Tô Cháo Huyết / Học Ăn Học Nói - truyện ngắn Tiểu Tử (1930 - 2025)
TÔ CHÁO HUYẾT
Xe cháo huyết của bà xẩm đó nằm trên vỉa hè phía đối diện với rạp hát Casino Đakao, gần trụ đèn xanh đèn đỏ. Thành ra khi đi về hướng Gia Định, gặp đèn đỏ, ngừng xe lại là thấy nó ngay ở bên tay mặt.
Hồi mới “giải phóng”, còn chút đỉnh tiền, chiều đi làm về
tôi hay tấp vô đó “làm” một tô cháo huyết có kèm theo một dĩa giò-cháo-quẩy cắt
khoanh. Không biết có phải tại vì buổi trưa ăn không đủ no thành ra chiều nghe
đói sớm hay sao, mà lúc nào tôi cũng thấy cháo huyết của bà xẩm đó thật là ngon
! Cháo nấu nhừ, huyết cắt vuông thành từng miếng vừa vặn nhỏ để được nằm gọn
trong lòng cái muỗng sành. Múc một muỗng vừa có cháo vừa có huyết đưa lên môi
thổi cho bớt nóng trước khi cho vào miệng, mà nghe thơm phức làm chảy nước miếng.
Còn giò-cháo-quẩy cho vào cháo, dù đã được cắt khoanh, nhưng vẫn giử nguyên cái
giòn của nó. Cái “béo” của giò-cháo-quẩy làm cho cái “bùi” của cháo càng thêm đậm
đà, và cái “giòn” của giò-cháo-quẩy thì thật “ăn rơ” với cái mềm mềm cứng cứng
của huyết. Ngon không chê được !
Bà xẩm gọi tôi bằng “thầy Hai”. Sau “giải phóng”, từ ngữ
cũng đã được đổi thay – cho nó hạp với... tác phong cách mạng – không còn gọi
“ông A, bà B” gì nữa. Không còn xưng hô “thầy X, cô Y” gì nữa. Mọi giai tầng xã
hội đều được xóa bỏ, mọi chênh lệch tuổi tác hầu như được sang bằng. Trong...
“xã giao thường thức”, để gọi nhau, người ta chỉ còn dùng có hai từ “anh” và
“chị”, vừa ngắn gọn lại vừa... bình đẳng nữa ! Thành ra thấy được xử dụng rất
thoải mái và... xả láng ! (Một hôm, một thằng bé cỡ tuổi cháu tôi đã gọi tôi bằng
“anh”... ngon lành ! Có lẽ trong lòng nó cũng khoái được trịch thượng như vậy.
Bởi vì nó biết “thằng chả không làm gì mình được” ! Đổi đời... sướng ở chỗ đó
!).
Vậy mà bà xẩm vẫn gọi tôi bằng “thầy Hai”, thản nhiên không
ngượng nghịu gì hết ! Có lẽ tại thói quen. Cũng như tôi vẫn gọi bả bằng “thím xẩm”
chớ không là... “chị xẩm” với tiếng “chị” rất... thời trang từ ngữ !
Mặc dù bây giờ người ta hay nghi ngờ, dè dặt, bà xẩm, đối với
tôi, vẫn nói chuyện một cách thật tình cởi mở:
- Tôi nhớ hồi trước thím đâu có cái xe cháo huyết này.
- Thầy Hai nói đúng đó. Hồi trước là cái tiệm. Nó nằm sau
lưng tôi nè. Hồi đó buôn bán khá lắm, thầy Hai à. Tiệm có bốn năm cái bàn lận.
- Tôi biết mà. Hồi đó, lâu lâu tôi có chở vợ con lại
đây ăn. Tôi ở bên Gia Định, gần xịt hè.
- Ủa ! Mà hồi đó thầy làm việc ở đâu vậy ?
- Tôi làm trong ngân hàng ở Chợ Cũ. Lái xe đi về trên
đường này nên mới biết tiệm của thím đó chớ.
- Giải phóng rồi thầy cũng còn làm việc ở sở cũ hả ?
- Đâu có ! Mấy ổng đổi tôi xuống làm việc ở nhà máy ve
chai Khánh Hội.
