Saturday, August 15, 2026

Đòi lại tên Saigon - Hoàng Long Hải 
 






 1/- Chỉ Saigon thôi sao?

          Ở hải ngoại, có vài ba người lên tiếng đòi chinh quyền VN hiện nay, “hãy trả lại tên Saigon cho thành phố Saigon.
          Điều ấy không sai. Nên trả lại cho nó cái tên cũ của nó.
          Nhưng tại sao chỉ đòi lại Saigon. Cộng Sản, - Việt Nam hay CS quốc tế cũng vậy thôi, cướp nước ta thì cái ta đòi, không phải chỉ là Saigon mà phải đòi toàn thể đất nước – lãnh thổ, tài nguyên, quyền hành... mới đúng chứ. Tại sao chỉ đòi lấy lại tên Saigon mà thôi?
          Khi dân tộc Việt Nam – Dân tộc Việt Nam, còn chúng ta chỉ là một bộ phận trong toàn thể dân tộc đó -, giành lại được đất nước của mình, thì tự nhiên, cái của dân tộc, sẽ trở lại với dân tộc, cái gì của Cộng Sản sẽ “trôi” theo Cộng Sản.

          Saigon là cái tên (name) của dân tộc. Hồ Chí Minh là cái tên (name) của Cộng Sản. Dân tộc VN, sau khi thành công, lấy lại được đất nước, họ sẽ lấy lại cái tên ấy cho thành phố ấy. Cộng Sản VN hay Cộng Sản quốc tế cũng vậy, khi thua, không còn nắm chính quyền, họ “đi”, sẽ mang theo cái tên Hồ Chí Minh.
          Trong viễn tượng ấy, lấy lại tên cái tên cũ cho “thủ phủ miền Nam” là một việc “bất chiến tự nhiên thành”.
          Sự kiện nầy đã xảy ra bên nước Nga, cũng chưa lâu.

          Hồi xưa, khi Cộng Sản chưa nắm được chính quyền ở Nga, một thành phố lớn thư hai, cựu kinh đô, ở phía bắc nước nầy, tên là St Peterburg. Sau cái gọi là “Cách mạng tháng Mươi Nga” thành phố nầy bị đổi tên thành Leningrad. Tên của lãnh tụ Cộng Sản Lenin đấy. Cũng như thành phố Volograd được Cộng Sản đổi thành Stalingrad năm 1925.
          Cộng Sản Hà Nội đổi tên Saigon thành ra thành phố Hồ Chí Minh, - cán bộ Cộng Sản Bắc Việt thường gọi là “Thành phố “Bát” – chính là bày tỏ lòng trung thành với Thế giới Cộng Sản, ông làm sao, cháu theo vậy.
 
2/- Giải phóng hay là cướp?

          Qua lịch sử, người ta thấy, giải phóng hay là cướp, chỉ là một cách nói, tùy theo nhãn quan mỗi người. Trong thực tế, cũng na ná như nhau. Vậy thôi!
          Thử hỏi, anh em nhà Tây Sơn làm “cách mạng” là quân “ăn cướp”?
          Lịch sử còn ghi, “Biện nhạc cờ bạc thua cháy túi, thua luôn cả tiền thuế của dân, không có trả, sợ bị tù, bèn cùng hai em nổi lên đi ăn cướp”, thành ra, như Công Sản viết: “Áo vải cờ đào, anh hùng đất Tây Sơn”, v.v... và v,v...
          Bản chất chỉ là một bọn cướp mà nên việc. Vậy thì “Thời thế tạo anh hùng” hay “Anh hùng tạo thời thế”?
          Ngay thẳng thì phải nói như thế nầy?
-         Đấy là “thời thế tạo anh hùng”.
Nếu Trương Phúc Loan không chuyên quyền, lấy quyền mà
cướp  tài sản của dân, tệ đến nỗi, mùa lụt, nhà Trương Phúc Loan đem vàng ra phơi đầy sân, như người ta phơi ngô (bắp), trong khi dân chết đói, thì lời kêu gọi nổi giặc của anh em Tây Sơn mới được nhiều người nghe theo.

