truyện ngắn
![]() |
| Tác giả Nguyễn Đức Tùng |
Hòa bình vãn hồi, dân tản cư trở về từ vùng chiến khu, dựng nhà, cày ruộng, xây trường, tấp nập buôn bán, khởi đầu cuộc sống mới lam lũ nhưng vui. Nhà đông con, mẹ tôi gánh hàng rong bán
dọc quốc lộ Một cho đến ngày sinh nở. Lớn lên, tôi theo bà vào ra đoạn đường từ thị xã đến Diên Sanh thăm dì tôi lấy chồng ở Hải Lăng.Ngày hè, gió Lào miên man thổi, mẹ tôi dắt tay tôi một tay giữ chặt nón, hai mẹ con vừa đi vừa bị gió thổi bay trên đường. Thỉnh thoảng tiếng súng từng chặp dội về từ rừng, phía đường xe lửa bỏ không nhiều năm, khuất trong cỏ lau trắng xóa. Tiếng tiểu liên carbine giòn giã, CKC gióng một bắn tỉa, Garand chát chúa. Nhưng nhiều năm súng đạn đã trở thành quen thuộc, trong cái bóng đổ dài của chiến tranh, cỏ vẫn mọc, người ta vẫn phải sống, và nhiều khi sống hạnh phúc.
Trước giờ đi học, tôi được mẹ giúi cho hai mươi đồng để ăn bánh mì xá xíu trưa ở lại trường, mười đồng đi đò ngang, từ làng qua thị xã. Tôi nhịn ăn dành tiền thuê kiếm hiệp. Mê đuổi theo số phận nhân vật, đôi khi tôi xài tạm tiền đò, vậy là tan trường, mùa hè cởi áo quần bơi qua sông về nhà. May nước không sâu lắm, nhưng có khi cũng uống đầy bụng. Trời nắng gió, bước lên bờ tóc đã khô. Đó là những bài tập bơi của tôi.
Thực ra, có một nỗi lo âu vần vũ xóm làng khi xảy ra chạm súng giữa dân vệ hay nghĩa quân của xã, địa phương quân của tỉnh và các toán du kích từ rừng về đánh lô cốt, phục kích viên chức chính quyền, hay chuyển hàng tiếp tế. Có lần, trên đường đi học tôi nhìn thấy một cái xác quần đùi ở trần với những bao thuốc lá Ruby đỏ, Cotab trắng, Melia vàng rơi vương vãi, máu nhuộm chúng đã khô, không ai dám nhặt.
Nước mắt cũng mau khô. Nỗi sợ hãi chóng qua, không khí yên bình tái lập. Lực lượng dân vệ, nghĩa quân hoạt động mạnh, gây cảm giác khá an toàn trong vùng bao quanh thành phố và khu trù mật. Làng tôi bên sông đối diện với thị xã, chiều chiều ánh điện chiếu xuống mặt nước soi lên tuổi mới lớn. Những đứa trẻ mới lớn hay mơ mộng, thích đọc truyện tình và trinh thám kiếm hiệp, cả hai đều lãng mạn, kiểu khác nhau. Hồi ấy ở miền Nam có phong trào thuê truyện, nhất là giới học trò. Các hiệu cho thuê phát triển, truyện kiếm hiệp Kim Dung, Ngọa Long Sinh, trinh thám Z.28, 007, truyện xã hội Dương Hà, Sĩ Trung, Bà Tùng Long. Tôi có nhiều địa điểm thuê truyện, nhưng trong một con hẻm nhỏ ở gần chùa Tỉnh hội, chạy sát bên thành cổ Đinh Công Tráng, dọc theo đầm nước có nhiều hoa sen nở trắng vươn lên dưới vòng rào kẽm gai, một hôm tôi tìm ra địa chỉ thú vị. Ở đầu ngõ hẻm có cái bảng nhỏ đề “Cho Thuê Truyện”, ba chữ sơn xanh nền đỏ, đập ngay vào mắt, mà dù không có cái bảng sơn xanh đỏ ấy, dù chỉ là hàng chữ li ti thì những đứa mê truyện như tôi cũng không bỏ sót. Một ngày, đi học tan trường về, tôi nhìn thấy nó từ sau chiếc cột điện, tôi đứng ngẩn người. Con hẻm sâu, đi loanh quanh một chặp, ở dưới hiên lợp mái tôn của những ngôi nhà lụp xụp, mới cất, của những người từ vùng phía Nam sông Bến Hải, Dốc Miếu chạy giặc giã sau cuộc bình định Ấp chiến lược, dựng tạm. Bên những đứa trẻ da xanh mét mặc áo hở rốn, quần đùi, là những thiếu nữ phấn son lòe loẹt. Tôi không chú ý lắm, vì thời ấy đầu óc còn nghĩ đến thú chơi như câu cá, bắt chim, coi phim cọp và những cuốn sách. Quán là căn nhà nhỏ, phía trước rộng có cái tủ cao mắt lưới, bên trong bày những gáy sách hấp dẫn. Giữa hai chiếc cột lớn là cái võng dù xanh, một người đàn bà còn trẻ thường nằm ở võng cho con bú, khi có khách vào thì mới đứng lên tới phía sau tủ sách, lụi cụi ghi chép. Nhiều lần quen thuộc, tôi biết chị có chồng là đi lính hay xa nhà. Chị có hai hoặc ba đứa con nhỏ, quê Gio Linh, gần cầu Hiền Lương, chạy vào thị xã mới vài năm trước. Chị ít nói, mặt không bao giờ trang điểm nhưng có nét đẹp kín đáo, dịu dàng, tần tảo. Nghề cho thuê truyện không phải là nghề khá giả, nhưng thích hợp vì chị có con nhỏ. Trong tủ có nhiều loại sách, truyện chưởng và tiểu thuyết văn học, từ Phi lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường đến Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn, từ Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đến Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, tôi nhớ một đoạn: Hãy mang tất cả về đêm nay cho tôi thấy. Cho ba tôi thấy. Cho em Kim tôi thấy. Cho chị Hạnh thấy. Tiếng đại bác. Tiếng đại bác. Gửi gì không.
