TRANG SINH HOẠT CỦA BÀ CON QUẢNG TRỊ BẮC CALIFORNIA & THÂN HỮU YÊU MẾN QUẢNG TRỊ
▼
Wednesday, December 29, 2021
Hỡi Anh Đi Đường
Cái Quan - Thái
Công Tụng
Con
đường cái quan, chạy dài từ Bắc vô Nam, xuyên qua các đồng bằng duyên hải miền
Trung, xuyên đèo, qua suối, với câu hát trữ tình và trêu ghẹo:
Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân đứng lại em than đôi lời Đi đâu vội lắm ai ơi Công việc đã có chị tôi ở nhà Miền
Trung gồm những đồng bằng từ Thanh Hoá vào đến Bình Thuận, có nhiều dòng sông
chảy qua. Các dòng sông miền Trung cũng rất đa dạng: .
khi ngắn vì phát xuất từ sườn Đông dãy Trường Sơn vốn không xa bờ biển .
khi dài vì phát nguyên từ đất Ai Lao ( hay có chảy qua đất Lào) và vì
chảy qua các vùng có chế độ mưa khác nhau nên sự phân phối dòng chảy trong năm
cũng khác biệt. Cũng
cùng một dòng sông nhưng có thể có nhiều tên khác nhau, tùy theo khúc sông. Nhiều
dòng sông có tính cách lịch sử như sông Danh, sông Bến Hải vì chứng kiến sự
phân chia đất nước. Có dòng sông chảy qua vùng có đá vôi ở thượng nguồn như
sông Danh, sông Nhật Lệ, có sông chảy qua lưu vực đá phún xuất như sông Ba v.v
. Sông
ngòi có khi hiền hoà trôi, đem phù sa về đồng bằng, tạo nên xóm làng trù
phú yên vui nhưng có lúc giận dữ với nước lụt trôi về với dòng chảy mạnh cuốn
trôi ra biển người và tài sản. 1. Những
dòng sông chính tại các đồng bằng duyên hải miền Trung dọc con đường cái quan Nhiều
dòng sông chính ở đồng bằng này có duyên nợ với đất Lào vì sông Mã bắt nguồn từ
tỉnh Lai Châu, xuôi về tỉnh Sơn La nhưng sau đó chảy sang Sầm Nưa đất Lào trên
một đoạn đường dài hơn 50 km, trở lại vào đất Thanh Hoá, hội lưu với sông
Chu rồi ra biển ở cửa Lạch Trào. Sông
Mã dài 512km, và có một lưu vực rộng 28 400km2. Một phần của trung lưu
nàm trên đất Lào .Phía thượng lưu sông Mã có nhiều thác lón nhỏ cũng như những
vực là những vũng nước sâu trong lòng sông. Sông Mã chảy qua nhiều khu
vực có nhiều chế độ mưa khác nhau nên sự phân phối dòng chảy trong năm
cũng khá phức tạp : nhiều thác, nhiều vực, và còn có đặc điểm là thường
đổi dòng, đổi lạch, nhất là các đoạn phía trên có bãi cát ngầm thường di chuyển
vị trí do sự thay đổi của dòng chảỵ. Nhờ Sông Mã nên sự trao đổi hàng hoá giữa
miền xuôi và miền ngược rất dễ dàng và phương tiện chính là đò . Dọc sông Mã có
sông nhánh như sông Lèn ở bên trái, sông Lò và sông Lường ở bên phải Sông
Chu, dài khoảng 300km, bắt nguồn từ đất Sầm Nưa trên Lào, chảy vào
địa phận tỉnh Thanh Hoá ở huyện Thường Xuân và đổ vào sông Mã ở phía bắc thành
phố. Sông
Mã cũng dễ lụt như sông Hồng nên cũng có hệ thống đê điều nhằm hạn chế lũ lụt Đồng
bằng này lại có đập Bái Thượng nên nước trong các kênh mương được
dẫn vào ruộng lúa. Ngoài hai sông chính là Sông Mã và sông Chu, còn có những
sông nhỏ khác như sông Yên chảy qua các huyện Nông Cống, Quảng Xương và Tĩnh
Gia rồi đổ ra cửa Lạch Ghép. 1.2. đồng bằng Nghệ An -
Sông Cả dài 600km, bắt nguồn từ cao nguyên XiêngKhouang trên Lào, chảy
theo hướng TB - ĐN qua nhiều huyện của Nghệ An rồi đổ ra biển ở Cửa Hội. Đoạn
hạ lưu có tên sông Lam. Một trong các chi lưu của sông Lam là sông Nghèn
chảy theo hướng TB- ĐN trong các huyện Đức Thọ, Can Lộc và Thạch Hà và đổ ra
Biển Đông ở Cửa Sót chỉ cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 10km phía Bắc. Diện tích lưu
vực khoảng 27 200 km2, một phần lưu vực nằm trên đất Lào, chiếm khoảng 35%
diện tích. Sau
khi sông Cả chạy qua Con Cuông, thì tiếp nhận nước từ bờ trái là sông Hiếu. Sông