          Thật ra, nói cho đúng, không ai muốn làm giặc. Đói quá, mới cầm dao, cầm mác, đi tìm cái sống mà thôi. Dân đi cướp, là vì đói, không muốn chết đói. Quan cũng chỉ là kẻ cướp của dân, không vì đói, mà vì tham. Vậy nên tục ngữ mới có câu: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, đều là cướp cả, chính nghĩa, lý tưởng gì đâu.   Người viết sử, nên theo gương Tư Mã Thiên, không nên vẽ râu, “vẽ rắn thêm chân vì phe đảng, vì chính trị.
          Lịch sử giặc giả ở nước ta, cũng na ná như vậy. Giặc Châu chấu, có Cao Bá Quát, giặc Nguyễn Hữu Cầu, giặc Lê Văn Khôi... cũng vậy thôi. Thua thì thành giặc... “Được làm vua, thua làm giặc”, tục ngữ nói vậy.
 
-  Năm 1945, nước ta có 2 biến cố lớn:
- Tháng ba “Nhựt đảo chánh Pháp”.
- Tháng tám: Việt Minh cướp chính quyền”   
 
Hai câu tôi viết nghiêng và in đậm ở trên là viết theo sách sử,
không phải do tôi “sáng tác” ra.

          Quý vị thấy không? Sử viết là “Việt Minh cướp...” Cướp là dùng sức mạnh, vũ lực lấy cái gì đó về cho mình, từ trong tay người khác.
Cái Việt Minh cướp năm đó là cái gì?

-Là quyền cai trị đất nước, từ tay vua Bảo Đại, thủ tướng Trần Trọng Kim, từ tay Nhựt. Nhưng Nhựt thì làm ngơ, để mặc người Việt làm gì với nhau thì làm. Nhựt vừa mới đầu hàng Đồng Minh, chữ ký chưa ráo mực.

Cướp được chính quyền rồi, Hồ Chí Minh “vẽ râu” như thế nào chẳng được: “Cách mạng tháng Tám”, “Giành chính quyền về tay nhân dân”. Nhân dân nào ở đây?! Chỉ là Cộng Sản đấy mà thôi! Nhân dân nào! Mượn hai chữ nhân dân để nắm chính quyền, nên sử mới gọi là “Việt Minh cướp chính quyền”.

Khi nghe tin Việt Minh cướp chính quyền, cụ Trần Trọng Kim, lúc đó đang làm thủ tướng, nói: “Gì mà phải cướp. Nếu phải thì người ta giao cho”. Đúng là câu nói của một người ngay thẳng, không có tham vọng chính trị.
Quyền đó là quyền cai trị nước Việt Nam, từ tay Thực dân Pháp, qua tay Nhựt, rồi tới Cộng Sản.
 
Vậy thì nó có nghĩa như thế nào?
-         Có gì đâu, chỉ là thay đổi giai cấp thống trị mà thôi. Thay vì
Tây cai trị, Nhựt cai trị, bây giờ thì tới Cộng Sản – dưới danh nghĩa là Việt Minh – cai trị.
          Dân tộc Việt Nam, từ trước tới giờ, khắp cả Trung Nam Bắc, đã bao giờ tự mình cai trị mình chưa?
          Chắc chắn là chưa! Nói gần đây thôi, từ thời “Pháp thuộc”, tới “thời Nhật thuộc”, “thời Việt Minh”, “thời Đệ Nhứt, Đệ Nhị Cộng Hòa”, bạn cũng như tôi, bao giờ cũng là người bị trị. Mình có trị ai bao giờ đâu.
          Vậy thi mình được “giải phóng” khi nào?
Thấy đâu?
Nói lái lại thì có đấy!
 
3/- Saigon đói to

          Tôi có người “bạn tù cải tạo”, tên là Tr. X. Ch., trước năm 1975 là chuyên viên bậc 2, Văn phòng ông Nguyễn Phú Đức, Phụ tá Ngoại vụ của Tổng thống. Anh ta là người nổi tiếng: trốn trại rất tài tình, và bị bắt lại. Tháng Tư/ 1975, ông phụ tá chuẩn bị “di tản”, Tr. X. Ch. hỏi: “Ông phụ tá đi rồi, anh em chúng tôi thì sao?” Ông Phụ tá Tổng thống trả lời: “Các anh nên ở lại để giúp nươc”. Vậy nên “Ông bạn tôi” ở lại, không ra ngoại quốc, rồi đi tù. Nếu “Ông ta” muốn đi, cũng có thể đi được đấy, con nhà có thế lực mà. Cháu ông Trịnh Xuân Ngạn (anh ông Ngợi đấy), Chủ tịch Tối Cao Pháp viện VNCH. Nói lại chuyện ấy với tôi, anh ta không tỏ ý trách cứ ông “xếp cũ” gì cả, chỉ chuyện trò chơi mà thôi.

