Friday, March 12, 2021

Một Làng Quê, Một Quảng Đời - Lê văn Thiệu
tản văn


Tôi sinh ra tại một làng quê tỉnh Quảng Trị. Làng tôi là một vùng đất màu mỡ, trù phú, cách thị xã Đông Hà chừng bảy cây số về hướng đông.. Con sông Hiếu chảy từ thượng nguồn, ngang qua thị xã Đông Hà, về đến thôn Gia Độ thì tách thành hai nhánh, một nhánh nhập vào sông Thạch Hãn xuôi về Cửa Việt, một nhánh rẽ vào làng tôi, lượn sát trước đình làng, tạo nên một quang cảnh trên bến dưới thuyền rất thuận tiện cho việc đi lại trên sông nước.


Gần cuối làng về phía đông, con sông Cánh Hòm nối sông Hiếu với sông Bến Hải, chia làng ra một xóm nhỏ gọi là xóm Kênh. Đầu xóm Kênh là một vùng đất rất đẹp tọa lạc sát ngã ba sông. Ở đây được xây dựng một ngôi nhà thờ Công Giáo rất bề thế. Nhà thờ không có cha xứ, chỉ có một ông trùm trông coi họ đạo. Dân trong xóm, ngoài một số theo Thiên Chúa Giáo, đa số thờ cúng ông bà, chỉ vỏn vẹn năm bảy gia đình theo Phật Giáo, trong đó có gia đình tôi.
Ngôi chùa làng tôi, không rõ đã được xây dựng từ thời nào, có vẻ rất cổ kính, tường chùa bằng gạch, mái ngói âm dương, nóc chùa có lưỡng long chầu nguyệt và các góc mái có hình long phụng. Chùa tọa lạc trên môt động đất cao ở phía tây của làng. Đằng sau chùa là một cánh rừng nhỏ mà đân làng gọi là "lòi" với nhiều cây cao bóng mát. Mặt trước là một cánh đồng rất khoáng đảng. Chùa không có Thầy Trụ Trì. Một gia đình cư sĩ sống bên cạnh chùa được cấp đất hương hỏa để lo nhang khói và chăm sóc chùa. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề nông, rất hiền hòa và rất hiếu học.


Năm 1954, đất nước bị chia đôi, quê tôi may mắn nằm về phía nam vỹ tuyến 17, được sống dưới chế độ cộng hòa, tự do và dân chủ. Làng tôi từ đây khởi sắc. Đời sống vật chất và tâm linh được phát triển hài hòa. Gia đình êm ấm hạnh phúc...Các cơ sở tôn giáo được tu tạo lai sau những năm dài chiến tranh chịu ít nhiều hoang phế. Thôn xóm ngày ngày vang lên tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ và tiếng trẻ em tung tăng đến trường. Ngôi nhà thờ trong xóm tôi đã có một cha xứ. Cha cho chỉnh trang lại nhà thờ, xây dựng nhà cửa cho các soeurs ở và mở một trường tiểu học tư thục.Đây là nơi tôi theo học hai năm cuối của bậc tiểu học. Trước nhà thờ có một hồ cá rất lớn, xung quanh được trồng hoa ngọ, khoảng mười giờ sáng hoa nở rất đẹp. Ngoài khuôn viên nhà thờ là con đường chạy dọc theo bờ sông với hàng cây sầu đông rợp bóng những trưa hè. Sáng trưa chiều tiếng chuông nhà thờ ngân vang như đánh thức mọi người hướng về với Chúa.


Chiến tranh không còn, làng thôn êm ấm, đêm hôm việc đi lại trong thôn dễ dàng, từ đó mỗi tối rằm và mồng một bà con tấp nập đến chùa lễ bái. Ngôi chùa của làng trở nên nhộn nhịp, khói hương nghi ngút....Gia đình Phật tử được thành lập và sinh hoạt hằng tuần dưới sự hướng dẫn của các anh chị trưởng.. Mỗi chiều thứ bảy và chủ nhật từng tốp năm tốp ba các em đoàn sinh từ khắp các nẻo đường thôn xóm kéo về chùa học Phật pháp hay tập hát, tập múa....rất vui nhộn. Gia đình Phật tử thường tổ chức các buổi văn nghệ cây nhà lá vườn, dân làng tham gia rất hào hứng. Những vở kịch, những bài hát về đạo về đời xen lẫn rất được tán thưởng, tạo nên bầu không khí thân thương và nồng ấm khiến con em tham gia vào sinh hoạt gia đình Phật tử ngày càng đông. Các anh chị trưởng ngoài những giờ sinh họat còn tham gia công việc đồng áng, cũng tay cày tay cuốc và những đêm trăng thường cất cao tiếng hát theo nhip tát nước của những đôi gàu sòng nhặt khoan đều đặn. Gió mát trăng thanh đã tạo nên môi trường thích hợp cho những cuộc tình thơ mộng với những buổi hẹn hò trên các bến sông trước làng.