Tủ sách của chị ngày một lớn, đầy ắp, khách ngày càng đông, bọn nhóc. Có lúc tôi vào nhà không có ai, ở cửa con chó nhỏ không sủa. Tôi đi lui đi tới nhiều lần, mỏi chân, nằm lên chiếc võng dù êm ái cho đến khi chủ nhà về. Lâu riết thành quen. Tuần nào thứ bảy tôi cũng ghé để tìm đọc một hai cuốn. Tôi đi tìm những thú vui trong chữ, trên giấy, ở ngoài cái thế giới mà tôi đang có, khốn khổ, chết chóc, thế giới có thực ấy cũng đẹp lạ thường nhưng nguy hiểm lạ thường. Tôi đi tìm những con đường khác của đời sống.
Đối với tôi, cuộc đời vừa mới đến.
Nhưng vội tàn.
Ngày lễ Phục sinh, thứ Sáu 30 tháng 3 năm 1972, hàng chục ngàn quả đạn pháo từ Vĩnh Linh, bờ Bắc sông Bến Hải, bắn qua giới tuyến, phủ chụp các căn cứ Ba Hồ và Đầu Mầu phía Tây, Cửa Việt và Quán Ngang phía Đông, Cồn Tiên và Dốc Miếu phía Bắc, khởi đầu chiến dịch Xuân Hè. Sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 bất thành, lực lượng du kích rút sâu vào rừng núi, tình hình nông thôn tại Quảng Trị, Thừa thiên khá yên tĩnh nhiều năm. Nhưng lần này là cuộc tấn công trực diện của quân chủ lực miền Bắc: các đoàn xe tăng tràn qua sông Bến Hải tiến về Đông Hà. Các loạt pháo kích dồn dập dọn đường cho bộ binh theo sau, được bảo vệ bởi các hỏa tiễn đất đối không từ vùng phi quân sự. Hòa đàm Paris dự trù mở trở lại vào tháng 7 năm 1972, cả hai bên đều tăng cường hoạt động để giành thế mạnh. Ba ngày sau, thứ Hai 3 tháng 4, quân miền Bắc đẩy lùi các phòng tuyến bảo vệ của quân miền Nam, tràn qua Cam lộ, nơi có con đường 9 huyết mạch chạy từ Đông Hà qua Lào. Sự viện trợ của không lực Mỹ rất giới hạn, phần do thời tiết mây mù, phần do các mệnh lệnh nào đó, gần như bất động trong thời gian này. Quân miền Nam tổn thất nặng, rơi vào hỗn loạn. Căn cứ Cồn Tiên, Mai Lộc thất thủ. Cầu Đông Hà bị giật sập làm chậm bước tiến đối phương nhưng cũng chỉ được vài ngày. Dân chúng và chính quyền địa phương rút chạy về phía Nam.