          Tôi nói, ông “thầy” của anh không phải “nói vô tình”. Họ có ý đồ cả đấy. Các ông lớn như Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh... đều ở lại. Không lý họ không có phương tiện. Họ muốn ở lại, là vì Mỹ đấy, vì “Xịa” đấy. Năm, mười năm nữa thôi, Cộng Sản Hà Nội sẽ ngất ngư, muốn từ bỏ chủ nghĩa Marx, trở lại với tư bản, ai sẽ là người “vẽ đường cho hưu chạy”? Mấy ông ấy đấy!

          Tôi ra tù giữa năm 1982, gia đình tôi cũng như hầu hết dân Saigon, đều khốn đốn vì miếng ăn, nhất là gạo. Tới thăm anh Ng. X. Qu., một trí thức Saigon cũ, học bên Tây về, trước 30 tháng Tư, từng làm “Phụ tá kinh tế cho Tổng thống”, “Tổng giám đốc ngân hàng”, sui gia với anh chị tôi, nói chuyện: “Saigon sắp đói to, giờ thì cứu được rồi.” Chẳng biết mô tê gì cả, tôi hỏi anh Ng. X. Qu., anh giải thích: “Ở Đại Hội 4, Lê Duẫn chủ quan, vạch ra “kế hoạch 5 năm”, gom nhiều tỉnh nhỏ thành tỉnh lớn, mỗi tỉnh tự lo cho mình. Tỉnh nào có người đói, bí thư tỉnh phải chịu trách nhiệm. Thành ra các tỉnh miền Tây không cho gạo lên Saigon. Saigon không đủ gạo ăn. Bà Ba Thi, người phụ trách việc lo gạo cho thành phố, bèn dùng sản phẩm của Saigon đổi gạo cho miền Tây, nhờ vậy mới có được gạo.”

          Anh ấy nói thêm: “Một người chế độ cũ, xuất thân từ Quốc Gia Hành Chánh, lám cố vấn cho Bà Ba Thi, vạch ra kế hoạch, rồi thực hiện luôn. May cho bà ấy, cũng may cho Saigon.”
          Mười năm theo chủ nghĩa Cộng Sản, nước VN ngất ngư, gần chết. Nhờ những người Cộng Sản “giác ngộ chủ nghĩa Tư Bản”, nước VN sống lại dần dần.

          Thời Nhật Mỹ đánh nhau ở Đông Dương, ngoài Bắc chết đói đường, trong Nam, kỹ sư Trịnh Hưng Ngẫu, đệ Tứ Quốc tế, đem gạo nấu thành cồn, chậy xe hơ thế xăng. Người ta trách Mỹ ném bom tàu bè, nên gạo không chở ra Bắc được. Bây giờ thì không xa đến Bắc/Nam, chỉ Sàigon/ miền Tây, cách chừng hai trăm cây số, một bên thì đói to, một bên gạo dư thừa. Đế Quốc Mỹ và CS Hà Nội, ai độc hơn ai ???  
 
4/- Ngó lại: Bắc kỳ sau “Cải cách ruộng đất”  

          Thấy chủ nghĩa Cộng Sản thất bại, không phải tới đầu thập niên 1980, chính quyền Hà Nội mới “sáng mắt ra”. Từ sai cái gọi là “Cải cách ruộng đất”, lấy ruộng của địa chủ chia cho nông dân, ở phía Bắc vĩ tuyến 17, một số cán bộ, đã phải đi con đường ngược chiều với “Trung Ương”.
          Thập niên 1960, nông nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa của Cộng Sản Băc Việt xuống dốc, nhiều nơi dân đói, thiếu gạo. Kim Ngọc (Kim Văn Nguộc) Bí thư tỉnh ủy Vĩnh phú bèn cho “xé rào” – gọi là “khoán chui” – Thay vỉ buộc nông dân làm việc theo “hợp tác xã” (cấp thấp, cấp cao), Bí thư Kim Ngọc khoán ruộng cho nông dân, mỗi nông dân nhận một ít ruộng, đem về canh tác riêng. Nhờ làm riêng – không làm chung như ở HTX, - “Cha chung không ai khóc” – tục ngữ, năng xuất lúa lại lên, nông dân không còn đói nữa.
          Việc nầy làm náo động “Trung ương đảng”. Làm ăn kiểu này là đi ngược chủ nghĩa Mác-Lê, sẽ “chết” với “ông Liên Xô”, “chết” với “ông Trung Quốc”.
          Hai chục năm sau, “cướp” được Saigon rồi, Cộng Sản VN lại “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN”. Kết quả là tp Hồ Chí Minh đói to, nhà máy, công xưởng trống không. Cùng với kế hoạch 5 năm lần thứ nhứt, lần thứ hai, chế độ Công Sản VN lại trên đường hấp hối.
 