- Cha... Xa quá há ! Đạp xe chắc mệt hả thầy Hai ? Bây
giờ ai cũng đi xe đạp hết trọi.
- Rồi cũng quen hà. Ủa ? Mà tại sao thím dẹp tiệm đi ?
- Thời buổi khó khăn mà thầy Hai. Giữ chi cái tiệm cho
họ để ý. Làm ăn nhỏ nhỏ thôi. Như thiên hạ vậy mà.
- Rồi mấy đứa con thím đâu ? Tôi nhớ hồi đó trong tiệm
có mấy đứa...
- Đi hết rồi. Đi trước giải phóng.
- Sao thím không đi ?
- Thầy Hai nghĩ coi. Tôi già rồi. Không biết tiếng,
không biết chữ.Đi đâu ? Còn mồ mả chồng tôi, mồ mả ông già bà già ở đây mà đi
đâu ? Còn thầy ? Sao thầy không đi ?
- Tôi kẹt !
Lâu lâu ăn cháo huyết của bà xẩm được một thời gian thì Nhà
Nước đổi tiền. Tôi... trở tay không kịp. Vậy là kẹt cứng. Có khi cả tháng không
dư được một đồng. Lấy gì ăn cháo huyết ?
Để tránh... thấy hàng cháo huyết, mới đầu tôi thay đổi lộ
trình. Tôi đi ngã cầu sắt, vòng qua chợ Bà Chiểu, xa hơn, hôi hơn (vì đi ngang
chợ) và mệt hơn. Được mấy tuần, tôi bỗng nảy ra một sáng kiến (Nhà Nước đã chẳng
dạy: “Ta phải luôn luôn phát huy sáng kiến” à ?). Đó là vẫn đạp xe theo lộ
trình cũ. Nhưng khi đến cách đèn xanh đèn đỏ độ vài chục thước, tôi rà thắng, mắt
nhìn đèn ở đằng xa. Nếu là đèn đỏ, tôi bóp thắng ngừng ngay, đợi. Nếu là đèn
xanh, tôi cắm đầu phóng nhanh đi tuốt. Thật là... thích thú. Tôi phục... tôi
quá chừng !
Chiều hôm đó, đi làm về, mặc dù bụng đói meo, tôi vẫn áp dụng
sáng kiến “canh đèn để vọt” kể trên. Nhưng không hiểu sao đèn đang xang bỗng bật
đỏ ngang không qua đèn vàng, khi tôi chỉ còn cách nó có vài thước. Nếu tôi...
nhắm mắt chạy luôn, chắc cũng không sao. Đằng này, “bản năng” của một người
công dân tốt trong tôi... bóp thắng. Xe đạp lết bánh một khúc rồi ngừng ngay
trước xe cháo huyết !
Tôi chống chân chờ, mắt nhìn đèn đâm đâm. Bỗng tôi nghe tiếng
bà xẩm, giọng niềm nỡ :
- Thầy Hai ! Thầy Hai à ! Trời ơi sao đâu mất vậy ? Vô
ăn cháo đi !
Tôi làm bộ giật mình rồi nhìn về phía bả, mỉm cười cho... lấy
có:
- Thím mạnh hả ?
Giọng của bà xẩm trở nên ân cần:
- Vô ăn cháo đi thầy Hai. Lâu quá mà...
- Tôi không có tiền ! (Tôi đã nói như vậy – dám nói như
vậy – một cách thẳng thừng và không chút ngượng nghịu !).
- Không
có sao ! Vô ăn đi ! Chừng nào trả cũng được. Mình quen mà... Thầy Hai !
Tôi lại nhìn đèn
đỏ. Sao nó không xanh cho rồi, để tôi có cớ mà hối hả đạp đi, tránh được cái
mùi thơm hấp dẫn của cháo huyết và tránh được lời mời rất thân tình của bà xẩm.
Đèn vẫn đỏ ! Như... cố tình đỏ lâu để tôi có thời gian “đấu tranh tư tưởng”: một
bên là “cái đói”, kéo thêm “cái thèm”, còn một bên là “cái xấu hổ” của một người
chưa quen ăn chịu.
Tiếng bà xẩm vang
lên:
- Thầy Hai đừng
ngại mà... Vô ăn đi rồi mai mốt trả. Không có sao !