Gia
đình tôi vào Huế, ở tạm nhà dì tôi bên Đập Đá và nhà chị tôi trong thành Nội, gần
trường trung học Hàm Nghi, ngôi trường đẹp thơ mộng có nhiều phượng nở. Ngày 3
tháng 4, khi chúng tôi đang ở Huế, trên vô tuyến truyền hình, tôi thấy tướng
Hoàng Xuân Lãm tư lệnh vùng 1 kêu gọi phản công trên các mặt trận. Ngày 6 tháng
4, hỏa tiễn và moọc chê bắn vào Đông Hà. Không chỉ vùng giới tuyến, trong tháng
Tư này, trên nhiều mặt trận khác ở miền Nam lửa cũng cháy bừng bừng. An Lộc bị
vây hãm. Giữa tháng 4, trung tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 nhảy dù Nguyễn
Đình Bảo tử trận, căn cứ Charlie ở Kon Tum tan vỡ. Sau đó tình hình địa phương
trở nên lắng dịu. Hai tuần lễ yên tĩnh, một số dân chúng từ Huế, Đà nẵng lần lượt
trở về nhà. Cha tôi mang tôi về quê, nhưng để các anh chị tôi ở lại Huế, vì ông
cần trình diện công sở. Đến ngày 27 tháng 4, tình hình lại thay đổi, với các cuộc
tấn công từ rừng núi phía Tây vào căn cứ Ái Tử của sư đoàn 3 bộ binh. Ngày 28
tháng 4, Đông Hà thất thủ. Bộ tư lệnh sư đoàn 3 rút qua sông Thạch Hãn về thị
xã Quảng Trị. Do phối hợp kém, cầu Ga bắc qua sông Thạch Hãn bị giật sập trong
khi các toán quân cuối cùng của sư đoàn này và nhiều chiến xa, đại bác chưa kịp
qua cầu. Các vũ khí nặng bị phá hủy bên bờ Bắc, trong làng tôi, gây những tiếng
nổ làm dân chúng đã sợ hãi còn khiếp đảm hơn. Trên bến đò Nhan Biều tôi qua lại
mỗi ngày, những chiếc xe quân sự chúc đầu xuống nước nghi ngút bốc khói, mặt
sông dầu loang loáng xanh lè. Ba tháng nữa sẽ loang màu đỏ. Một ngày sau, trưa
29 tháng 4, xe tăng và bộ binh Bắc quân bắt đầu tiến qua sông. Lữ đoàn 147 Thủy
quân lục chiến, đơn vị thiện chiến nhất của sư đoàn 3, buộc phải rút khỏi thị
xã Quảng Trị. Tướng Vũ Văn Giai tư lệnh sư đoàn rời khỏi cổ thành phút cuối
nhưng không thể đi xuyên qua đám dân chúng dày đặc trên đường; lực lượng yểm trợ
của Mỹ phải gởi trực thăng tới chở ông ta và đoàn tùy tùng rời khỏi cổ thành
Đinh Công Tráng. Lữ đoàn 147 rút theo đường số Một đến bờ Nam sông Mỹ Chánh, bị
pháo kích nặng nề trên đường đi.
Ngày
1 tháng 5, quân miền Bắc chiếm thị xã Quảng Trị. Dân chúng tiếp tục ra đi trong
hoảng loạn. Họ chia làm hai ngả, trên đường quốc lộ mới hoặc rẽ xuống đường quốc
lộ cũ, phía biển, từ ngã ba Long Hưng đến chợ Diên Sanh. Quảng Trị nhiều cát,
nhiều sông, nhiều rừng, vì vậy chỉ cần đến bìa rừng là đã đặt đường quốc lộ
chính vào tầm mắt, lọt vào tầm đạn. Khi các đơn bị địa phương quân bảo vệ các
trục lộ giao thông rút đi, quân miền Bắc dễ dàng đưa súng lớn vào trong một
đêm. Một vài khẩu đại bác từ trên các đồi cao, gần các thôn Trường phước, Trường
thọ, Diên Sanh, từ sau nhà thờ La Vang, từ các điểm cao của vùng Như Lệ, Tích
Tường có hồ nước mơ màng, thừa sức uy hiếp đoạn đường từ thị xã vào Huế. Hình
như họ đã kiên nhẫn chờ và tìm cách dùng bộ binh để đẩy lui đoàn người tị nạn.
Đến một lúc không thể ngăn cản được, họ đã nổ súng, đạn đại bác rót ngay vào giữa
mặt đường lộ, trên đầu những người di tản. Ba tháng sau, các lực lượng Nhảy dù
và Thủy quân lục chiến phản công từ phía Nam cũng đã đi qua đoạn đường này, đếm
được nhiều bộ xương khô còn sót lại. Dọc đường số Một có những bãi cát trắng và
rú thấp, khô cằn, nhưng khi đi sâu vào làng mạc phía Đông, phía biển, sau những
đồi cát đầu tiên, cảnh tượng khác hẳn, bạn lại thấy quê hương gió mát trăng
trong, nhiều tôm cá. Dưới tác động của gió Lào, cát thay đổi mỗi ngày, từ sáng
đến chiều một rú cát bỗng dưng biến mất, từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau một
rừng cây lúp xúp bỗng bị che phủ, vì vậy trong vài ngày những xác chết vô thừa
nhận chưa kịp bốc mùi đã vùi sâu trong cát. Gió Lào thổi rào rào qua trảng cỏ,
cát bay đầy mặt, đầy người, ngứa ngáy, đau buốt. Trên những cánh đồng sau đồi,
lúa đã vào mùa sắp chín, trái cây nở rộn ràng trong các khu vườn rộng líu lo
chim hót của Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Quảng Điền, Phong Điền.