5/- Hết “khoán chui” tới “xé rào”

Xé rào” là việc ở nhiều địa phương, nhất là ở tp Hồ Chí Minh, liều lĩnh thử nghiệm cách hoạt động mới, ngoài “con đường Cộng Sản Chủ nghĩa”, ngoài khuôn khổ qui tắc luật lệ nhà nước của thời kỳ bao cấp. Những hoạt động nầy trở thành tiền đề cho công việc “Cởi trói”, “Đổi Mới” của Cộng Sản. Sau đây, đơn cử một ví dụ:
 
Dệt may Thành Công tìm lối đi mới, tự vay vốn, tự mua nguyên liệu giá ngoài, tự sản xuất theo kế hoạch riêng rồi tự bán ra ngoài. Số ngoại tệ, giám đốc vay vốn ban đầu đủ mua 200 tấn sợi và một số hóa chất đã giúp công nhân Xí nghiệp Dệt Thành Công trở lại chứng kiến thời đơn hàng đặt tới tấp.

Con đường “xuất khẩu tại chỗ” bước đầu đưa Dệt Thành Công từ chỗ xập xệ phá sản tới ánh sáng hồi sinh. Bước sang năm 1981, Dệt Thành Công đã xây dựng phương án sản xuất kinh doanh với nội dung vay ngoại tệ thực hiện cơ chế “xuất khẩu tam giác” để tự cân đối kế hoạch, thực chất vẫn là xuất khẩu tại chỗ với quy mô mở rộng.

Cơ chế này được giải trình đầy đủ trong phương án như một đặc cách của một cơ chế riêng để thoát khỏi cơ chế chỉ tiêu, chính sách tự cân đối vốn, nguyên liệu, lương công nhân, được mở tài khoản ở Vietcombank, được giao dịch trực tiếp, được trực tiếp xuất nhập khẩu, được khoán quỹ lương.
Đây là cơ sở mang về cho nhà máy doanh số năm 1981 đạt ba triệu USD.
Chỉ khi Dệt Thành Công chứng minh mô hình xuất khẩu tam giác có lợi trong thực tiễn cho nhiều “anh”: dệt may, nông dân, du lịch... thì đồng lương công nhân theo quy định từ 60 đồng/tháng mới vọt lên 250 đồng, rồi 450 đồng...
(trích báo “Nhân Dân Cuối tuần”)
 
          Tôi ra khỏi “tù Cải tạo” tháng 7 năm 1982. Năm đó, sau Tết mấy hôm, trung tá Công An Việt Cộng Trịnh Văn Thích, 25 năm làm “bảo vệ” cho Hồ hí Minh, trưởng trại, đi Hà Nội về, gọi bọn tù Cải tạo tập trung ở hội trường, nghe y nói chuyện.
          Ý chính của y hôm ấy là nói tới 2 vấn đề: Một là quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh, hai là kinh tế VN đang suy sụp. Tôi dùng chữ suy sụp,  nhưng y không dùng chữ đó. Y chỉ muốn nói vật giá đắt đỏ mà thôi. Theo tôi nhớ, vài tài liệu tôi đọc được hay nghe qua BBC, VOA sau khi tôi ra tù, tình hình lạm phát, theo Hà Nội, chỉ trên 300%, theo Quốc tế thì gấp đôi, trên 700%.
          Về chuyện quan hệ giữa “hai đảng anh em”, trung tá VC Thích đọc cho chúng tôi nghe mấy câu thơ của Tố Hữu, khi ông nầy từ Moscow về Hà Nội, qua ngã Bắc kinh. “Anh Ba Đỏ” đối xử làm sao đó khiến Tố Hữu “sáng tác” mấy câu thơ như sau:
 