này bắt nguồn từ dãy núi Phu Hoat. Đập Đô Lương trên Sông Cả tưới được
nhiều ruộng ở các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu . Từ
Đô Lương trở đi, sông Cả đi vào đồng bằng, lòng sông nhiều uốn khúc. Cách
cửa sông 30 km, gần Bến Thủy, sông Cả lại nhận thêm nước từ hai sông là Ngàn
Sâu và Ngàn Phố. Lưu
vực sông Cả có diện tích 27 224 km2, trong đó 9 470 km2 thuộc
vùng núi Ai Lao (Xieng Khoang và Sầm Nứa) -Sông
Cấm là con sông nhỏ chảy theo hướng N- B, qua chân núi Cấm ỏ huyện Nghi Lộc
rồi ra biển ở Cửa Lò. Đồng
bằng Nghệ An gồm các phù sa cận đại lẫn các giải cát duyên hải như ở Diễn
Châu, ở Cửa Lò và Nghi Lộc gần Vinh.. Đặc biệt tại Quỳnh Lưu có nhiều gia đình
nuôi hươu lấy lộc nhung bán. 1.3. đồng bằng Hà Tĩnh
có giãy núi Trường Sơn chạy gần biển, đặc biệt có rặng núi Hồng Lĩnh (tên khác:
Ngàn Hống) với 99 ngọn núi hình răng cưa sừng sững chọc trời, nhưng cũng có vài
thung lủng rộng ở phiá trong như tại huyện Hương Khê giáp Lào. Câu ca dao: Bao giờ Ngàn Hống hết cây Sông Lam hết nước họ này hết quan để
nói về dòng họ gia đình khoa bảng cụ Nguyễn Du. Có
hai dòng sông quan trọng : -
Ngàn Sâu chảy qua thung lũng Hương Khê, chảy theo hướng N- B -Ngàn
Phố là sông bắt nguồn từ vùng biên giới Việt Lào thuộc huyện Hương
Sơn. Trên thượng nguồn sông này có đập chắn ngang tạo ra hồ nhân tạo, hồ Kẻ Gỗ. Hai
sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố gặp nhau ở Linh Cảm rồi chảy vào Sông Lam để ra biển
ở Cửa Hội. Tại đồng bằng này, các suối ở phía thượng nguồn có phương ngữ là
‘rào’ như ca dao sau đây : Đến đây lạ bến lạ rào, Hõi con chim hồng nhạn, ở phương nào tới đây Kèo mai, nhớ núi chim bay Ai nhớ chim muốn hỏi, biết thư bày ra sao ? 1.4 .đồng bằng Quảng Bình -Sông
Nhật Lệ, còn có tên khác là Đại Giang chảy trong huyện Bố Trạch và Quảng
Ninh rồi đổ ra cửa cùng tên ở cách Đồng Hới khoảng 3 km về phía ĐB. Tiếng hát
ngư ông giữa dòng Nhật Lệ Tiếng kêu
đàn nhạn trên áng Hoành Sơn Khúc
thượng nguồn của sông Nhật Lệ, trong huyện Bố Trạch có tên là sông Sa Lung. Có
phụ lưu lớn bên phía phải (hữu ngạn) là sông Trạm ( Kiến Giang).Sông Kiến
Giang
là một trong hai phụ lưu lớn của sông Nhật Lệ. Sông
Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sông dài 58 km. Hầu hết các con
sông ở Việt Nam đều chảy theo hướng đông nam, riêng con sông này chảy theo
hướng đông bắc nên còn được gọi là nghịch hà. Trước đây, hàng năm con
sông này gây lũ lụt cho vùng đồng bằng xung quanh do sông dốc, ngắn. Sau khi có
đập An Mã ngăn ở thượng nguồn, nạn lũ lụt đã được khống chế- -Sông
Gianh, có tên khác là Rào Nậy, Linh Giang dài 155 km, bắt nguồn từ
rặng núi đá vôi Giăng Màn (có hình thù kéo dài liên tục nên có tên Giăng Màn) ở
biên giới Việt Lào, chảy theo hướng TB - ĐN qua các huyện Tuyên Hoá, Quảng
Trạch rồi đổ ra biển ở cửa cùng tên. Bền bờ sông Nhật Lệ có di
tích lũy Thầy, do Đào Duy Từ xây dựng năm 1631.Trong cuộc chiến
Trịnh – Nguyễn, ông đã xây một chiến lũy để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến lũy này
chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Người dân
gọi chiến lũy này là Lũy Thầy (tức là lũy do Thầy Đào Duy Từ xây dựng). Trong
đồng bằng, có một phá lớn gọi là phá Hạc Hải, nhiều thủy sản, nằm cách Đồng Hới
khoảng 27km về phía Nam. 1.5. đồng bằng Quảng Trị -Sông
Bến Hải chỉ dài khoảng 60 km, chảy ra Biển Đông ở Cửa Tùng, có cầu
Hiền Lương là nơi phân chia hai miền Nam Bắc, nằm ở vĩ tuyến 17, theo hiệp định
Geneve 1954 -Sông
Thạch Hãn bắt đầu từ sườn Đông dãy Truờng Sơn chảy về biển qua các địa danh
