Có Những Ngày Xuân Như
Thế
- Hoàng Thị Cổ Thành
Mùa Xuân là mùa của đất trời, cây cỏ và cũng là mùa xuân của con người. Vạn vật như được tái sinh sau những ngày mùa đông giá buốt. Cây lá đâm chồi nẩy lộc. Lòng người rộn rã niềm vui đón chờ năm mới đến. Mùa Xuân trên đất khách quê người mặc dầu không đậm đà thắm thiết như ở quê nhà nhưng những đổi thay của đất trời
cũng làm lòng người viễn xứ cảm thấy nao nao. Những hàng cây đào ở hai bên đường hay trong các công viên đang khoe sắc hồng tươi tắn.Những chậu cúc vàng rực rỡ được bày bán trong các siêu thị, trong khu chợ hoa cũng mỹ miều khoe sắc vàng tươi. Trong sân vườn nhà ai những khóm hồng đủ các màu sắc đang thi nhau phô bày cái nhan sắc xuân thì. Những cành hoa lan cũng yểu điệu buông lơi trước những làn gió nhẹ của mủa Xuân. Và có phải mùa Xuân luôn để lại cho người ta nổi nhớ tuyệt vời? Có thật thế không khi tôi muốn nói tới muà Xuân đầu tiên trên đất Mỹ của tôi? Và cho dù đã bao năm qua trên xứ người, nơi tôi nhận làm quê hương thứ hai tôi cũng không thể nào quên mùa Xuân năm đó.
Khi được đặt chân lên đất Mỹ với chồng và ba đứa con nhỏ thì quả
là cực kỳ may mắn cho tôi. Khó có ai tin rằng vợ chồng tôi có thể vượt
biển bình an với hai con còn bé xíu và cái bụng bầu tôi mang theo. Con
gái tôi ra đời trong một nhà thương dã chiến nằm trên bờ biển. Trên hòn
đảo đó tôi đã chứng kiến bao cảnh sinh ly tử biệt . Có những câu chuyện
thương tâm tràn đầy nước mắt của những chuyến thuyền bị hải tặc tấn công.
Những cô gái sống hoang mang với những ám ảnh kinh hoàng. Những thanh
niên đã bị mã tấu của hải tặc chặt đứt đâù và quăng xuống biển sâu. Những
đêm giông tố baõ bùng ai cũng thấy lo sợ cho những chiếc tàu nhỏ bé đang vật
lộn với biển và biết bao con người nhỏ bé đang là miếng mồi ngon cho những đợt
sóng hung hãn ngoài biển khơi. Thế đó nhưng ngày mai trời lại tươi sáng
trở lại, mặt biển lặng yên với những cơn sóng hiền hòa xóa đi bao vết tich của
bộ mặt hung ác đêm qua. Tôi đã từng cầu xin bình an cho những con người
đang đi tìm tự do ngoài kia cũng như cầu mong mình chóng được phái đoàn Mỹ nhận
để có ngày được đặt chân lên miền đất hứa. Và rồi ước mơ đã thành sự
thật. Gia đình tôi đến Mỹ vào một ngày cuối Đông và đất trời đang dọn
mình để bứơc sang Xuân.
Khi mới đặt chân xuống phi trường San Francisco lòng tôi dạt dào
niềm vui lắm. Vui vì mình đã được đến bến bờ tự do. Vui vì biết
cuộc đời mình sắp sửa bước sang khúc rẻ mới. Vui vì các con và ngay cả
chính bản thân mình cũng có nhiều cơ hội học hành đàng hoàng. Trước mắt
tôi là một bức tranh với viễn cảnh tươi sáng và tràn ngập hạnh phúc. Tôi nôn
nóng được đi học trở lại. Học Anh Văn thật mau để tiếp tục học lấy một
ngành nghề và đi làm, rồi sẽ được hội nhập với cái xã hội văn minh và tự do
này. Trong lòng tôi có những thôi thúc mãnh liệt quyết định đi học trở
lại cho dù đang phải bắt đầu từ con số không và không còn là đang độ tuổi ngồi
trên ghế nhà trường nữa. Tôi đang bước đi những bước đầu tiên trên con
đường dài lắm ở trên xứ người.
