Một Làng Quê, Một
Quảng Đời - Lê văn Thiệu
tản
văn
Tôi sinh ra tại một làng quê tỉnh Quảng Trị. Làng tôi là một vùng đất màu mỡ, trù phú, cách thị xã
Đông Hà chừng bảy cây số về hướng đông.. Con sông Hiếu chảy từ thượng
nguồn, ngang qua thị xã Đông Hà, về đến thôn Gia Độ thì tách thành hai nhánh,
một nhánh nhập vào sông Thạch Hãn xuôi về Cửa Việt, một nhánh rẽ vào làng
tôi, lượn sát trước đình làng, tạo nên một quang cảnh trên bến dưới thuyền
rất thuận tiện cho việc đi lại trên sông nước.
Gần cuối làng về phía đông, con sông
Cánh Hòm nối sông Hiếu với sông Bến Hải, chia làng ra một xóm nhỏ gọi là xóm
Kênh. Đầu xóm Kênh là một vùng đất rất đẹp tọa lạc sát ngã ba sông. Ở đây
được xây dựng một ngôi nhà thờ Công Giáo rất bề thế. Nhà thờ không có cha xứ,
chỉ có một ông trùm trông coi họ đạo. Dân trong xóm, ngoài một số theo Thiên
Chúa Giáo, đa số thờ cúng ông bà, chỉ vỏn vẹn năm bảy gia đình theo
Phật Giáo, trong đó có gia đình tôi.
Ngôi chùa làng tôi, không rõ đã được
xây dựng từ thời nào, có vẻ rất cổ kính, tường chùa bằng gạch, mái ngói âm
dương, nóc chùa có lưỡng long chầu nguyệt và các góc mái có hình long phụng.
Chùa tọa lạc trên môt động đất cao ở phía tây của làng. Đằng sau chùa là một
cánh rừng nhỏ mà đân làng gọi là "lòi" với nhiều cây cao bóng mát. Mặt
trước là một cánh đồng rất khoáng đảng. Chùa không có Thầy Trụ Trì. Một gia
đình cư sĩ sống bên cạnh chùa được cấp đất hương hỏa để lo nhang khói
và chăm sóc chùa. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề
nông, rất hiền hòa và rất hiếu học.
Năm 1954, đất nước bị chia đôi, quê
tôi may mắn nằm về phía nam vỹ tuyến 17, được sống dưới chế độ cộng hòa, tự do
và dân chủ. Làng tôi từ đây khởi sắc. Đời sống vật chất và tâm linh được phát
triển hài hòa. Gia đình êm ấm hạnh phúc...Các cơ sở tôn giáo được tu tạo lai
sau những năm dài chiến tranh chịu ít nhiều hoang phế. Thôn xóm ngày
ngày vang lên tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ và tiếng trẻ em tung tăng đến
trường. Ngôi nhà thờ trong xóm tôi đã có một cha xứ. Cha cho chỉnh trang lại
nhà thờ, xây dựng nhà cửa cho các soeurs ở và mở một trường tiểu học tư
thục.Đây là nơi tôi theo học hai năm cuối của bậc tiểu học. Trước nhà thờ có
một hồ cá rất lớn, xung quanh được trồng hoa ngọ, khoảng mười giờ sáng hoa nở
rất đẹp. Ngoài khuôn viên nhà thờ là con đường chạy dọc theo bờ sông với
hàng cây sầu đông rợp bóng những trưa hè. Sáng trưa chiều tiếng chuông nhà thờ
ngân vang như đánh thức mọi người hướng về với Chúa.
Chiến tranh không còn, làng thôn êm
ấm, đêm hôm việc đi lại trong thôn dễ dàng, từ đó mỗi tối rằm và mồng một bà con
tấp nập đến chùa lễ bái. Ngôi chùa của làng trở nên nhộn nhịp, khói hương
nghi ngút....Gia đình Phật tử được thành lập và sinh hoạt hằng tuần dưới sự
hướng dẫn của các anh chị trưởng.. Mỗi chiều thứ bảy và chủ nhật từng
tốp năm tốp ba các em đoàn sinh từ khắp các nẻo đường thôn xóm kéo về chùa
học Phật pháp hay tập hát, tập múa....rất vui nhộn. Gia đình Phật tử thường tổ
chức các buổi văn nghệ cây nhà lá vườn, dân làng tham gia rất hào hứng. Những
vở kịch, những bài hát về đạo về đời xen lẫn rất được tán thưởng, tạo nên bầu
không khí thân thương và nồng ấm khiến con em tham gia vào sinh hoạt gia đình
Phật tử ngày càng đông. Các anh chị trưởng ngoài những giờ sinh họat còn
tham gia công việc đồng áng, cũng tay cày tay cuốc và những đêm trăng thường
cất cao tiếng hát theo nhip tát nước của những đôi gàu sòng nhặt khoan đều
đặn. Gió mát trăng thanh đã tạo nên môi trường thích hợp cho những cuộc
tình thơ mộng với những buổi hẹn hò trên các bến sông trước làng.