Cà Lu, Ba Lòng, thành phố Quảng Trị rồi hợp với sông Cam Lộ. Sông
này chảy qua vùng đất huyện Cam Lộ, chảy qua thị xã Đông Hà , đổ vào sông
Thạch Hãn, rồi đổ ra Cửa Việt. Cách
thị xã Quảng Trị 4km phía Bắc có địa danh Ái Tử được nhắc nhở qua ca dao : Mẹ
thương con, qua cầu Ái Tử
Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu Một mai bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa Hạ, biết mấy Thu cho gặp chàng 1.6. đồng bằng Thừa Thiên Từ
ngoài vào, phải kể: -Sông
Ô Lâu ở địa phận huyện Quảng Điền . -Sông
Bồ là phụ lưu bên trái của sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi A Lưới, chảy
theo hướng TB - ĐN rồi đổ vào sông Hương ở huyện Phú Vang. -Sông
Hương bắt đầu từ vùng núi huyện Nam Đông, chảy qua huyện Hương Thủy và
thành phố Huế, rồi đổ ra phía N phá Tam Giang. Do hai nhánh Tả trạch và Hữu trạch
hợp lại ở Ngã Ba Tuần trước khi vào đồng bằng . Cả
ba con sông trên đều chảy vào phá Tam Giang là một phá rất dài vì chiều
dài là 30 km và rộng từ 1 đến 6 km. Ở phía Nam, phá ăn thông với các
đầm: Thanh Lam, Hà Trung, Thủy Tú, Cầu Hai và trước trận lụt lịch sử
1999, có hai cửa ăn thông ra Biển Đông là Thuận An và Tư Hiền. -
Hai con sông Nong và Truồi phát xuất từ núi Truồi và đổ vào đầm Cầu Hai. Đầm
Cầu Hai, toả rộng dưới chân núi Bạch Mã (1444m) ngắn và rộng, thông thương với
đầm (‘phá’) Tam Giang và đổ ra biển ở cửa Tư Hiền. Nhìn vào bản đồ, phá Tam
Giang tương tự như một dòng sông, còn đầm Cầu Hai giống như một cái hồ lớn. Các
đầm phá Cầu Hai, Tam Giang này, qua các trận lũ lụt cuối năm 1999, đã có thêm
nhiều cửa biển nữa. Riêng phá Tam Giang-Cầu Hai này đã chiếm 1/3 diện tích toàn
tỉnh Thừa Thiên và 30% dân số Thừa Thiên sống quanh vùng phá-đầm này. Phá Tam
Giang đã trở thành bất hủ với câu ca dao: Nhớ em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang 1.7. đồng bằng Quảng Nam .-Sông
Hàn (tên khác : sông Cẩm Lệ, sông Hà Thân ..tùy theo từng khúc
khi chảy qua các địa phương khác nhau) chảy qua thành phố Đà Nẳng rồi đổ ra
Vủng Hàn. -Đứng bên đất Hàn, Ngó qua Hà Thanh, xanh như tàu lá Đứng bên Hà Thanh Ngó qua bên Hàn, phố xá nghênh ngang -Em đứng nơi cửa sông Hàn Ngó sang bãi biển Tiên Sa Ngũ Hành Sơn ở trên Mủi Sơn Trà ngoài khơi Nghe chuông chùa Non Nưóc Em nhớ mấy lời thề ước Anh làm sao cho duyên nợ đuợc
vuông tròn Kèo lòng người xứ Quảng mỏi mòn
đợi trông .-Sông
Thu Bồn dài 205 km và lưu vực rộng 10 496 km2. Sông Thu Bồn còn
có một phụ lưu khác, gọi là sông Cái (tên khác: sông Chợ Củi), cũng bắt nguồn
vùng biên giới Việt-Lào, nối với sông Thu Bồn ở huyện Đại Lộc. Sông Cái lại có
một phụ lưu bên phải ở khúc thượng nguồn tên là Sông Bung, chảy theo
hướng TN- ĐB trong huyện Giằng Sông Thu nước chảy đôi dòng, Đèn khêu hai ngọn anh trông ngọn nào ? Muốn tắm mát lên ngọn sông đào, Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh Một
phụ lưu lớn phía phải sông Thu Bồn có tên là sông Tranh, bắt nguồn từ miền núi
huyện Trà Mi, chảy từ Nam lên phía Bắc qua các huyện Hiệp Đức, vùng mỏ than An
Hoà Nông Sơn. Sông
Thu Bồn chảy qua Hội An để đổ ra Cửa Đại (Đại Chiêm). Hội An trước kia
nằm sát biển, nay đã lùi sâu vào trong đất liền. Nhờ một nông nghiệp phong phú
ở đồng bằng Quảng Nam nên vào thế kỷ 17, qua cảng Hội An, các thương gia người
Hoa, người Nhật đã mua và xuất cảng nhiều sản phẩm như tơ lụa, đường, quế, tiêu
v.v. Nối
sông Tam Kỳ với sông Thu Bồn là một sông nhỏ ( ‘Trường giang’), chảy song song
với bờ biển và đây là tàn tích của một phá nưóc mặn xưa kia càng ngày bị bồi