Tiếng
đại bác rít trên đầu chúng tôi, tiếng nổ gầm vang, lửa, khói dày đặc, tiếng la
hét, í ới, tiếng than khóc, tiếng rên rỉ, hoảng hốt. Đạn bắn rất gần, tiếng
súng chống tăng M72 của quân miền Nam, B40 của quân miền Bắc, súng cối, tiểu
liên AK 47 đinh tai, M16 sát thương khủng khiếp. Đoàn người chạy ngược lại từ cầu
Trường Phước, khi tới cầu Bến Đá, cầu cũng vừa bị giật sập. Chúng tôi cùng với
một số người bơi qua sông. Tôi và cha tôi chạy qua những rú, những truông, cỏ
lau mọc phất phơ cao ngất, những bụi dứa trái chín vàng ươm, những đồi sim tím,
muồng muồng đen, tre cào xước mặt, mây quấn lùng nhùng, chạy qua những căn nhà
dân chúng hấp tấp ra đi bỏ lại. Khi ngó xuống, đôi dép sứt quai, hai bắp chân
tôi đầy máu vì gai nhọn. Chạy qua một căn nhà trống, gió thổi tơi bời phên liếp,
trước cái cột nhà đen bóng, cha tôi dừng lại. Tôi nhìn qua vai ông, trên cột
treo tấm lịch hiệu Quán thế âm bồ tát của Khuôn hội Phật giáo, có những tờ xé
ra từng ngày. Tờ lịch đứng lại ngày 30 tháng 4. Đó là ngày hôm qua. Một ngày
đang còn in dấu tay của người chủ nhà. Chúng tôi dừng nghỉ một lát, nghe tiếng
súng nổ xa xa. Tôi đứng đó, nhìn vào con mắt thăm thẳm của thời gian. Thời gian
nhìn trả lại. Sau cửa sổ, qua vai cha tôi, đọt lá ổi non chấp chới nắng lay động
ngoài vườn.
Có
một nỗi sợ hãi khủng khiếp khi bạn chạy lạc, lọt vào tầm đại bác, úp mặt trên cỏ,
thân xác phơi ra, không có gì bảo vệ, tiếng départ, tiếng đạn réo trên đầu. Bạn
biết bạn sẽ chết. Nhưng chết là khái niệm trừu tượng, siêu hình, sự kết thúc đời
sống, cái quan tài, hàng nến lung linh, nước mắt người thân, hư vô, kiếp sau.
Cái chết của chiến tranh không phải thế, không kết thúc, đó là sự bắt đầu. Bạn
bắt đầu bước xuống tầng hầm tối đen địa ngục, bạn khởi sự đoạn đời khủng khiếp,
sợ hãi kêu thét một mình, không ai nghe, không ai biết, bạn kêu gào xin kết
thúc, không có tiếng lắc chuông của Địa tạng vương bồ tát, chỉ những bông hoa
sim tím bên đường giữa cát trắng dội lại tiếng than khóc của bạn, dội đi dội lại
âm thanh ngày cuối cùng. Bạn lớn lên bao giờ cũng tin rằng cá nhân mình là ngoại
lệ, mọi người có thể phạm tội ác nhưng bạn không thể phạm tội ác, mọi người có
thể rơi vào thảm họa nhưng chính bạn không thể rơi vào thảm họa, người khác có
thể phản bội nhưng bạn không phản bội, người khác có thể đạp phải mìn mất một
bàn chân nhưng bạn không thể dẫm phải mìn mất một bàn chân trong một ngày sương
còn đọng trên cỏ ướt. Giữa xác thường dân, thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác những
người lính, những người bộ đội, bên súng cối, súng AR15, súng phóng lựu dài ngoằng.
Không chỉ pháo kích, các trận đánh phục kích bên đường cũng diễn ra ác liệt,
súng bắn vòng trên đầu, súng bắn ngang. Cha tôi cầm tay tôi chạy hốt hoảng giữa
đoàn người, một số chạy về phía Nam tìm vợ chồng con cái thất lạc, một số chạy
về phía Bắc khi gặp pháo kích. Tôi lạc mất cha tôi, giữa những cái xác. Đêm tôi
thức dậy một mình, nằm trong một cái hố cát nhỏ trong vườn cách xa quốc lộ vài
chục mét. Có một tấm vải bạt đắp ngang người tôi, như thể tôi đã kéo xuống từ một
cái chòi nào đó, hay là một người nào bí mật đã đi ngang qua và đắp cho tôi.