Thật trớ trêu thay tôi đã không có được một mủa Xuân đầu tiên
trên đất Mỹ tuyệt vời như lòng hằng ước mong! Đúng ra đó là một mùa Xuân
cực kỳ đau khổ và tuyệt vọng. Muà Xuân mà tôi mong đừng bao giờ đến nữa
trong đời. Mùa Xuân đó là một hố sâu thẳm mà tôi đã bị rớt xuống tưởng
chừng không bao giờ đứng lên được nữa. Định mệnh có ác nghiệt lắm không khi bắt
tôi phải chịu những đau đớn không nguôi về thể xác cũng như tinh thần trên vùng
thiên đàng? Hay là đây là thiên đường của người ta và cũng chính là địa
ngục của chính riêng tôi? Tôi quay cuồng với những câu hỏi tại sao lại
chỉ mình tôi chịu những hình phạt này? Có phải kiếp trước tôi làm gì nên
tội nên kiếp này tôi phải gánh chịu mọi đọa đày? Tôi tự suy ngẫm lại bản
thân và có lúc đã nghĩ là tội mình đã thờ ơ và làm khổ những người yêu
mình. Nhưng tôi cũng không thể lừa dối bản thân mình phải không?
Tôi cũng đã tìm ra lý do để biện minh cho những vô tình của mình rồi đây.
Tôi đã thực sự khiếp sợ và té ngửa ra khi nghe vị bác sĩ bảo
“Tôi không báo tin mừng cho chị đâu. Chị bị ung thư rồi.” Ôi!
Chỉ vọn vẹn có năm chữ trong câu nói đó là một bản án tử hình cho tôi.
Chồng tôi đang ở bên cạnh tôi, ba đứa con nhỏ đang ngồi chờ phía ngoài của
phòng khám. Đau khổ và sợ hãi đến tột cùng đến nổi tôi không còn nghe bác
sĩ nói gì nữa. Loáng thoáng chỉ nghe bác sĩ nói chuyện với chồng
tôi về những kết quả thử máu. Rồi những trao đổi về cách điều trị và bịnh
viện gì đó. Mắt tôi mờ dần đi vì những dòng nước mắt bắt đầu tuôn xối xả.
Đầu óc choáng váng, chao đảo. Tai ù và tay chân run lẩy bẩy. Tôi đã
để chồng tôi dìu đi trong tư thế bất động toàn thân. Trên đường về
nhà tôi ôm đứa con mình trong lòng mà cảm thấy toàn thân run rẩy. Nghĩ
đến lúc phải bỏ lại mấy đứa con mà lòng quặn thắt. Chao ôi! Có ai
thấu hiểu cho nỗi sợ hãi của tôi bấy giờ không nhỉ! Tôi đoan chắc rằng
cảm giác đó họa chăng chỉ có những người tử tù đang chờ thi hành bản án tử hình
mới nhận chân được mà thôi.
Vừa về đến nhà tôi đã hối hả giục chồng gọi cho bệnh viện
Stanford nơi mà bác sĩ giới thiệu đến điều trị. Tôi nghĩ sự sống
của tôi đang đếm trên đầu ngón tay. Chẳng còn bao lâu nữa tôi đã phải rời
xa thế giới này bỏ lại sau lưng những người thân thương nhất, bỏ lại những ước
mơ mới vừa đâm chồi nẩy lộc. Tôi đã nói với chồng tôi trong nổi tuyệt
vọng: “Anh ơi ! Làm sao để người ta lấy cục bướu này đi càng sớm càng tốt
để em sống với anh và con thêm hai năm nữa cũng được.” Chồng tôi đã vội
vã làm theo tất cả những đòi hỏi của tôi. Anh đã cố liên lạc với bệnh
viện mặc dầu đã là chiều thứ Sáu rồi. Kết quả cũng chẳng đi đến đâu và
đành phải chờ đến ngày thứ Hai tuần tới. Và cũng chưa bao giờ có những
ngày cuối tuần nào thê thảm hơn thế đó. Tôi cũng đã phải nấu ăn và chăm
sóc con cái trong nỗi buồn vô tận. Buổi tối nằm khóc rấm rức và hỏi chồng
những câu hỏi không đầu đuôi hoặc nắm chặt tay chồng như thể không muốn rời xa
bao giờ nữa.