          ... Tình bạn ngày nay đã khác xưa,
               Rằng e sớm nắng lại chiều mưa.
               Chợ trời thật giả, đâu chân lý,
               Hàng hóa lương tâm vẫn thiếu thừa.
                                                    (Tố Hữu)
 
          Việc thứ hai là đời sống quá đắt đỏ, “mấy anh ở Bộ Chính trị” – lời Tr tá Thích,đang nghiên cứu, làm sao cho đời sống nhân dân no ấm hơn. Bảy nghìn đồng một ký cà. Bây giờ thi “ăn no, mặc ấm”, sau vài kế hoạch 5 năm, thì nhân dân “ăn ngon, mặc ấm”.
          Trong Đại hội 4 của Cộng Sản Hà Nội, Lê Duẫn tuyên bố: “Sau vài kế hoạch 5 năm, chỉ tiêu là mỗi nhà đều có máy truyền hình (TV), tủ lạnh”. Đại Hội 4 diễn ra hồi tháng 12 năm 1976. Nay là năm 1982. Sáu năm đã qua, hơn một kế hoạch 5 năm rồi, không những khoai sắn không có mà ăn, nói chi tới TV, tue lạnh. Cái bánh vẽ của Lê Duẫn to quá chừng. Thực hiện “lời dạy” của “Đồng chí TBT”, mấy gian hàng mã ở Chợ Lớn, “sản xuất” rất nhiều “TV/ tủ lạnh”, để đốt cho mấy chú Ba chết chìm vì “tội vượt biên”.
 
          Chiều hôm đó, ngồi ăn bên cạnh nhau, trước cửa phòng giam, Nguyễn Ngọc, bạn tù, hỏi tôi:
          -Anh Hải có nhớ bài thơ trưởng trại đọc hồi nãy không?
          -Nhơ chứ. Rồi tôi đọc lại cả bốn câu thơ.
          Rồi tôi nói tiếp: Tố Hữu ngu thấy mẹ.
          Ngọc hỏi tiếp: Sao anh bảo ông ta ngu?
          -“Ông” là người Huế, “ông” có biết người Huế nghĩ thế nào về ông ta?
          -Anh biết ông ta?
          -Tôi chưa từng gặp ông ta ở Huế, nhưng dư luận Huế thì chê ông ta dữ lắm. Ông từng làm “precepteur” ở nhà “o Hường” của tui. Nhà nầy chê Tố Hữu “phản phúc”. Có dịp tui kể cho nghe.
          -Nhưng bài thơ vừa rồi, tại sao anh nói ông ta ngu?
          -Có bao giờ thằng Tàu nhận mình là anh em với nó không?
Vua Tàu từng hỏi Mạc Đỉnh Chi: “Có phải là ngươi là sứ của xứ “Nam man” đó không? Man là mọi rợ đó.
          -Ông Mạc Đỉnh Chi chịu thua? Ngọc hỏi.
    -Thua được à! – tôi nói – Mạc Đỉnh Chi đáp ngay: Muôn tâu bệ hạ. Nước tôi là nước có văn hiến, hòa hiếu với lân bang, không gây sự đánh chiếm nước của ai, nên không thể gọi là “man” được. Câu nầy là câu nói kháy. Ông làm quan nhà Trần, đi sứ vua Tàu là nhà Nguyên. Nguyên là Mông Cổ. Nhà Trần vừa ba lần đánh quân Mông chạy dài. Dân Tàu tự cao, cho An Nam là mọi rợ. Chính Tôn Văn cũng vậy. Khi cụ Phan Bội Châu qua Nhật, nhờ Nhật giúp chống Pháp, thủ tướng Nhật kà Khuyển Dưỡng Nghị hỏi ý kiến Tôn Văn, Tôn Văn bảo: Người Việt là một dân tộc hèn yếu, không nên giúp đỡ. Như vậy Tó Hữu gọi là “tình ban” sao được”. “Tình bạn ngày nay đã khác xưa”. Làm gì có “tình bạn” giữa ta với Tàu. Tàu chỉ muốn “ăn tươi nuốt sống” nước ta. Cái ngu nầy là từ Hồ Chí Minh “Phòng khi tôi đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin, cụ Mao...” Tố Hữu còn có câu thơ:
 