Đêm mùa hè, sao trời sáng rực, nhiều như hoa đăng, sáng đến nỗi bạn có thể nhìn
thấy rõ đường chỉ tay. Gió Lào bắt đầu ngừng, xen lẫn với gió nồm từ biển vào
đem theo hơi mát, mùi muối mặn, mùi máu mặn. Xa xa con đường số Một nằm trơ trụi,
về phía đường xe lửa là rừng rú, về phía Đông là đồng bằng, càng đi xuống làng
mạc càng đông đúc. Tôi ngồi dậy, mỏi rã rời, lắng nghe tiếng ve sầu bàng bạc
lưng chừng cây như khóc than, báo cho tôi biết rằng đây không phải là nơi trú ẩn
an toàn. Bạn phải chạy đi, quê hương không còn là nơi trú ẩn an toàn. Tôi nhắm
mắt lại.
Ba.
Papa.
Tôi
gọi khẽ.
Không
tiếng trả lời.
Hồi
nhỏ, tôi gọi cha tôi là Papa, vì ông là thầy giáo Pháp văn, dạy tôi tiếng Pháp
thời vỡ lòng. Bạn mười mấy tuổi, những năm đẹp nhất đời, vầng trăng tròn vừa ngự
trời cao lồng lộng. Bạn từng sống ngày hạnh phúc, quê hương của bạn kịp thấy trời
rạng đông, phảng phất thứ tai ương mới đầu bạn tưởng mình không hề nhúng tay
vào, thật ra bạn có nhúng tay vào. Khi không người nào chịu trách nhiệm thì tất
cả mọi người đều chịu, sự hủy hoại của chiến tranh trong khi cày xé mặt đất
cũng bẻ vụn tâm hồn, biến chúng ta thành người khác, tàn nhẫn hơn, khôn ngoan
hơn, điên cuồng hơn. Giữa chiến tranh, không có một niềm hy vọng nào cả, tôi nằm
đó, nhìn sao, qua những cành lá, cỏ may, cỏ hổ ngươi, một nỗi buồn rầu xen lẫn
giận dữ từ từ dâng lên như khi bạn đi vào giấc mộng, cánh cửa sập lại đằng sau
và bạn sống với những quy luật khác. Trong căn phòng của quy luật khác ấy tôi
đi lại một mình, dùng một ngôn ngữ không ai hiểu. Tôi còn trẻ quá, nhưng chỉ
vài năm nữa thôi nếu chiến tranh tiếp diễn, tôi sẽ phải cầm súng. Đây là đất nước
tôi, đây là ngày mai, nhưng tôi chẳng có tiếng nói, không ai có quyền quyết định
trước số phận, một nửa dân tộc biết rõ như thế, một nửa chưa biết điều ấy,
nhưng không một người nào có quyền quyết định số phận mình. Tại sao nằm giữa
chiến tranh, kề cận cái chết, tôi lại nghĩ những điều mông lung, tôi muốn nghĩ
một điều gì để quên đi hiện tại, tôi muốn ghi nhớ vì ngày mai xóa sạch ngày hôm
nay. Máu sẽ ngừng chảy, nước mắt sẽ khô, người sống sẽ chết, đứa trẻ đi lạc sẽ
trở về nhà, thời gian trở thành kẻ dối trá. Để có thể sống bình thường, mỗi người
đều phản bội chính mình, như một người mẹ vừa khóc đứa con trên tay, vài ngày
sau đã phải áo quần tươm tất ra đường. Chỉ có đất nhận lại lỗi lầm của chúng
ta, uống lại máu chúng ta, như chiếc nôi xưa nhận lại hài nhi.Nếu đời sống trước
mùa hè ấy không đáng yêu đến thế, nếu con người tự do không hạnh phúc đến thế,
nếu ngày vui chim đã không hót vang trong bụi trúc, thì đêm ấy tôi đã không muốn
khóc. Vì nỗi thương tiếc chẳng làm nên tích sự gì, bọn bạo chúa chẳng bao giờ
tin vào quyền lực của tiếc thương. Nhưng tôi đã bơi qua dòng sông cùng với cha
tôi, rồi thất lạc, rồi bơi một mình qua dòng sông khác, đã nhìn thấy những xác
chết đen nhẻm trên đường, đã cầm mảnh đạn pháo nóng hổi màu xám trên tay, mùi
kim khí khét rẹt, mùi thịt người cháy xém trong không gian, tôi đã thấy một
cánh tay vắt vẻo trên cành tre cao ngất, chim chào mào hay về đậu, đã thấy hàng
ngàn người chạy trên đoạn đường chín cây số, đã nhìn thấy một cây cầu đổ ụp
phía chân trời.