lấp, nằm dọc bờ biển tỉnh Quảng Nam. Bánh xe lấy
nước trên sôn Trà Khúc: 1.8. đồng bằng Quảng Ngãi -Sông
Trà Bồng chảy trong huyện cùng tên, qua thị trấn Châu Ổ, huyện lị huyện
Bình Sơn rồi đổ ra cửa Sa Kì ở vũng Dung Quất: Đi ngang lên mũi Sa Kỳ Ngó ra lao Ré, xiết chi nỗi sầu Lao Ré trong ca dao là Cù Lao Ré, còn gọi là đảo Lý
Sơn ỏ ven bờ biển Quảng Ngãi -Sông Trà Khúc ( còn có tên khác là sông Thạch Nham) dài
120 km, phát nguyên vùng núi phía TN tỉnh Quảng Ngãi và Cao Nguyên, chảy
theo hướng TN - ĐB qua thị xã Quảng Ngãi và đổ ra biển ở cửa Cổ Lủy. Trên sông
này có đập thủy nông Thạch Nham xây vào thời đệ nhất Cọng Hoà năm 1959 Ai về Thiên Ấn sông Trà Có thương thì hãy ghé nhà thăm em -Sông Vệ bắt nguồn ở phía TN huyện Ba Tơ, chảy
theo hướng TN- ĐB qua các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa trong tỉnh Quảng Ngãi, rồi
đổ ra cửa Cổ Lủy ở phía Đ thị xã Quảng Ngãi. -sông Trà Cầu là một sông nhỏ, bắt nguồn từ
vùng Ba Tơ, chảy qua huyện Đức Phổ rồi ra cửa biển cùng tên . 1.9. đồng bằng Bình Định có nhiều đồng bằng nhỏ (Tam Quan, Bồng Sơn, Phù
Mỹ, Phù Cát) với tổng diện tích chừng 1 550 km2, nhưng chỉ có đồng bằng
Qui Nhơn là rộng nhất vì chiếm đến 500km2; Từ ngoài vào, phải kể : - Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi huyện
Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi Nước Ba Tơ chảy vô Bình
Định Nhắn bạn chung tình tránh nịnh,
chớ theo và chảy từ Bắc xuống Nam qua các huyện An Lão, Hoài Ân
tỉnh Bình Định và hợp với sông Lại (Lại Giang) ở gần thị trấn huyện lị huyện
Hoài Nhơn trước khi đổ ra biển Nước Lại Giang mênh mang mùa nắng Dòng sông Côn lai láng mùa mưa Đã cam tháng đợi năm chờ Duyên em đục chịu, trông nhờ quản
bao -sông Trúc chỉ là một sông nhỏ chảy từ đầm Trà Ổ ra biển ở huyện
Phù Mỹ. -Sông Côn dài hơn sông trên, phát nguyên
từ khối núi Ngọc Rô ở huyện Kon Plong tỉnh Kontum, đoạn thượng lưu là sông Dak
Cron Bung, đoạn trung lưu, chảy vào huyện Tây Sơn có tên sông Hà Giao,
đoạn hạ lưu chia ra nhiều chi lưu, đổ ra vịnh Quy Nhơn. Vài ca dao có địa danh thuộc Bình Định như sau: -Anh về Đập Đá , Gò Găng Để em kéo vải sáng trăng một mình -Tam Quan đất tốt trồng dừa Nam thanh nữ tú cho vừa ý anh 1.10. đồng bằng Tuy Hoà
do Sông Ba bồi đắp. Đây là một con sông lớn và dài gần 400km, bắt nguồn từ cao
nguyên Kontum, chảy qua các tỉnh Pleiku và Phú Yên rồi ra biển ỏ Tuy Hoà . Đoạn
hạ lưu, từ chỗ hợp lưu với sông Hinh ỏ Củng Sơn, chảy ra biển,gọi
là sông Đà Rằng, có đập Đồng Cam . Lưu vực rất rộng ( 13800km2); với một lưu
vực rộng lớn như thế cọng thêm hệ thống dẫn nước của đập Đồng Cam tưới các cánh
đồng phù sa phì nhiêu, tạo một nền nông nghiệp phát đạt.: Tiếng
đồn Bình Định tốt nhà Phú
Yên tốt ruộng, Khánh Hoà tốt trâu Bên
phải sông Ba có một nhánh gọi là sông Hinh hợp với sông Ba ở Củng Sơn,
huyện lỵ của huyện Sơn Hoà. Trên sông có trạm thủy điện Sông Hinh, công suất
66 MW Trong
đồng bằng Phú Yên cũng có một đầm lớn rộng 1500ha, có sò huyết, tục gọi đầm Ô
Loan. 1.11. đồng bằng Khánh Hoà
hay Nha Trang chỉ gồm hai đồng bằng chính là đồng bằng Ninh Hoà (100km2) và đồng
bằng Nha Trang (135 km2), ngoài ra toàn các đồng bằng nho nhỏ. Giữa mũi Đèo Cả
đến mũi Dinh (Padaran), bờ biển có nhiều bãi rất đẹp như bãi biển Đại Lãnh phía
bắc Ninh Hoà và nhiều hòn đảo nhỏ ngày nay đã dính liền vào bờ biển bởi những
giải duyên hải từ Bắc đến Nam. Sông