              “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
               Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
               Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
               Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”
 
Với Cộng Sản mà Tố Hữu còn đòi: Chân lý, lương tâm.
Chân lý, lương tâm đâu???!!! Tố Hữu “ăn cháo lú” cả chục tô!
Nhiều thứ cộng lại: Cải cách ruộng đất thất bại, Thanh/ Nghệ/ Tĩnh đói khủng khiếp, chạy loạn vào Nam, nào khoán chui, nào xé rào... Bấy giờ có “thầy” bên cạnh, các “lãnh tụ cách mạng trung ương” bèn hỏi thầy. “Thầy” bảo: “Con hưu nên chạy theo đường này, đường này...
Năm 1985, Lê Duẫn “theo bác”, “đi thăm cụ Các Mác, cụ Lê

Nin...” Trường Chinh lên làm Tổng bí thư. Bí thư cũng “bí đường”. Vì là “lý thuyết gia” của đảng. Lý thuyết gia đi thăm các hợp tác xã, miền Bắc, miền Nam, thăm các nhà máy, công ty, xí nghiệp “thành phố Bát”, thấy họ “xé rào”, mới sáng mắt ra, thấy sự thất bại của Chủ nghĩa Xã hội, bèn hô hào “Đổi mới hay là chết”, “Cởi trói”. Từ “khoán ruộng” nay “khoán sản phẩm”, v,v...

Tình trạng đói kém đã tới nước nầy rồi, phải mời các chuyên gia kinh tế chế độ cũ làm “sư phụ”, vậy mà Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh còn hỏi nhau: Có sai đừng lối, chính sách không?!” Nghĩa là có đi sai Chủ nghĩa Cộng Sản không. Thôi thì thêm cho nó cái đuôi “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, cho bọn ăn cháo lú an lòng, vẫn còn “theo “bác”, theo đảng”. Chỉ có Võ Văn Kiệt là có quyết tâm đổi mới mạnh mẽ. Báo chí Tây phương gọi ông là “Kỹ sư của đổi mới”.
Nhiều người Việt Nam có cái tật u mê. Hễ mê cái gì thì mê riết,
mê là muội. Muội là ngu.
 
Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.
 
Cờ bạc là bác thằng bần,
Cửa nhà bán hết, đem thân vào tù.

          Cửa nhà bán hết, không còn gì để bán thì đi ăn cướp. Cướp thì khó tránh vào tù.
          Mê cờ bạc, mê vợ bé, mê Cộng Sản... Ai bảo mê Cộng Sản là không phải mê quyền. Hôm qua còn là thằng chăn trâu, thằng ở đợ. Hôm nay theo Cộng Sản, được “cách mạng” phát cho cây súng AK, làm tên du kích. Người dân trong xã thấy thằng ở đợ, thằng chăn trâu có súng nên sợ: “Thưa chú bộ đội”, “Thưa anh du kích”. Lên càng cao, chức lớn, quyền càng nhiều, lợi càng dữ. “Nhân dân làm chủ”. Nhân dân nào làm chủ ở huyện ủy, tỉnh ủy, ở trung ương, ở bộ chính chị
          Thời “Cụ Ngô”, Duy Khánh thường hát trên Đài Saigon:
          “Đã mười năm qua, tôi đã trở về Quốc Gia, anh còn mê mải chưa về, mà con đường ấy, xin đừng chớ có đam mê, con đường gây oán gây thù...
         
          Tác giả bài hát nói tới chữ “mê” hai lần: mê mải, đam mê.
Theo Cộng Sản thì dễ mê. Không theo CS, cũng dễ mê chủ nghĩa CS. Người ngu dốt, vô học dễ bị CS tuyên truyền đã đành, người trí thức học cao, cũng mê chủ nghĩa Cộng Sản. Jean-Paul Sartre, André Gide, trí thức hàng đầu của Paris, cũng từng “theo” CS.