Bạn
có bao giờ nhìn thấy một cây cầu đổ?
Khi
chúng tôi vừa vượt qua cầu Bến Đá về phía Bắc được vài trăm mét thì có tiếng nổ
lớn, mọi người dừng lại, ngoái đầu, một cột nước cao ngất, tồi đám khói bốc
lên, bụi mù, cây cầu bằng sắt đen từ từ nẩy lên rồi chúi đầu xuống ở giữa dòng.
Chậm đến nỗi bạn biết điều ấy không có thật. Sau nhiều giấc ngủ chậm chờn, những
giấc mơ ngắn, mồ hôi ra đầm đìa, tôi ngồi dậy, từ trong cái hố cát nhỏ trong vườn
bên đường số Một nghe ngóng, nhìn lên mặt đường. Tôi ngạc nhiên về im lặng, về
tỉnh thức xen lẫn sợ hãi, đôi khi sợ hãi lớn đến mức che mờ ý thức, người tôi
run lên từng chập, tôi chỉ muốn chết để kết thúc sự đau khổ ấy, nhưng nhiều khi
ý thức trở lại xua sạch nỗi sợ hãi. Vào lúc ấy, bầu trời sáng bừng, khổ đau trở
nên hiểu được, nỗi bơ vơ mất cha lạc mẹ trở nên chịu đựng nổi, dù tạm thời.
Chân tôi dầm trong cát mát lạnh vì sương đêm, cơn đói tới dồn dập. Tôi bò quanh
tìm trái mít rụng, tìm dễ dàng nhờ mùi thơm. Đó là một trái mít ướt vừa rơi,
múi còn nguyên, tôi úp mặt xuống, ăn ngấu nghiến, nuốt hết nước mũi nước mật
hòa nhau.
Khi
đã no, tôi bắt đầu nghe tiếng dế kêu trong cỏ, con dế nào vừa ra khỏi hang đi
tìm bạn. Hai tay tôi cầm chặt cái vỏ mít đầy gai nhọn. Có một lúc tôi nhận ra nỗi
đau khổ của tôi lớn đến nỗi không một lý thuyết nào có thể giải thích được, có
thể tự chứng minh sự đúng đắn của nó.
Chiến
tranh không chỉ là vết thương súng đạn, mà còn là con đường dẫn tới mọi ảo tưởng,
ảo giác, dẫn một dân tộc vào mê lộ ở đó đúng và sai lẫn lộn, thắng và bại lẫn lộn,
trước và sau lẫn lộn, một dân tộc, không trừ một người nào, như những người bị
kiếm sắc đâm vào mắt, mù lòa, dẫn nhau đi sờ sẫm trong hang động, như trong tiểu
thuyết của Kim Dung. Chúng ta sẽ không còn yêu ai nữa nếu chiến tranh tiếp tục.
Vì tình yêu cần một cấu trúc vật thể như linh hồn cần thân xác, như tín ngưỡng
cần nơi thờ phượng. Trong một thời kỳ đầy rẫy những lý tưởng, mỹ ngữ, xảo ngữ,
cuộc chiến tranh đã bắt đầu từ lâu trước khi tôi ra đời, sự đau khổ này tuy diễn
ra đột ngột, với nhiều người là kết cục tất nhiên của nhiều năm tháng lầm lỗi của
dân tộc, không trừ một ai, ở đó sự hỗn loạn lấn át trật tự, sự độc ác chiến thắng
tình người. Nỗi hối hận gõ cửa, đến tìm thăm nơi cội nguồn của bạn, nhưng bạn
lúc ấy đi xa, không bao giờ biết. Những nạn nhân của bạo lực bao giờ cũng chết
trước khi bạn trở về, không bao giờ kịp kể lại câu chuyện của họ, trước đây vẫn
thế, sau này sẽ thế. Bất cứ một gia đình nào cũng vừa có người thuộc phía miền
Nam vừa có người thuộc phía miền Bắc, bất cứ một gia đình nào cũng có người
thân dù gần hay xa bị Pháp tra tấn hay bị Việt Minh chôn sống. Tội ác và dối
trá của người Việt đối với nhau không bao giờ chịu kém hơn tội ác và dối trá của
người ngoại quốc, trong chiến tranh, sau chiến tranh.Khi tôi cầm tay cha tôi chạy
trên đoạn đường khỏi cầu Bến Đá, tôi không ngờ rằng tôi sẽ mất người. Những buổi
chiều ngồi trên võng tôi la đà đọc, nhẩn nha, theo dõi tâm sự của Kiều Phong, sự
lầm lỡ của Nhạc Linh San, cuộc phiêu lưu của Tiêu Lĩnh Vu. Đang học ban toán,
tôi bỏ bê, bài tập về nhà không chịu làm. Vì có thói quen học trước lớp vài
chương nên bài vở của tôi chưa thay đổi, giáo sư không biết, nhưng tôi biết.