Những ngày lễ Phật đản, quê tôi rộn
lên như một ngày hội lớn. Từ sáng tinh mơ, các cụ ông cụ bà cho đến các em
nhỏ quần áo chỉnh tề tập trung về lễ đài được thiết lập trên gò đất cao trước
làng bên cạnh bờ sông Hiếu. Tiếng chuông, trống bát nhã vang lên hòa lẫn với
mùi hương ngào ngạt tỏa khắp thôn làng. Người người xếp hàng ngay ngắn, chấp
tay hướng về hình tượng sơ sinh của Thái tử Tất Đạt Đa với lòng thành kính
nguyện cầu cho đất nước bình yên, dân sinh hạnh phúc...Đêm đến lễ đài sáng
rực ánh đèn. Dòng sông trước lễ đài lung linh hàng hàng lớp lớp đèn hoa
sen phóng đăng theo dòng nước xuôi về biển đông như một con rồng đang uốn lượn.
Mọi người cảm thấy lòng nhẹ nhàng thanh thản.
Năm 1959, tôi rời quê để lên tỉnh
học. Năm đó quê tôi chỉ có hai học sinh, tôi và vợ tôi bây giờ, trúng tuyển vào
trường Trung học Nguyễn Hoàng, một trường công lập duy nhất của tỉnh Quảng Trị.
Chúng tôi ở trọ chung một nhà và mỗi lần về thăm quê đều cùng đi cùng về với
nhau. Ở với nhau, học chung một lớp dần dà chúng tôi nảy sinh tình cảm và yêu
nhau cho đến ngày nay.
Xong bậc Trung Học, tôi thi và trúng
tuyển vào khóa I Trường Đại Học Chiến Tanh Chính Trị Đà Lạt, trường đào tạo sỹ
quan chuyên ngành Chiến tranh chính trị cho Quân Lực VNCH. Cuộc đời binh nghiệp
đã đưa tôi đi nay đây mai đó, hình ảnh quê hương chỉ còn lại trong ký ức. Nhưng
tôi quên làm sao được một làng quê với những buổi chiều hè gó nồm từ biển Đông
mang hơi nước vào mát rượi, những hoàng hôn khi những gọt nắng còn vương vãi
trên các ngọn cau, từng đàn cò trắng rủ nhau về vổ cánh chập chờn trên các ngọn
cây trong bãi đầm lầy bên cạnh làng., những cánh buồm xuôi ngược dòng sông Hiếu
chở cá từ biển vào và chở hàng hóa từ Đông Hà về các thôn xóm. Tôi nhớ mãi chiếc
cầu sắt bắc qua sông Cánh Hòm nối liền hai xóm, nơi tôi và người bạn gái bé nhỏ
thường đứng tựa thành cầu nhìn dòng nước lững lờ với những đàn cá tung tăng bơi
lội.
Làng thôn êm ấm không bao lâu, quê
tôi dần dần mất an ninh. Đêm đêm những cán bộ cộng sản nằm vùng thường lén lút
vể bắt bớ, ám sát…Rồi chiến tranh bùng nổ và càng ngày càng ác liệt. Quê tôi
nhà tan cửa nát, dân làng tứ tán khắp nơi. Những người dân hiền hòa chất phác,
ngày ngày chỉ quanh quẩn trong bốn lũy tre làng, vui với ruông đồng sông lệch, nay
đành bỏ quê cha đất tổ đi lánh nạn trong các trại tạm cư ở Quảng Nam Đà Nẳng.