Đầu đuôi là vì Chiến tranh Thế giới Thứ Hai, nói cho cùng, chỉ là sự tranh giành quyền lợi giữa Đức và các nước tư bản phương Tây. Hậu quả của cuộc chiến tranh nầy với vô vàn tang thương, chết chóc và đổ nát, khiến dân chúng chán ngán chiến tranh và qui tội cho bọn tư bản, đế quốc. Và dĩ nhiên, nhiều người hướng về Cộng Sản, hy vọng ở đó có hóa bình.
Rồi Cộng Sản Liên Xô, Cộng Sản Tàu làm nhiều diều tàn ác, phạm tự do, dân chủ, v.v... khiến nhiều người “sáng mắt ra”, như sau nầy tay đờn cò nổi tiếng Saigon cũng chạy xe ôm được.

Trong Minh Đạo, Hồ Hữu Tường viết: “Từ mấy năm nay, nhiều nhà cách mạng cũ rời bỏ hàng ngũ của chủ nghĩa Marx, vì cái chính trị cura đảng nầy thiếu môt cơ sở luân lý, Khroutchev,  khi chỉ trích cái chính trị của Stalin, cũng đưa ra những lý lẽ thuộc nhơn luân. Kinh nghiệm của gần năm mươi năm cách mạng Nga chứng cho chúng ta thấy rằng chính trị mà buông lung, thì chẳng khác nào ngự mạnh ma không cương, thêm bịt mắt, nó có thể đưa vào hố thẳm. Ma nếu không có một nền văn minh tu sĩ đặt những lignes de force cho kẻ làm chánh trị hướng theo, thì họ biết nghe vào đâu khác hơn là tiéng gọi của bản năng?
(Hồ Hữu Tường - Minh Đạo - Côn Sơn tháng Bảy 1962 )
 
Tác giả bài hát lại nói tới “Con đường gây oán, gây thù...” Con đường đó là con đường tiến chủ nghĩa xa hội, con đường Cộng Sản chớ gi nữa.
Dân tộc ta vốn được các nhà dân tộc quốc tế nhận xét rằng là một dân tộc hiền hòa. Ai dạy họ, biến họ thành những người hung dữ: “Giết và giết nữa...”, những kẻ giết người không gớm tay, ai nấy đều sợ!

Hồi đó Saigon có câu nói đùa “Văn Vỹ chạy xe ôm”. Nghĩa là nhạc sĩ mù đờn cò Văn Vĩ còn sáng mắt ra. Tới lúc nầy mà “Bộ chính trị” còn mù căm là “Bộ chính trị” còn ngu lắm, dốt lắm. - Ấy là dân Saigon nhận xét, không phải tôi.
Tình trạng như thế thì ở VN còn “treo cờ đảng” làm chi? dẹp cái “búa liềm” cho rảnh mắt người ta, cho người ta khỏi bực mình. Cộng Sản VN không biết rằng ngày ngày, tháng tháng, họ đưa tay nhận tiền, tiền cho, tiền vay từ các nước tư bản đổ vào hay sao. Hết tiền từ Nhật, tới Nam Triều Tiên, Úc, Pháp, Mỹ hay sao?
Biết chớ, nhưng không giữ cái cờ đảng thì làm sao giữ được quyền lợi. Về Saigon năm 2016, tôi được ông bạn trẻ, dân Saigon chính hiệu, từng đi Thanh niên Xung phong thời Võ Văn Kiệt  làm Bí thư Thành ủy, kể cho  nghe câu chuyện như sau. Đầu tiên, tôi nói:
Thời Tổng thống Ngô Đình Điệm, theo “Chương trình Phát triển Kinh tế Hậu chiến Stanley/ Thúc” thì Saigon sẽ phát triển qua bên Thủ Thiêm. Bên đó sẽ là vùng Quốc tế, bao gồm cả Phi trường Quốc tế, “Trung tâm Giao dịch và Thương mại Quốc tế. Nôm na, coi như mọi việc giao thông, thương mại, bàn bạc, làm ăn...với Quốc tế đều ở bên đó, không phải chỉ có một cái phi trường mà thôi đâu. Việc nội địa, mới ở bên nầy sông Saigon. Ba thành phố Saigon/ Biên hòa/ Vũng tàu nối nhau làm một. Saigon nối với Thủ Thiêm bằng một cây cầu nối dài trên đường Hàm Nghi. Sao bây giờ Saigon nối với Thủ Thiêm không bằng cầu mà bằng hầm. Taxi lái tôi đi Saigon là lạc qua bên ấy đấy.
Anh chàng “cựu Thanh niên Xung phong” giải thích với tôi:
          -Tại ông Đỗ Mười đấy. Ông ấy bao giờ cũng chuẩn bị đánh nhau với giặc. Ông ta bảo làm cầu dễ bị địch tấn công. Đường hầm địch khó tấn công hơn. Nhưng dân Saigon biết thâm ý của ông ta.
          -Thâm ý gì? Tôi hỏi.
          -Làm cầu chi phí ba trăm triệu. Làm hầm chi phí bốn trăm triệu.
          -Ba trăm triệu bớt nợ hơn chứ. Tôi nói.
          Anh bạn trẻ cười:
          -Ba trăm triệu lại của ít hơn bốn trăm triệu. Sau nầy, con cháu trả nợ... chết luôn.
 