Lần này,
“cái đói” cộng thêm “cái thèm” đã thắng. Tôi nuốt nước miếng bước xuống xe đạp
thì đèn bật xanh. Nhưng trễ rồi. Thằng người hạ cấp trong tôi không còn đếm xỉa
gì đến đèn xanh đèn đỏ. Nó chỉ còn thấy có tô cháo huyết ! Nó dẫn xe đạp lên lề
khóa xe cẩn thận rồi nó bước lại ngồi lên ghế đẩu trước mặt bà xẩm. Nó còn mỉm
cười chào bả một cách rất tự nhiên, không có vẻ gì của một người sắp sửa ăn chịu.
Bà xẩm hỏi:
- Sao
lâu quá không thấy thầy Hai vậy ?
Nó trả lời...
gọn ơ:
- Tôi
mắc về dưới tỉnh.
- Bà
con ở dưới cũng mạnh hết hả ?
- Dạ,
mạnh.
Bà xẩm múc
cháo, rắc tiêu, rồi đẩy tô cháo đến trước mặt nó:
- Thầy
Hai cứ ăn đi. Chừng nào có tiền trả cũng được, đừng lo !
Nó nuốt nước
miếng, cầm muỗng múc cháo lên đổ cháo xuống cho mau nguội mà mắt sáng rỡ, mũi
hít từng hơi mùi thơm mời mọc.
Giọng bà xẩm
ôn tồn:
- Thời
buổi bây giờ, đâu phải ai cũng còn tiền đâu thầy Hai. Hồi trước, làm ăn dễ, có
đồng ra đồng vô. Bây giờ, càng ngày càng khó khăn, ai cũng chăm bẵm hết.
Ngừng một
chút rồi tiếp:
- Chỗ
quen biết, tôi nói thiệt. Thầy Hai cứ tới ăn tự nhiên, đừng ngại. Chừng nào thầy
Hai trả cũng được hết. Mình với nhau mà... Phải thông cảm với nhau chớ ! Thầy
Hai hiểu tôi không ?
Đến đây, bỗng
thằng người hạ cấp trong tôi biến đâu mất ! Để lại tôi ngượng nghịu cúi đầu
nhìn tô cháo, chỉ nói lí-nhí được có mấy tiếng “Cám ơn thím. Dạ...”, rồi nín
thinh. Tô cháo trước mắt tôi bỗng như to hơn, đầy hơn, đậm đà hơn... Bởi vì tôi
thấy nó phải như vậy mới tương xứng với lòng tốt của bà xẩm. Và lần này, tôi có
cảm tưởng như tôi ăn tô cháo đó chẳng bao giờ cho hết !
Tôi cúi đầu
húp được vài muỗng thì bà xẩm đẩy tới một dĩa giò-cháo-quẩy. Tôi vội
xua tay:
- Không ! Không ! Tôi không ăn giò-cháo-quẩy đâu thím !
- Không phải đâu. Đây là tôi cho thầy Hai mà ! Không
tính tiền !
Tôi ngước lên nhìn bà xẩm, dò xét. Bả nhìn tôi, hiền hòa, gật
đầu nhè nhẹ như để nói “Thiệt mà ! Ăn đi !”. Miếng cháo tôi đang nuốt bỗng nghe
như bị nghẹn ngang ở cổ họng, làm tôi ứa nước mắt... Tôi không dám nhìn bà xẩm
nữa. Tôi nhìn tôi đang cúi đầu húp từng muỗng cháo, trịnh trọng như trong đời
tôi lần đầu tiên tôi được ăn món này, món cháo huyết đậm tình người của bà xẩm
Đakao...