Tôi biết nguồn kiến thức của mình cạn dần vì nhiều tháng đem xài hết. Năng lượng
của một đứa trẻ mới lớn đã dành theo kịp những đoạn đường mạo hiểm ra Băng hải
đảo của Trương Vô Kỵ, những thế võ của Mộ Dung Phục. Ngược lại tôi nhận được một
thứ năng lượng kỳ lạ không tên của trí tưởng tượng, của những ước mơ run rẩy,
tuy chẳng có ích gì cho môn toán của tôi trước mắt, nhưng về lâu dài cũng có thể
đã gieo vào lòng thói quen suy nghĩ mông lung chẳng đâu vào đâu, đối với nhiều
người là vô tích sự, đối với một số ít khác là có thể dùng được.
Chẳng
bao lâu bạn sẽ mất tất cả.
Nhưng
bây giờ bạn có hết. Ngõ hẻm, chị chủ nhà đứng chờ sau tủ sách, nở nụ cười buồn
rầu, cây bút chì trên tay chậm chạp ghi tên bạn lên cuốn tập học trò. Người đàn
bà ấy ghi thật chậm vừa chép vừa đánh vần, đôi khi đọc thành tiếng. Như vậy tôi
có cả buổi chiều, cơn mưa đám mây, bến đò ngồi đợi, chuyến đò cuối cùng ngày thứ
Bảy, chiếc võng trước hiên nhà, dưới dàn thiên lý hoa thơm mà mẹ tôi hay nấu
canh khá ngon, và nếu may mắn, trong tủ bếp có một thứ gì đó để nhâm nhi mà các
chị tôi thường để lại cho em trai út, kẹo bánh, đậu phụng, bắp nướng. Tôi nằm
trên võng, trong im lặng của vùng quê yên tĩnh, như có chiến tranh mà như không
có chiến tranh. Một ngày tròn trịa như chú gà non mới nở từ quả trứng, vừa nhảy
ra kêu chim chíp trên sân. Rồi nó bỗng vươn cánh, xòe rộng, bay đi mất.
Tôi
sống giữa những nhân vật phiêu lưu, và những nhân vật ấy, người tay đao tay kiếm,
người súng lục rút nhanh như chớp. Một thiếu niên khí phách dám xông vào sơn
trang mà chủ nhân là kẻ tà đạo, tất nhiên. Trong cuộc diện kiến quanh bàn tiệc
trên tầng tháp cao, khi mọi người trổ tài khuất phục người khác, chàng chẳng
làm được gì cả. Chàng ngồi đó, khiêm tốn và nhẫn nại, như lịch sử. Cho đến khi
chẳng đặng đừng, liền cầm tách trà bằng sứ lên thuận tay liệng ra cửa sổ. Thiếu
nữ đem lòng yêu chàng, có mặt ở đó, lấy làm ngao ngán về môn công phu quá ư tầm
thường. Tôi cũng ngạc nhiên, thất vọng. Câu trả lời tất nhiên thuộc về tác giả,
ở chương sau, trong một cuốn sách khác hình như Sài Gòn chưa kịp in, hay chị chủ
nhà cho thuê chưa kịp mua về. Tôi không biết, chỉ nhớ tôi đợi dài cổ xem chương
tiếp, không ngớt thắc mắc về số phận nhân vật.
Số
phận của tách trà bị ném qua cửa sổ ở tầng tháp thứ mười ba.