          Thành ra, có một điều rất dễ hiểu: Quyền lợi.
          Có đảng hay không có đảng, quyền lợi là trên hết.
         
          Xin kể một câu chuyện lịch sử như sau:
          Sau khi đánh bại nhà Mạc, đuổi con cháu họ Mạc chạy lên Cao Bằng, bấy giờ thanh thế Trịnh Kiểm lớn lắm. Kiểm muốn lên ngôi vua, nhưng sợ lòng người còn nhớ nhà Lê, không phục, bèn cho người đến “vấn kế” Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ Trạng không nói gì với sứ giả của Trịnh Kiểm, lại nói với người nhà: “Chăm lo thờ Phật mà ăn oản”. Lại nói thêm: “Năm nay giống lúa mới không tốt, lấy giống cũ mà gieo”. Nghe tấu lại, Trịnh Kiểm hiểu ý, bèn bỏ ý định cướp ngôi vua Lê.
 
          Bây giờ Cộng Sản VN lại giở lại “bổn cũ” của Trịnh Kiểm, Mắc mớ chi mà họ “giải tán” đảng CS đế mất quyền lợi, lại còn đem cả tượng Hồ Chí Minh thờ trong chùa nữa, cũng chỉ là để gạt dân chúng.
 
          Cái “oản” trên bàn thờ Phật không bao nhiêu. Cái “oản” từ tay Tư Bản lớn hơn nhiều, không thể bỏ đi được, gắng giữ mà ăn. Bao giờ không giữ được nữa thì tư tiêu vong, giống như Liên Xô năm 1991 vậy.
          Tới khi đó, đảng không còn, cái tên Thành phố Hồ Chí Minh tự nhiên “áo tơi, nón lá” ra đi, như tên thành phố St Peterburg, Volograd vậy.
 
Ô hô! Thành phố “Bát”

hoànglonghải
 
Đọc thêm:

Bà con cùng họ Lê    
Cách nay mười năm, tôi về thăm Quảng Trị, “coi “đá đảng” của họa sĩ Lê Bá Đảng (Việt kiều ở Pháp), gặp vài ông cán bộ già gốc làng Bích La, sống hiu hắt với tiền hưu chết đói, vậy mà vẫn còn “tính đảng”. Có một cán bộ già nói: Đồng chí Lê Duẫn rất sáng suốt. Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thất bại, đồng chi Lê Duẫn đã thấy sự thất bại bên Liên Xô, Trung Quốc, đã có ý “đổi mới”. Chén cháo lú của Cộng Sản hiệu nghiệm hơn chén cháo lú của Diêm Vương cả trăm lần. Tôi nói với ông ta: “Chủ nghĩa nào mà dìm người dân vào đói nghèo là có tội với dân tộc”. Cũng may, dân Quảng Trị không có thói xấu: “Báo cáo cán bộ...”
Bấy giờ, theo chân Trường Chinh có Nguyễn Văn Linh,
Võ Văn Kiệt... rước tư bản Nhật, tư bản Đại Hàn, tư bản Đài Loan... vào chơi. Nhờ tư bản, nước ta mới có cái cảnh tượng ngáy nay.
Mấy tay lãnh tụ hiện nay không sòng phẳng chút nào. Mới
đây,xem TV, tôi thấy bọn họ “cám ơn” các ông “đổi mới Trường Chinh, Võ Văn Kiệt... mà không một lời cám ơn các ông “thầy” của họ.
Giáo sư Carl Thayler ở Úc nhận xét: (Công Sản) “Cho phép
khu vực kinh tế tư nhân phát triển và thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để vực dậy nền kinh tế