Cái chảy qua thành phố Nha Trang : -Anh muốn tìm nguồn nước trong Nên đi ngược dòng sông Cái Hay vì bị bùa ngải Nên anh phải bỏ bãi, lên nguồn? Thuyền anh dù thuận gió đi luôn Đến đầu Thác Ngựa cũng phải cuốn buồm trở lui (Thác
Ngựa là một trong các thác nguy hiểm ở thượng nguồn sông Nha Trang) -Thơm Vạn Giã thơm đà qúa ngọt Mía Phú Ân cái đọt cũng ngon Hỡi người chưa vợ chưa con Vào đây chung gánh nước non với mình Quản bao lên thác xuống ghềnh Mía ngon, thơm ngọt đượm tình quê hương -Phải chi Sông Cái có cầu Thiếp qua, thiếp giải cơn sầu chàng nghe Ai làm chén nọ xa ve Mùa xuân thiếp đợi, mùa hè chàng
trông Biết là có đặng hay
không
Đó chờ, đây đợi uổng công hai đàng 1.12. Đồng bằng Ninh
Thuận. Vùng này có tiếng nắng thừa mưa thiếu,
khô hạn . Sông Phan Rang, còn gọi sông Cái có đập Nha Trinh , ngày nay nhờ nước
xả của đập thủy điệnDanhim trên Dalat, nên lượng nước sử dụng cho sự tưới
ruộng được nhiều hơn. Phía Đông Bắc thị xã Phan Rang, có đầm Nại rộng
700 ha . Tại đồng bằng Phan Rang, mùa nắng hiện tượng bốc hơi
xảy ra rất mạnh, do sự mao dẫn, các mầu bọt trắng đục đùn lên mặt đất. Đó là
đất cà giang, nhiều cacbonat natri, dân địa phương thiếu xabông dùng chất đó kỳ
cọ khi tắm 1.13. Đồng bằng Bình
Thuận .Từ mũi Dinh đến
Phan Thiết, giãy núi Trường Sơn ở xa bỡ biển hơn, do đó các đồng bằng
rộng hơn nhưng lại khô hạn: vũ lượng hàng năm nhỏ hơn 600mm và số ngày
mưa ít hơn 80. Nhờ khô hạn, sự bốc hơi nước mạnh nên có nhiều ruộng muối như ở
Cà Ná. Nếu kể bắt đầu từ ngoài vào, ta có sông Lòng Sông,
chảy qua huyện Tuy Phong, rồi đến sông Lủy với sông Mao,
một sông nhánh bên trái của sông Lủy, đổ ra cửa Phan Rí.. Sông Mường Mán chảy qua Phan Thiết Quần đảo Phú Qúy ngoài khơi Bình Thuận Đồng bằng này có nhiều vùng có cát đỏ . Nhưng
gặp mưa lớn là cát đỏ trôi xuống như thác lũ tạo
ra các khe chảy, lấp đường. Cát trôi lênh láng, dòng chảy mạnh còn làm bật gốc,
cuốn đi cả cây cổ thụ rồi đổ tràn xuống biển. 2. Lưu vực và ảnh hưởng rừng trên lưu vực Lưu
vực sông là vùng lãnh thổ mà sông nhận được nưóc nuôi dưỡng. Các dòng sông miền
Trung có lưu vực nhỏ, chỉ trừ sông Mã, sông Cả , sông Thu Bồn và sông Ba .
Trong thủy lợi, diện tích lưu vực sông được tính từ nguồn đến vị trí công trình
tính toán Rừng
có ảnh hưởng đến các yếu tố thủy văn trong lưu vực: rừng hạn chế dòng chảy mặt,
chuyển nước mặt thành nước ngầm, nhờ vậy có tác dụng điều tiết nguồn nước sông
suối Rừng bảo vệ đất trên các triền lưu vực, giúp chống xói mòn. Những
lưu vực có rừng che phủ thì độ ẩm không khí tăng cao, làm tăng lượng nước rơi
địa hình. Chính nhờ các khả năng điều tiết to lớn như vậy của rừng nên sự
phá rừng bừa bãi trên lưu vực đã dẫn đến những kết qủa tai hại như lũ lụt xảy
ra, hạn hạn tiếp diễn, xói mòn triền dốc, đem theo cả sỏi đá lẫn cát bùn làm
nhiều hồ chứa nước dễ bị bít và cạn, phải nạo vét định kỳ Để
dễ bề so sánh, sông Hồng dài 1126 km và có lưu vực toàn thể là
168 700 km2 trong đó chiều dài chảy trong nước là 556 km và lưu vực
trong nước là 86 500 km2; sông Mekong có lưu vực toàn thể rất rộng:
795 000km2, trong đó chỉ có 71 000km2 là nằm trong nước. 3. Công dụng của các dòng sông Trong
các tài nguyên thiên nhiên, sông ngòi là một tài nguyên vô giá vì đảm nhận
nhiều chức năng, cung cấp cho con người những dịch vụ tối cần cho cuộc sống. Sông ngòi giữ nhiều chức năng quan trọng như: .cung cấp nước sinh hoạt .nước dùng trong các kỹ nghệ: mía đường, xi măng, giấy .đem từng lớp lớp phù sa về giúp cho nông nghiệp trồng trọt,
chăn nuôi .nuôi trồng thủy sản ở mọi môi trường: thủy sản nước ngọt,
thủy sản nước lợ và nước mặn .