Sang đến ngày thứ Ba thì tôi vào nằm bệnh viện. Ông anh
chồng dẫn đường đi mà cũng lạc vì những con đường đến bệnh viện rất giống
nhau. Vào đến phía trong càng thấy lạc lõng hơn nữa vì bệnh viện quá lớn,
quá sạch sẽ và hình như không không có người Việt làm việc ở đây. Tôi chỉ
biết đi lẽo đẽo theo chồng để làm các thủ tục nhập viện, rồi đi làm các xét nghiệm
và vào phòng bệnh để chờ các bác sĩ đến khám bịnh. Tôi có được cái may
mắn là chồng tôi có đủ khả năng để thông dịch cho tôi hiểu những gì bác sĩ cho
biết. Khi còn lại một mình trong căn phòng bệnh thật lớn tôi đã sợ hãi và
buồn quá sức tưởng tượng. Và nỗi sợ hãi cứ tăng dần khi biết rằng
rồi cũng đến lúc chồng tôi bỏ tôi lại một mình để về lo cho con ở nhà.
Tối đó tôi không tài nào chợp mắt được chút nào vì phần nhớ con, phần lo sợ
những gì sẽ phải đối diện với ngày mai. Mổ xẻ đau đớn ư? Làm hoá
trị nhức nhối xé người ư? Nhưng còn sống được bao nhiêu lâu nữa? Và
rồi phải chấm dứt cuộc đời trong những cơn đau khủng khiếp? Tôi thật sự
bị những suy nghĩ đó đẩy vào ngõ cụt không tìm ra lối thoát.
Rồi việc gì đến cũng đã xảy ra. Sau hai ngày làm các
xét nghiệm để kiểm chứng các hiện tượng bệnh lý tôi đã được đưa vào phòng mổ để
cắt bỏ khối u. Sau khi tỉnh dậy tôi như trút bỏ được nghìn cân
trong người mặc dù khối u có trọng lượng rất là khiêm tốn. Nhưng tôi đã
hiểu đây là kẻ thù đáng sợ nhất , kẻ thù có cánh tay vươn rất xa và rất
dài. Bằng chứng rỏ ràng nhất là cho dù đã vứt bỏ được kẻ thù số một ra
ngoài cơ thể nhưng tôi cũng đã có những di căn ở phổi mất rồi. Cho dẫu
bây giờ mức chịu đựng cho số phận khốn khổ của mình có khá hơn lên nhưng khi
nghĩ đến con đường điều trị bịnh bằng hóa chất tôi cũng không thể tránh được
cái rùng mình sợ hãi. Ròng rã một tuần lễ điều trị ở bệnh viện tôi mong
được về nhà để không phải buổi tối nằm ngủ một mình với nỗi ám ảnh phương pháp
điều trị bằng hóa trị sắp đến.
Nỗi vui mừng khi được về nhà chưa được bao lâu thì môt tai họa
khác lại giáng lên đầu tôi một lần khác nữa. Các bác sĩ cho tôi cái hẹn
hai tuần sau trở lại bệnh viện để tiếp tục điều trị bằng hóa chất.
Nhưng chưa trở lại bệnh viện thì vào một buổi sáng tôi nhận được thư từ quê nhà
gởi sang. Nhìn phong thư dày cộm mà lòng tôi hân hoan lắm vì tôi biết thế
nào cũng được coi hình đám cưới của cô em gái áp út của mình. Phải
rồi tấm hình đầu tiên là cả nhả đông đủ chụp chung với cô dâu, chú rể. Tôi
ngắm kỹ khuôn mặt của ba mẹ và các em, rồi mấy đứa cháu nhỏ. Cũng đã hai
năm chưa về thăm nhà rồi nhỉ! “ Biết bao giờ mới trở lại vườn
xưa?”. Nhưng kìa! Tôi có nhìn lầm không? Sao tay tôi run lên
thế này? Việc gì đã xảy ra rồi đây khi thấy ba tôi và các em đang đứng
vây quanh mẹ tôi và tất cả đều khóc mếu máo? Tôi quay đằng sau tấm ảnh và
đọc rất nhanh những dòng chữ của thằng em viết: giờ phút lâm chung của
mạ. Trong đầu tôi thoáng hiện lên câu hỏi thằng em mình dùng sai chữ
nghĩa. Tại sao lại viết chữ “lâm chung” ra đây? Mẹ tôi đang cười
rất tươi đây mà? Nhưng khi nhìn thấy những vành khăn trắng và chiếc
hòm đang ôm ấp thân xác mẹ mình thì tôi không còn biết gì nữa. Có cái gì
rất nặng đè lên lồng ngưc và đang bóp nát trái tim tôi. Đau khổ tột cùng
đến mức độ tôi không thể nào khóc được ngay lúc đó. Đôi chân tôi
quỵ xuống và tôi đã bấu chặt thành bàn để không ngã quỵ xuống sàn nhà.