Những ngày lễ Phật đản, quê tôi rộn lên như một ngày hội lớn. Từ sáng tinh mơ, các cụ ông cụ bà cho đến các em nhỏ quần áo chỉnh tề tập trung về lễ đài được thiết lập trên gò đất cao trước làng bên cạnh bờ sông Hiếu. Tiếng chuông, trống bát nhã vang lên hòa lẫn với mùi hương ngào ngạt tỏa khắp thôn làng. Người người xếp hàng ngay ngắn, chấp tay hướng về hình tượng sơ sinh của Thái tử Tất Đạt Đa với lòng thành kính nguyện cầu cho đất nước bình yên, dân sinh hạnh phúc...Đêm đến lễ đài sáng rực ánh đèn. Dòng sông trước lễ đài lung linh hàng hàng lớp lớp đèn hoa sen phóng đăng theo dòng nước xuôi về biển đông như một con rồng đang uốn lượn. Mọi người cảm thấy lòng nhẹ nhàng thanh thản. 


Năm 1959, tôi rời quê để lên tỉnh học. Năm đó quê tôi chỉ có hai học sinh, tôi và vợ tôi bây giờ, trúng tuyển vào trường Trung học Nguyễn Hoàng, một trường công lập duy nhất của tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi ở trọ chung một nhà và mỗi lần về thăm quê đều cùng đi cùng về với nhau. Ở với nhau, học chung một lớp dần dà chúng tôi nảy sinh tình cảm và yêu nhau cho đến ngày nay. 


Xong bậc Trung Học, tôi thi và trúng tuyển vào khóa I Trường Đại Học Chiến Tanh Chính Trị Đà Lạt, trường đào tạo sỹ quan chuyên ngành Chiến tranh chính trị cho Quân Lực VNCH. Cuộc đời binh nghiệp đã đưa tôi đi nay đây mai đó, hình ảnh quê hương chỉ còn lại trong ký ức. Nhưng tôi quên làm sao được một làng quê với những buổi chiều hè gó nồm từ biển Đông mang hơi nước vào mát rượi, những hoàng hôn khi những gọt nắng còn vương vãi trên các ngọn cau, từng đàn cò trắng rủ nhau về vổ cánh chập chờn trên các ngọn cây trong bãi đầm lầy bên cạnh làng., những cánh buồm xuôi ngược dòng sông Hiếu chở cá từ biển vào và chở hàng hóa từ Đông Hà về các thôn xóm. Tôi nhớ mãi chiếc cầu sắt bắc qua sông Cánh Hòm nối liền hai xóm, nơi tôi và người bạn gái bé nhỏ thường đứng tựa thành cầu nhìn dòng nước lững lờ với những đàn cá tung tăng bơi lội. 


Làng thôn êm ấm không bao lâu, quê tôi dần dần mất an ninh. Đêm đêm những cán bộ cộng sản nằm vùng thường lén lút vể bắt bớ, ám sát…Rồi chiến tranh bùng nổ và càng ngày càng ác liệt. Quê tôi nhà tan cửa nát, dân làng tứ tán khắp nơi. Những người dân hiền hòa chất phác, ngày ngày chỉ quanh quẩn trong bốn lũy tre làng, vui với ruông đồng sông lệch, nay đành bỏ quê cha đất tổ đi lánh nạn trong các trại tạm cư ở Quảng Nam Đà Nẳng.