Tiểu Tử
Ông bà mình ngày xưa dạy con dạy cháu rằng: lúc nào cũng phải học, từ "học ăn học nói" đến "học gói học mở" ( Xin lỗi ! Tôi hay đem " ông bà ngày xưa " ra… dẫn chứng mà không một lời nhắc nhở đến "ông bà ngày nay ", bởi vì ở cái thời "ngày xưa" đó, con cháu còn biết ngồi nghe ông bà kể chuyện… đời xưa hay dạy dỗ điều hay lẽ phải… v v . Còn ở cái thời bây giờ, ông bà có… ráng gân cổ lên để nói - gọi là để "giảng mo-ran" - đã chắc gì con cháu nó nghe ! Nhiều lắm là tụi nó… "ậm à ậm ừ" cho lấy có vì đang bận coi télé, gõ PC, gọi điện thoại cầm tay cho bạn bè hay đấu đá nhau trong mấy trò chơi điện tử rộn rã ! Thành ra, ông bà ngày nay chẳng thấy có "những lời vàng ngọc" để mình… dựa vào đó mà viết… biếm văn nói ngược nói xuôi ! Xin ông bà ngày nay thông cảm ! )
"Học
Ăn" ! Chắc có người sẽ nói : "Ăn thì có… khỉ gì mà học ? Cứ ton vô miệng
rồi nhai rồi nuốt, ai mà không biết ! ". Ậy ! " Ăn " , không phải
chỉ vỏn vẹn có nhai rồi nuốt, bởi vì còn phải biết chọn thứ gì để ăn, thứ gì ăn
với thứ gì, rồi ăn làm sao, ăn sống hay ăn chín, ăn nướng hay ăn luộc, rồi
ăn lúc nào, sáng trưa chiều tối, đợi đói mới ăn hay cứ … lu bù xín-xái, rồi ăn
… ngồi hay ăn đứng hay … ăn nằm ( Đừng cười ! Ngày xưa, dân La-mã vẫn nằm mà
ăn. Và ngày nay, ở Việt Nam đã có nhà hàng … nằm rất ăn khách ! ) rồi ăn bóc
hay ăn bằng đũa bằng nĩa bằng dao ? … Mới kể sơ sơ thôi mà đã thấy …chóng mặt
vì rõ ràng là "Ăn, phải học " !
Đúng
vậy ! Mới vào bàn ăn đã phải học "ăn coi nồi ngồi coi hướng". Nhằm chỗ
dành cho ông cả mà " thằng nhỏ " tót vô ngồi là bậy, là thiếu giáo dục,
nghĩa là phường "thất học" ! Rồi, chưa ai cầm đũa hết mà mình đã
"đớp" lia như "quân chết đói"… là không được ! Phải đợi người
lớn gắp trước rồi mình mới… thọc đũa vô và phải từ tốn chớ không được gắp ào ào
như… múa đũa ! Đó ! Ông bà dạy kỹ như vậy ! Vậy mà bây giờ không biết người ta
- những người đã tự hào… được "học ăn" ở các xứ cộng sản vĩ đại anh em
– đã học ăn làm sao mà sau năm 1975 họ vào miền nam Việt Nam áp dụng cái học…
"siêu đẳng" đến nỗi cái "Ăn" - gọn lõn dễ… thương ! - đã biến
thể, kéo theo một lô "phụ chú" đầy… gút mắt: ăn quịt, ăn gian, ăn cướp,
ăn trộm, ăn hối lộ, ăn…! Sau nầy, hỏi ra mới biết họ đã học ăn ở những xứ…
không có gì để ăn nên cái " Ăn " mà họ học hoàn toàn là cái
"Ăn"… ảo, cái "Ăn" không có thật ! Cho nên khi vào nam, họ
thấy cái gì cũng ăn được hết - kể cả nhà cửa đất đai ruộng vườn - vậy là họ cứ…
nhắm mắt đớp như điên ! Cái ăn "không bài bản" đó, người ta gọi theo…
chữ nghĩa là "cái ăn của bọn vô học". Điều lạ là chẳng thấy cha nào
ngã ra chết vì… bội thực hết ! Dầu sao, thiên hạ vẫn luôn đề cao cái "Học
Ăn" mà ông bà mình ngày xưa đã dạy. Để thấy: nó vẫn chưa phải là… quá đát
!
Bây
giờ, nói đến "Học Nói". Xưa nay, người ta hay coi thường sự "Học
nói", cứ nghĩ là ọ ẹ từ nhỏ riết rồi lớn lên tự nhiên biết nói. Vì không học
nói cho nên hễ mở miệng là nói bậy nói bạ, nói trên trời dưới đất, nói… trật đường
rầy, nói trây nói tục, nói như "dùi đục chấm mắm nêm" nói "phang
ngang bửa củi"… nói… v v . Vậy, để tránh tình trạng nói như… chó bươi
thùng rác, ta phải "Học Nói " !