vận tải ghe thuyền chuyên chở phẩm vật từ miền xuôi lên miền ngược và đem sản
phẩm miền núi xuống đồng bằng: Ai về nhắn với họ nguồn Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên .
hồ chứa nước tại các vùng cao vừa sản xuất điện năng, vừa công dụng tưới
nước và điều hoà dòng chảy 4. Sông nước trong văn học dân gian Sông
ngòi luôn luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ, văn, nhạc. Những bài thơ Đường
của Lý Bạch, của Thôi Hiệu, bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, bản nhạc Dòng Sông
Xanh đều lấy sông làm nguồn cảm hứng. Riêng văn học dân gian cũng có nhiều điệu
hò trên sông nước. Vì sự vận chuyển hàng hoá bằng ghe thuyền đòi hỏi chèo chống
khó nhọc nên để bớt vất vả khi chèo đò, nhiều loại hò ra đời với nội dung rất
phong phú, phản ánh phong cảnh thiên nhiên, mối tình trai gái v.v. Cùng
với mái chèo cất nhịp, những lời ca giàu tính chất trữ tình giúp cả khách lẫn
trai chèo quên đi những nhọc nhằn, nỗi lạnh lẽo tịch mịch của đêm truờng. Văn
học dân gian được phong phú thêm với những hò Huế, hò Quảng, hò sông Mã
v.v. Dòng
sông ở Huế với nhiều điệu hò: mái nhì, mái đẩy, dô hậy, đẩy nôốc là những
thể hò dân gian trên sông nước. Tiếng hò của mối tình ngang trái: Nước
chảy xuôi, con cá buôi lội ngược Nước
chảy ngược, con cá vượt lội ngang Thuyền
em xuống bến Thuận An Thuyền
anh lại trẩy lên ngàn anh ơi ! Câu hò mái nhì gợi nhiều rung cảm do tình yêu đôi lứa: Nước
đầu cầu, khúc sâu khúc cạn Chèo
qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long Sương
sa gió thổi lạnh lùng Sóng
xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương Tình yêu chân thật, tình yêu không son phấn là những đề tài
trong các câu hò dân gian: Thiên
sanh nhân, hà nhân vô lộc Địa
sanh thảo, hà thảo vô căn Một
mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nưóc trên trăng Biết cùng ai trao duyên gửi phận, cho được bằng thế gian Hò
khoan có cả hò trên vạn, hò dưới nước. Hò khoan cũng được gọi với nhiều tên như
hò đối đáp, hò chào mừng. Nhiều loại hò có tính cách chơi chữ dân gian và lối
chơi chữ của nhà nho rất thông dụng: Cá có đâu mà anh ngồi câu đó Biết có không mà công khó anh ơi .. Hoặc: Gái Xuân em đi chợ Hạ Mua con cá Thu về chợ hãy đang Đông Ai nói với anh em đã có chồng Tức mình em đổ cá xuống sông em về Hoặc: Người Kim mã cưõi con Ngựa vàng, Đất Phù Long rồng nổi, thời chàng đói chi Người con trai cũng đối lại: Người Thanh Thủy gặp khách Nước
Trong, Hoành Sơn ngang núi, đã thoả lòng em
chưa ? Hò có nhiều loại tùy động tác như hò rời bến, hò
đò xuôi, hò mắc cạn v.v.Nhạc điệu tùy lúc. Hò đò xuôi khi thuận buồm xuôi
gió với nhạc điệu dài đều; hò mắc cạn thì khi dứt một câu hò thì trai đò phải
đồng lên tiếng ‘vác’ đồng thời đem hết sức vác thuyền và cứ dứt một câu
hò, thuyền nhích được một đoạn Những câu hò, câu hát cũng dùng sông để ví von, so
sánh: -Bao giờ cho sóng bỏ gành Cù lao bỏ biển, anh mới đành bỏ
em . -Cây đa cũ, bến dò xưa, Người thương có nghĩa, nắng mưa
ta vẫn chờ -Nào khi mô, em nói với
anh : Sông cạn, mà tình không cạn, Vàng mòn, mà nghĩa chẳng mòn Nay chừ nước lại xa non, Đêm năm canh tơ tưởng, héo hon
ruột tằm -Muời hai bến nước là duyên Em cũng muốn bến hiền thuyền đậu Nhưng em trách cho hai bên phụ mẫu Làm cho hai đứa không nên thất nên gia Xa cách này bởi tại mẹ cha Làm cho nên nỗi bướm hoa lìa cành Lưu lượng dòng sông Lưu lượng nước
là lượng nước chảy qua một mặt cắt ngang của lòng dẫn hoặc ống dẫn trong một
đơn vị thời gian một giây. Đơn vị
tính thường là m3/sec hay lit/sec. Lưu
lượng biến thiên theo thời gian: Mùa
lủ muộn dần từ Thanh Hoá đến Phan Thiết. Mùa
lũ ở Sông Chu : tháng 6- 10; sông Cả: tháng 8 -11; sông Gianh : tháng
9- 11. Từ Thừa Thiên đến Khánh Hoà: từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau. Từ Phan
Rang đến Hàm Tân (Bình Tuy/Bình Thuận), mùa lũ xuất hiện tháng 7- 12 Lưu
lượng lớn nhất của con lũ phụ thuộc chủ yếu vào cường độ, thời gian mưa
và đặc tính lưu vực. Mùa
cạn là lúc lưu lượng dòng chảy thấp, giảm đến đáng kể. Nhiều dòng sông nhỏ có
thể lội qua được. Sông Chu có mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5; sông Cả từ tháng
12 đến tháng 7; sông Gianh từ tháng 12 đến tháng 8. Từ Huế vào, mùa cạn từ
tháng 2 đến tháng 8. Nhiều
tỉnh miền bắc Trung Việt như Thanh, Nghệ, Tỉnh, Bình, Trị bị thêm gió Lào nóng
thổi từng cơn ác liệt vì hiện tượng foehn , sự bốc thoát hơi của đất và của cây
rất mạnh; có khi hạn hán kéo dài không trồng hoa màu được ; nhiều hồ thủy
điện bị khô nước.