Tôi đã hoảng hốt nói với chồng tôi đang đứng coi hình cùng với tôi: “Anh
ơi! Mạ sao thế này rồi? Có phải mình nhìn sai rồi không? Phải
làm gì bây giờ đây?” Tôi biết chồng tôi cũng hoảng hốt như tôi vì mẹ tôi
còn trẻ lắm. Năm đó mẹ tôi chỉ có 66 tuổi mà thôi. Em tôi cho biết
mẹ mất chỉ sau đám cưới em gái tôi bảy ngày vì bị tai biến mạch máu não.
Trong đằng sau một tấm hình chụp mộ phần của mẹ, em trai tôi đã
viết: “Mạ suốt đời hy sinh cho con cái và đã ra đi rất nhanh không tốn của con
cái một đồng bạc thuốc. Nơi mạ nằm an nghỉ rất an bình, trên đầu đội núi,
dưới chân có khe suối chảy. Em viết những dòng chữ này để chị em mình
luôn ghi nhớ về giây phút ra đi của mạ.” Lúc ấy tôi quá đau khổ vì nỗi
mất mát lớn lao này nên rất giận các em của mình và tôi đã không do dự viết thư
mắng em mình tới tấp. “Ba mạ cho các em ăn học cũng uổng thôi vì
con cái toàn là bác sĩ mà cũng không cứu được mạ mình . . .” Tôi đã quên
đi cái đau thể xác của mình mà trong lòng chỉ tràn ngập nỗi đau mất mẹ.
Hồi đó thằng con nhỏ của tôi thấy tôi khóc quá nhiều đã ngây thơ chỉ vào tấm
hình mẹ tôi trên bàn thờ và hỏi tôi rằng: “Mẹ ơi! Có phải bà
già này chết làm mẹ khóc phải không?” Tôi lại càng khóc nhiều hơn vì hình
ảnh mẹ tôi ngày nào lụi cụi đi giặt tả cho cháu ngoaị lại hiện về. Từng
ngày nén những chén cơm đầy với cá bóng kho tiêu bắt tôi phải ăn hết để có sức
khỏe và có nhiều sữa cho con. Mà quả thật thằng cháu này khá tròn trịa
nên mẹ tôi đã đặt cho cháu cái tên Lu. Và cho đến bây giờ thằng con tôi
vẫn còn giữ mãi cái tên cúng cơm ấy. Điều kinh ngạc hơn nữa là mẹ tôi mất
đúng vào cái ngày tôi lên bàn mổ. Có phải chăng mẹ tôi đã đi thay cho
tôi? Vì tôi là đứa con ra đời trong sự trông chờ rất lâu của ba mẹ?
Đứa con hồi nhỏ đau yếu triền miên tưởng như không nuôi được nữa phải đem bán
cho thầy cúng cho đến năm 12 tuổi. Mẹ tôi đã không chờ đợi ngày con về
thăm lại quê xưa. Và khi con có dịp về thăm nhà thì chỉ biết đứng
khóc bên mộ mẹ mà thôi. “Mạ ơi! Con đã về bên mạ rồi đây.”
Kế tiếp sau đó là những ngày đi bệnh viện tuần này sang tuần
khác để làm xét nghiệm máu và điều trị ung thư bằng hóa chất. Đó là
những ngày kinh khủng nhất trong đời người. Mỗi lần chịu đựng vô hóa chất
là một lần đau đớn khủng khiếp. Hồi đó hình như các hóa chất mới được
phát minh nên mỗi lần vô thuốc tôi đã bị các phản ứng phụ rất nhiều.
