp ở đồn Qua lồ, nào là những đêm thức giấc vì những cơn ác mộng mà trong đó đều do ám ảnh của nỗi đau quá khứ nên thường rên la, lăn lộn, và cả khóc lóc nữa. Dượng viết rất hay mà tôi thì không đủ khả năng và trí nhớ để viết lại. Nói chung tờ giấy xác nhận của dượng là một hảo ý với mẹ tôi và gia đình tôi mà theo tôi, dượng đã phóng đại sự việc để nhờ đó có thể lách qua được chính sách vừa ban hành về Thương binh liệt sĩ, trong đó chế độ liệt sĩ chỉ được cấp cho những người bị tử trận, bị chết vì bom mìn, hay chết vì hậu quả của những trận đòn thù của Tây hay Mỹ Ngụy.

Thế là từ đó, mẹ tôi trở thành vợ của liệt sĩ, chị Anh và chị Liên trở thành con của liệt sĩ.Mẹ tôi thì có nhận một số tiền nho nhỏ, chị Anh bán vải ở chợ Quảng trị có nhận được ưu đãi nào không thì tôi không biết. Nhưng mục đích của chị là để tránh sự o ép, làm khó dễ của các cơ quan thuế vụ, quản lý thị trường và công an khi nhà nước ban hành chính sách ngăn sông cấm chợ. Vì vậy chị đã phải nài nỉ dượng Hân viết giấy xác nhận cái chết của cha tôi như thế nào để nhà nước công nhận cha tôi là liệt sĩ.

Để chấm dứt bài viết này, tôi xin kể sơ lược về " lý lịch trích ngang" của cha tôi như sau: Cha tôi tên là Đào Xuân Thâm, sinh năm 1908 và chết năm 1949, tại làng An Thái, phủ Hải lăng, tỉnh Quảng trị. Cha mất sớm , khi ông mới được 7 tuổi và người em gái út là O Thảo thì mới 7 ngày. Nhà nghèo nhưng bà nội vẫn đã cho cha tôi ăn học. Những ngày còn nhỏ thì đi học chữ Hán, sau đó học chữ Quốc ngữ nên khi thì đậu vô lớp Đệ Nhất Niên trường Quốc học Huế thì ( lớp đệ Thất hay lớp 6 sau này) cha tôi cũng đã lớn tuổi.  Sau 4 năm đèn sách, đi thi lấy bằng Đíp- lôm, cha tôi không đậu. Thi đi thi lại đến 4 năm cũng không thành công nên ông đành xin đi dạy sơ học ở các trường ở tỉnh Quảng trị cho đến năm 1945 khi Việt Minh cướp chính quyền thì ông mất việc, về làm ruộng. Ông có năm người con, Đào thị Bích Liên, Đào Đình Phương, Đào thị Kim Oanh và Đào Tân Dân và con gái út là Đào thị Chủ. Người con gái này chỉ sinh ra được mấy tháng thì mất ( 1949). Em mất sau cái chết của cha tôi khoảng hơn tháng . Cái tên Đào thị Chủ không phải cha tôi hay mẹ tôi đặt cho, mà chỉ do Dì Phồn (Dì Út) đặt cho, theo lối nói luôn vần: Dân -Chủ. Lúc đó dì cũng chỉ mới 16 tuổi.

Đào Dân
Ngày 15 tháng hai năm 2025