6. Các vấn nạn những dòng
sông Dòng
sông vốn là một tài nguyên qúy giá nhưng gặp các vấn nạn sau đây : 6.1 Lũ lụt .Vì
các dòng sông miền Trung không dài, độ dốc núi non rất lớn, đồi núi trọc, không
cây che phủ nên nước mưa, vốn tập trung vào vài tháng trong năm, dễ gây ra
lụt, nhất là từ Thanh Hoá đến Quảng Nam. Rừng bị phá hại đã làm các
qúa trình địa mạo tiêu cực như xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất xảy ra nhanh
chóng . 6.2 Hạn hán.
Cũng vì phá rừng nên lượng mưa chảy tràn trên mặt (runoff) nhiều hơn lượng nước
mưa thấm vào đất. Gặp mùa nắng kéo dài hoặc khi mùa mưa kết thúc sớm, lưu
lượng trên sông giảm dần nên nhiều nơi thiếu nước sinh hoạt. 6.3 Mặn hoá . Do
bùng nổ dân số, sinh đẻ búa xua không kiểm soát, các đồng bằng miền Trung có
diện tích đất trồng trọt được càng ngày càng nhỏ nên phải tận dụng thâm canh
vào mùa khô, do đó phải bơm nước tưới ruộng, làm nước nhiễm mặn càng xâm nhập
sâu. Do bơm nước, mực nước hạ thấp, cường độ thấm nước từ các sông tăng lên,
làm nước mặn ngoài biển lấn vào.Vào cuối mùa nắng, khi dòng chảy của sông ngòi
nhỏ nhất thì độ mặn lên xa trên mọi dòng sông miền Trung, gây khó khăn cho dân
chúng về nước uống cũng như về tưới hoa màu. Cũng có chỗ hệ thống đê ngăn mặn
bị vỡ khiến nhiều ruộng bị mặn, không trồng trọt được. 6.4 Sạt lở bờsông . Sự
khai thác bừa bãi càng ngày càng nhiều các tài nguyên như cát, sỏi, vật liệu
xây dựng trên các dòng sông để xây cất trong qúa trình đô thị hoá cũng như xây
kè lấn ra bờ sông làm thay đổi dòng chảy hiện có, thay đổi cấu trúc/kết
cấu/ địa mạo dòng sông, gây nhiều vực sâu, đưa đến tình trạng sạt lở về lâu
dài, như tình trạng các dòng sông như Thu Bồn, Trà Khúc v.v. khiến nhiều
gia đình sống mấp mé bên các triền sông phải di dời hàng năm. 6.5 Bùn cát lơ lửng :
nếu nhiều trong dòng nước thì các hồ chứa bị bồi đầy nhanh chóng. Sự phá
rừng trên thượng nguồn làm bào mòn lưu vực và do đó, lượng phù sa
lắng đọng sẽ tăng cao lòng sông và làm giảm sự thoát lũ. Sông Hương chảy qua
thành phố Huế là một ví dụ điển hình: bùn cát làm dòng sông đục ngàu, không còn
xanh trong như xưa. 6.6 Thủy triều và sóng lớn. Các rừng ngập mặn bị phá để làm đìa nuôi tôm, nên các làng
duyên hải càng bị gió ngoài khơi thổi mạnh, không có hàng rào thực vật thiên
nhiên chống đỡ, nên triều cường và sóng lớn lấn sâu vào đất liền; nhiều đìa
nuôi tôm, nhièu ao nuôi cá cuốn trôi ra biển. Triều cường làm nhiều vùng thấp
bị ngập hư hại và làm các đê bao, đê ngăn mặn bị phá hủy . Khi thủy triều vào
trong sông, độ mặn lan truyền, khuyếch tán. Dưới tác dụng của dòng triều, nước
biển xâm nhập vào sông, đi về hướng thượng nguồn. Chiều dài xâm nhập phụ thuộc
vào cường độ của dòng triều và lượng nước trên thượng lưu đổ về. Mọi
vấn nạn trên đều có tương quan với nhau. Mùa mưa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa
ruộng vườn vì mưa lũ nhiều do rừng đầu nguồn bị phá; mùa nắng thì do bơm nước
nhiều qúa sự luân lưu của dòng chảy (nước mặt và nước ngầm ) nên nước mặn
xâm nhập sâu vào nội địa. Muốn
giải quyết các vấn nạn trên, sự quản trị đồng bộ của lưu vực đòi hỏi những biện
pháp tổng hợp : -trồng
rừng ở đầu nguồn để chuyển một phần nước mặt thành nước ngầm nhằm hạn chế nưóc
lũ dồn về hạ lưu qúa nhanh, kéo dài thời gian truyền lũ. Rừng cây giúp giảm tốc
độ dòng chảy, giảm lượng nước chảy tràn bề mặt và lượng đất bị xói mòn. Sự
phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên rừng không loại trừ lẫn nhau; đúng hơn,