Không ăn gì được vì mỗi lần ăn là ói mữa liên hồi. Tóc tai , lông mày, lông mi
đều bị rụng hết. Mỗi lần đi bệnh viện để làm hóa trị về đến nhà thì
tối hôm ấy tôi không thể nào ngủ được. Hình như có một núi lửa đang phun
phún xuất thạch trong lồng ngực mình vậy đó. Cả người nóng ran khó chịu
ơi là khó chịu. Tôi đã đi lang thang trong phòng khách không biết bao nhiêu
vòng và cố gắng nén cơn đau đang dằn vặt thể xác mình. Tôi đã nghĩ đến mẹ
mình đang chờ đợi tôi ở bên kia thế giới. Nhớ đến mẹ, lòng thổn thức
không nguôi và nước mắt lại tuôn rơi. Tôi vào phòng ngủ đặt lưng lên
giường cố gắng dỗ giấc ngủ để quên đi cái khó chịu trong người nhưng vẫn không
tài nào nhắm mắt được dù là một phút một giây. Đâu đây chỉ nghe tiếng
ngáy đều đặn của mấy cha con . Thỉnh thoảng không chịu đựng nỗi sự cô
quạnh trong đêm trường dài đăng đẳng, tôi lại lấy tay lắc chồng dậy để nói
chuyện, đôi khi còn ngồi dậy vách mắt của chồng ra nữa. Tội nghiệp cho
chồng tôi cả ngày phải lo cho người vợ bệnh hoạn, lo chăm sóc bầy con nhỏ nên
đến tối là ngủ lăn quay. Khi nào bị đánh thức thì cố gắng mở mắt ra một
chút, vỗ nhẹ vào tôi vaì cái và ờ ờ vài tiếng gì đó rồi ngủ tiếp ngay lập
tức. Chỉ chừng đó nhưng cũng đủ an ủi tôi rất nhiều. Tôi rất biết
ơn chồng tôi đã chăm sóc các con và vợ tận tình khi tôi đau ốm thế này.
Nhất là những lần đi bệnh viện chồng tôi phải chở cả nhà cùng đi. Mấy đứa
con cho ngồi ngoài phòng đợi cho đến khi mẹ vào phòng điều trị thì được ba chở
về nhà. Có lần tôi bị phản ứng của thuốc làm cho cái cổ cứng đờ không
quay qua quay lại được rất giống cảm giác người đang chết từ từ. Thế là
chồng tôi chở mấy mẹ con quay trở lại bệnh viện để cấp cứu. Tôi quá hoảng
sợ nên cứ luôn miệng hỏi: “Anh ơi! Đã gần đến chưa?” Chồng tôi đang
cố nhấn ga cho chiếc xe chạy nhanh hơn (vì hình như lúc đó cũng không còn sợ
cảnh sát phạt nữa) và trả lời tôi chỉ bằng một câu là bệnh viện đang ở
trước mặt . Ở bệnh viện người ta chuyền cho một chai nước biển và
chích thuốc cho cái cổ mềm lại rồi cho về nhà ngay. Nhưng oái ăm
thay về đến nhà được hai tiếng đồng hồ sau thì hiện tượng cứng cổ lại tái
diễn. Một lần nữa lại phải đèo bồng cả nhà đến bệnh viện và khi về đến
nhà đã hơn hai giờ sáng. Mấy đứa con tôi được ba nó quấn trong mền nằm ở
băng ghế xe sau ngủ khò ra cả. Đúng là không có ngôn ngữ nào diễn tả được
cái đẹp ở trong lòng của chồng tôi phải thế không?
Mùa Xuân của đất trời
nhưng không phải Xuân lòng người. Tôi đã đón cái Tết đầu tiên trên đất Mỹ
với tâm trạng như vậy đó. Cũng có cúng Giao Thừa nhưng lòng rất thờ ơ với
giây phút huyền diệu đó. Không phải vì ở đất khách quê người không có
không khí Tết, không phải vì hàng xóm không là người Việt, cũng không phải
không có tiếng pháo nổ đì đùng và thiếu đi cành mai vàng rực rỡ báo hiệu mừng
Xuân. Tôi đã đón Xuân mà ngao ngán vì những khổ đau dồn dập đã xảy ra cho
mình trong những tháng ngày vừa qua. Cái đau của căn bệnh quái ác và nổi
đau đớn quá lớn trong lòng khi mất mẹ đã quật ngã tôi một cách dễ dàng.
Không ai chờ ai đợi, muà Xuân đã đến bao giờ nhưng những ngày đầu năm mới lòng
trống trải, ngao ngán vô cùng. Đó là tâm trạng của một người vừa hứng
chịu hai cái đau thể xác và tâm hồn một lúc trong những ngày đầu Xuân vậy.
Hoàng Thị Cổ Thành
San Jose 22/12/10