Thông
thường, người ta dạy nói cho có lễ độ, biết nói " dạ thưa ", biết nói
" cám ơn ", biết " khoanh tay cúi đầu " ( đây cũng là một
cách nói, tuy nó không có lời nhưng nó nói lên sự kính trọng người trưởng thượng
) Rồi còn học nói cho văn vẻ thanh tao, không dùng những từ ngữ … đầu đường xó
chợ ( có bực lắm thì cũng biết … xổ nho cho đúng điệu con người có … văn hóa,
ví dụ : thay vì " Đ.Mẹ ! Đ. Bà ! " thì chỉ nên … khạc ra vài tiếng
" Thằng khốn nạn ! Mầy không biết tao là ai à ? " rồi đưa tay vào
lưng quần làm như sắp rút cái gì ra, vậy là đối tượng … xếp ve ngay ! ) Tiếp
theo là học nói làm sao để nói đúng nơi đúng lúc, đúng chủ đề … v v . Và
còn nữa ! "Học Nói", không phải chỉ vài câu là… hết bài ! Cho nên đừng
ngạc nhiên sao có những người tuổi đời đã… nặng ký mà vẫn lui cui đi học nói !
Ở những
nước cộng sản, các lãnh tụ đều thấu triệt cái triết lý vĩ đại của "Học
Nói", cho nên họ học rất kỹ, thuộc nằm lòng bài bản đến độ khi họ nói - họ
gọi là "phát biểu" - họ nói … y chang như nhau, cung cách y chang như
nhau, từ ngữ y chang như nhau !
Có điều là những gì họ học để nói hoàn toàn không … "
dây mơ rễ má " gì với những gì ông bà mình day ! Thành ra, sau năm 1975, ở
miền nam VN có hai … trường phái "Học Nói" : trường phái "cổ điển"
của ông bà để lại và trường phái "cách mạng" du nhập từ các nước
"đồng chí anh em" ! Dĩ nhiên, hai trường phái không… ăn rơ với nhau
cho nên phe nào nói phe nấy nghe ! Mấy cha cán bộ nói – luôn luôn nói tràng
giang đại hải - để họ nghe, còn mình nói là để cho mình nghe. Chỉ có… vỗ tay là
vỗ tay chung, bởi vì bây giờ cái vỗ tay không còn ý nghĩa gì ráo thì khi nào thấy
cán bộ đang nói bỗng ngừng ngang rồi vỗ tay, ta cứ… nhắm mắt vỗ tay ! Cho… nó rồi
!
Sau 1975, dân miền nam già trẻ bé lớn gì cũng phải đi "
Học Nói " hết, bởi vì chánh quyền không muốn thấy dân miền nam… câm !
Tiểu Tử
VĨNH BIỆT NHÀ VĂN TIỂU TỬ
về nhà văn Tiểu Tử:
Họ tên: Võ Hoài Nam
Sanh năm: 1930
Nguyên quán: Gò Dầu Hạ (Tây Ninh )
Bút hiệu: Tiểu Tử
Sống tại Sài Gòn từ 1955 đến 30/4/1975, Năm 1978 vượt biên, định cư tại Pháp, đi làm nhiều nơi, về hưu và mất tái Paris, hưởng thọ 95 tuổi.
– Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955.
– Dạy lý hoá trung học Petrus Ký: 1955/1956.
– Làm việc cho hãng dầu SHELL Việt Nam từ năm tháng 10 năm 1956 đến 30/04/1975.
– Vượt biên cuối năm 1978. Ðịnh cư ở Pháp từ đầu năm 1979 đến nay.
– Làm việc cho hãng đường mía của Nhà nước Côte d’ Ivoire (Phi Châu) 1979/1982.
– Làm việc cho hãng dầu SHELL Côte d’ Ivoire từ năm 1982 đến 1991, về hưu ở Pháp.
– Trước 1975, giữ mục biếm văn ”Trò Ðời” của nhựt báo Tiến.
– Bắt đầu viết truyện ngắn khi lưu vong qua Côte d’Ivoire.
– Tập truyện ”Những Mảnh Vụn” (Làng Văn Toronto xuất bản) là tập truyện đầu tay.

.jpg)
.jpg)