chúng phụ thuộc và hỗ trợ cho nhau . Tài nguyên rừng bảo vệ tài nguyên nước và
nhờ tài nguyên nước, mới có những đập thủy điện nhỏ trên các vùng núi non, giúp
nông dân thôn bản có thể giải trí nhờ truyền hình, giúp xay lúa, chà gạo, giải
phóng phụ nữ khỏi các việc nặng nhọc lam lũ. -xây
dựng các hồ chứa đầu nguồn để tích nước nhằm giảm mức độ của lũ. Các công trình
giữ nước trên núi hay vùng gò đồi giúp điều tiết lượng nước. Có thể nuôi
cá trên các hồ được đào theo hệ thống hồ bậc thang có phun nước, nhận nước và
xả nước. Trên các suối, xây đập ,làm hệ thống nước chảy tự động từ suối vào
vườn để tưới cây trồng. -xây
dựng các đập tức là những công trình chắn ngang dòng chảy, ngăn nước hoặc tạo
thành hồ chứa để điều tiết lưu lượng, bớt được lũ lụt ở hạ lưu vào mùa mưa, bổ
sung nguồn nước vào mùa nắng để tưới ruộng, cấp nước sinh hoạt, cải tạo môi
trường đầm phá, tạo đầu nước phát thủy điện. -phân
một phần lưu lượng lũ của sông chính vào sông nhánh Và lồng
ghép vào chương trình trên phải là một chuơng trình điều hoà dân số,- chú trọng
vào chất lượng hơn là số lượng dân-, cũng giúp cải thiện môi trường sống, vì có
sự liên hệ chặt chẽ giữa dân số và môi trường
*
* * Miền
Trung, quê em nghèo, đất cày lên sỏi đá, nhưng có hai tài nguyên tái tạo được
là rừng trên giãy Trường sơn chạy dài vừa chứa rừng, vừa chứa nước đều là năng
lượng tái tạo, cọng thêm gió Lào thổi mạnh trong vài tháng đầu hè. Nước và rừng
là hai nguồn năng lượng có thể tái tạo (renewable resource), thay vì than đá,
dầu hoả là những nguồn năng lượng cạn kiệt dần với thời gian khai thác. Biết
tái chế biến nước thải làm lại cho sạch trước khi trả lại cho sông, tăng diện
tích rừng trên các lưu vực là yêu thiên nhiên. Trong Hội nghị Thượng Đỉnh
trái đất về phát triển bền vững ở Johannesburg Nam Phi tháng 9 năm 2002, các
nhà lãnh đạo thế giới cũng kêu gọi các nước tăng dần việc sử dụng các
nguồn năng lượng có thể tái tạo. Nước và rừng như một cặp bài trùng, có cọng
sinh, có tương quan nhân qủa, có tác động tuần hoàn. Healthy
cùng với wealthy một vần .Bổn phận của mỗi người sinh
sống trên các giải đồng bằng miền Trung là phải làm thiên nhiên xinh đẹp hơn,
trong sạch hơn. Như vậy, ta đã để lại cho các thế hệ tương lai một di chúc qúi
báu, vì hệ sinh thái có vững mạnh, không ô nhiễm thì con người mới có sức khoẻ
thể chất và tâm linh. Nói cách khác, phương trình hai vế sau đây phải được
nghiệm đúng : Healthy ecosystems= Healthy people.
Mà healthy (có sức khỏe) cũng dẫn tới wealthy (giàu), vì có sức khoẻ thì mới
sản xuất ra của cải, dùng tiền tiết kiệm để đầu tư ra của cải, thay vì dùng để
mua thuốc trị bệnh.
Thái Công
Tụng
Thư tịch sơ lược Asian Development Bank.
Environments in Transition. Cambodia, Lao PDR, Thailand, Viet Nam . ADB
2000 Hà Mai Phương. Địa lý Việt
Nam. Mai Hiên xb 1979 Lê Hữu Mục Văn hoá nuớc
.Vietnamologica số 5 Trung Tâm Việt Nam Học Canada xb 2001 Nguyễn Dưọc và Trung Hải .Sổ tay địa
danh Việt Nam. Nhà xb Giáo Dục 1999 Thái Công Tụng. The
irrigated plains in North Nghệ An province .Vietnamologica number 4. Montreal
2000 Thái Công Tụng Land use in
Thanh Hoá province, with special reference to the Bái Thượng dam irrigation
rehabilitation project . Vietnamologica number 2. Montreal 1996 Thái Công Tụng. Natural
environment and land use in South Viet Nam. Institute of Agricultural Research.
Saigon 1972 Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam . Địa lý
Việt Nam. Nhà xuất bản khoa Học Xã Hội Hà Nội 1990