 
Rốt cuộc rồi chiến tranh cũng chấm dứt. Tôi bị bắt đưa vào các trại tù lao động khổ sai mà cộng sản gọi là trại cải tạo.Vợ tôi với ba đứa con dại, bụng mang bầu gần sinh đứa con thứ tư, bơ vơ giữa cảnh đời hỗn loạn ở vùng Non Nước Đà Nẳng, không biết chồng lưu lạc phương trời nào, đành tìm cách về quê nương nhờ bên ngoại!


 
Những tháng năm dài trong các trại tù khổ sai của Cộng sản, lòng tôi không ngớt nghĩ về quê xưa, nơi có người vợ hiền chân yếu tay mềm, một mình với bốn đứa con dại, phần trăn trở nuôi con, phần xoay xở tiếp tế cho chồng. Tôi mơ ước được trở về làng cũ, đoàn tụ bên vợ con,  vui với cảnh đồng áng cùng bà con làng xóm. Những khát khao ấy vẫn âm ỷ cháy trong tim nhưng con đường trước mắt vẫn mịt mù tăm tối. Làm bạn với núi rừng, tai nghe quen tiếng chim kêu vượn hú, thân xác hao mòn và đầu óc cũng thui chột!.Ngày ngày chứng kiến cảnh bạn bè ngã xuống  vì đói, vì bệnh hoạn không thuốc men, vì làm viêc quá mức, nghĩ đến thân phận mình không biết rồi sẽ ra sao! Đêm đêm tôi chỉ bết nguyện cầu ơn trên gia hộ cho tôi được bình yên đến ngày ra khỏi cái địa nguc trần gian này.


Và rồi sau gần bảy năm, tôi cũng được phóng thích. Tôi trở về quê cũ, gặp lại vợ hiền và đàn con dại là niềm hạnh phúc vô biên. Tôi cố quên đi quá khứ, chấp nhận gian khổ để thích nghi với đời sống trong hoàn cảnh hiện tại. Nhìn lại xung quanh, tôi không khỏi ngậm ngùi khi thấy tất cả đều thay đổi. Làng thôn xơ xác, dân làng ai nấy tất bật ngược xuôi tìm miếng cơm manh áo. Đình, chùa miếu vũ tan hoang đổ nát. Đã bảy năm không còn tiếng súng quê tôi vẫn xác xơ, nghèo khổ, không tìm đâu ra bóng dáng của những trai thanh gái lịch ngày trước. Ai nấy quần xăn áo bo, lầm lì hối hả.Tôi đang đứng giữa làng tôi mà tưởng chừng như ở một nơi xa lạ. Ngôi nhà thờ bề thế ngày nào bây giờ không thể tìm ra dấu vết. Xóm dân chài ngày trước nay đã đươc chính quyền cấp đất trong khuôn viên nhà thờ để dựng nhà. Ngôi trường tiểu học xinh xắn, nơi đã từng ấp ủ bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu của tôi đã biến mất. ÔI những bạn bè ngày xưa giờ ở đâu, có hay chăng một mình tôi ở đây lòng rưng rưng nhớ về các bạn. Ngôi chùa cổ kính của làng cũng chỉ còn đông gạch vụn, sân chùa phủ đầy cỏ dại. Tôi đứng lặng âm thầm nhớ đến câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan; “Tạo hóa gây chi cảnh hí trường!?”Ngỡ rằng đất nước thanh bình, thống nhất, mọi người sẽ cùng nắm tay nhau xây dựng lại quê hương rách nát sau bao năm dài chìm đắm trong chiến tranh, tiếc thay những người cộng sản đã không làm như thế! Với lòng thù hận, sự cao ngạo vì say men chiến thắng và sự lãnh đạo yếu kém họ đã làm cho một miền Nam giàu có đang trên đà phát triển trở nên nghèo nàn đói khổ.  Quê tôi ruộng vườn bị đưa vào hợp tác xã, làm ăn tập thể, cơm không đủ ăn , áo không đủ mặc. Những người giữ trâu chăn bò ngày trước, sau một thời gian đi hoạt động du kích, nay trở thành chủ tịch bí thư lòng hiêu hiêu tự đắc. Biết đến bao giờ quê tôi mới tìm lại được nếp sống phồn vinh của những ngày tháng cũ?! Lòng xót xa, tôi mơ hồ nghe thoang thoảng bên tai giọng ca Duy Khánh:” Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn, anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi!”


Lê Văn Thiệu