Rốt cuộc rồi chiến tranh cũng chấm
dứt. Tôi bị bắt đưa vào các trại tù lao động khổ sai mà cộng sản gọi là trại
cải tạo.Vợ tôi với ba đứa con dại, bụng mang bầu gần sinh đứa con thứ tư, bơ vơ
giữa cảnh đời hỗn loạn ở vùng Non Nước Đà Nẳng, không biết chồng lưu lạc phương
trời nào, đành tìm cách về quê nương nhờ bên ngoại!
Những tháng năm dài trong các trại tù khổ sai của Cộng sản,
lòng tôi không ngớt nghĩ về quê xưa, nơi có người vợ hiền chân yếu tay mềm, một
mình với bốn đứa con dại, phần trăn trở nuôi con, phần xoay xở tiếp tế cho chồng.
Tôi mơ ước được trở về làng cũ, đoàn tụ bên vợ con, vui với cảnh đồng áng cùng bà con làng xóm. Những
khát khao ấy vẫn âm ỷ cháy trong tim nhưng con đường trước mắt vẫn mịt mù tăm tối.
Làm bạn với núi rừng, tai nghe quen tiếng chim kêu vượn hú, thân xác hao mòn và
đầu óc cũng thui chột!.Ngày ngày chứng kiến cảnh bạn bè ngã xuống vì đói, vì bệnh hoạn không thuốc men, vì làm
viêc quá mức, nghĩ đến thân phận mình không biết rồi sẽ ra sao! Đêm đêm tôi chỉ
bết nguyện cầu ơn trên gia hộ cho tôi được bình yên đến ngày ra khỏi cái địa
nguc trần gian này.
Và rồi sau gần bảy năm, tôi cũng được phóng thích. Tôi trở
về quê cũ, gặp lại vợ hiền và đàn con dại là niềm hạnh phúc vô biên. Tôi cố
quên đi quá khứ, chấp nhận gian khổ để thích nghi với đời sống trong hoàn cảnh
hiện tại. Nhìn lại xung quanh, tôi không khỏi ngậm ngùi khi thấy tất cả đều
thay đổi. Làng thôn xơ xác, dân làng ai nấy tất bật ngược xuôi tìm miếng cơm
manh áo. Đình, chùa miếu vũ tan hoang đổ nát. Đã bảy năm không còn tiếng súng quê
tôi vẫn xác xơ, nghèo khổ, không tìm đâu ra bóng dáng của những trai thanh gái
lịch ngày trước. Ai nấy quần xăn áo bo, lầm lì hối hả.Tôi đang đứng giữa làng
tôi mà tưởng chừng như ở một nơi xa lạ. Ngôi nhà thờ bề thế ngày nào bây giờ
không thể tìm ra dấu vết. Xóm dân chài ngày trước nay đã đươc chính quyền cấp đất
trong khuôn viên nhà thờ để dựng nhà. Ngôi trường tiểu học xinh xắn, nơi đã từng
ấp ủ bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu của tôi đã biến mất. ÔI những bạn bè ngày
xưa giờ ở đâu, có hay chăng một mình tôi ở đây lòng rưng rưng nhớ về các bạn.
Ngôi chùa cổ kính của làng cũng chỉ còn đông gạch vụn, sân chùa phủ đầy cỏ dại.
Tôi đứng lặng âm thầm nhớ đến câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan; “Tạo hóa gây chi
cảnh hí trường!?”Ngỡ rằng đất nước thanh bình, thống nhất, mọi người sẽ
cùng nắm tay nhau xây dựng lại quê hương rách nát sau bao năm dài chìm đắm
trong chiến tranh, tiếc thay những người cộng sản đã không làm như thế! Với
lòng thù hận, sự cao ngạo vì say men chiến thắng và sự lãnh đạo yếu kém họ đã
làm cho một miền Nam giàu có đang trên đà phát triển trở nên nghèo nàn đói khổ.
Quê tôi ruộng vườn bị đưa vào hợp tác
xã, làm ăn tập thể, cơm không đủ ăn , áo không đủ mặc. Những người giữ trâu
chăn bò ngày trước, sau một thời gian đi hoạt động du kích, nay trở thành chủ tịch
bí thư lòng hiêu hiêu tự đắc. Biết đến bao giờ quê tôi mới tìm lại được nếp sống
phồn vinh của những ngày tháng cũ?! Lòng xót xa, tôi mơ hồ nghe thoang thoảng
bên tai giọng ca Duy Khánh:” Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn, anh
chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi!”
Lê Văn Thiệu