Nhưng
chương kế tiếp không bao giờ đến, trang sách bị xé rách, tan hoang. Tôi sống lẫn
lộn giữa ký ức và tương lai, giữa bùn lầy nước đọng của nghèo khổ và ánh điện,
đèn chớp tắt xanh đỏ, giữa ảo tưởng của hiện tại và nỗi mơ hồ của tương lai, giữa
cái đẹp và tội ác. Văn học làm giàu trí tưởng tượng chừng nào càng làm chúng
tôi xa rời sự thật chừng ấy, một thế hệ lớn lên mơ mơ hồ hồ, chẳng biết trong
chiến tranh phía nào là đúng, phía nào là sai. Cả một dân tộc, hay ít nhất một
nửa, như mê đi, như khờ dại, một tâm trí văn hóa mù mờ lẫn lộn, không thực tế,
không sẵn sàng trả lời các vấn nạn trước mắt. Nhưng đó là việc bây giờ nhìn lại,
thời ấy chỉ thấy thanh bình, thấy đẹp. Những nhân vật kia, kẻ trọng nghĩa khinh
tài, người đại gian ác, kẻ tu luyện nhiều năm, người con nhà lành rơi vào đáy vực,
những anh hùng thiếu niên, những kỳ nữ diễm lệ, ai cũng biết khóc cười như
chúng ta. Có muôn ngàn lý do để giải thích cuộc chiến tranh, biện hộ cho sự bắn
giết, hủy hoại. Nhưng từ mấy chục năm nay, có bao giờ dân tộc chúng ta đi chệch
khỏi con đường dẫn nó xuống vực thẳm đâu?Tờ mờ sáng hôm sau, đã yên tĩnh, tôi
đi ngược về phía Bắc, giữa mùi thuốc súng, mùi bánh xe hơi và nhựa đường cháy
khét, chạy lúp xúp bên đường. Sắp tới ngã ba Long Hưng gần con đường rẽ ngược
lên phía nhà thờ La Vang, tôi nhìn thấy một xác chết nằm ngay trên vệ cỏ, khuất
sau một chiếc xe đò bị bắn cháy. Vì chiếc xe chắn ngang mặt đường, tôi phải đi
vòng ra sau một đám cỏ khá cao. Đó là một người phụ nữ trông hãy còn trẻ, một
tay vòng trên bụng, một tay xoải ra, bàn tay khuất trong cỏ như một người đang
ngủ. Hai ống quần rách tươm để lộ bắp đùi.
Vì
sao người dân rùng rùng bỏ chạy, không ở lại với ruộng đồng phố thị của mình,
người Gio linh bỏ khu phi quân sự chạy vào Đông hà, người Đông hà chạy vào Quảng
Trị, người Quảng Trị vào Huế? Một đặc điểm của du kích là chỉ tấn công các lực
lượng quân sự, hầu hết không chủ trương tàn sát dân lành hàng loạt, dễ hiểu là
vì họ cần thu phục cảm tình của dân chúng; tuy nhiên, khi nào đám người ấy bị mắc
kẹt giữa các mục tiêu quân sự, thì họ cũng sẵn sàng hy sinh dân lành, có khi bất
chấp mọi giá để giành chiến thắng. Trong hoàn cảnh thuận lợi, người ta có tâm
lý thận trọng, nhưng khi bối rối, lối hành xử bạt mạng như pháo kích bừa bãi dễ
xảy ra. Có lẽ chiếc xe đò của chị đã trúng phải mìn hay B40 và nhiều người chết
vì sức ép, tôi chỉ đoán thế. Trên người không một vết thương nào khác. Khi sắp
bước đi, tôi bỗng giật mình, quay lại nhìn khuôn mặt một lần nữa. Tôi đau nhói
như bị bắn vào ngực. Dáng người và khuôn mặt ấy, tôi không thể lầm, đó là chị
chủ nhà tiệm cho thuê truyện mà tôi vẫn gặp hàng tuần. Tôi tới gần hơn, phía
cánh tay của chị duỗi thẳng, nhận ra trong cỏ cao một bàn tay cháy xém, các
ngón tay chỉ còn xương và gân, xoè ra như một cánh bướm đen.Đêm trước, tôi thức
dậy mấy lần vì tiếng mít rụng. Mọi việc trở nên mơ hồ lẫn lộn khiến tai tôi ù
đi, mắt mờ. Nằm không xa tôi mấy, một người đàn bà từ một thành phố sắp bị xóa
tên trên mặt đất. Khuôn mặt trong cát bỏng xao xác tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ lạ
như khi nguời ta chiếu đèn từ xa bằng loại đèn pha cực mạnh trong tối. Nghĩ đến
chị, tôi lấy lại can đảm, lấy lại sức mạnh, vừa đi vừa chạy qua đoạn đường dài,
băng qua thị xã, chạy qua trường Bồ đề, xuống bến đò, bơi qua sông Thạch hãn, một
dòng sông mà sau này tôi sẽ bơi ngược trở lại.
Gió
mùa Quảng Trị thổi nhiều giọng. Rú từng đợt khi qua đèo Lao Bảo, nỉ non trên
Tân Sở, rì rào cuốn bụi đỏ từ Dốc Miếu, dịu dàng khi qua nguồn nước Tích tường.
Nếu bạn ngồi thật lâu cuối khu vườn có mít và ổi, như tôi ngày ấy, bạn có thể
nghe được lời nhắn gởi của gió, lời nhắn gởi của tiếc thương. Trong lớp học tiếc
thương này, số học sinh hiện diện bao giờ cũng đông hơn học sinh trong giờ toán
của tôi, giờ văn của anh tôi, và bài giảng của nó sẽ được nhớ lâu dài. Vì vậy,
hai mươi năm sau, khi đi tìm một tài liệu tiếng Việt cho công việc điều tra dân
số của chính phủ liên bang, có liên quan đến môn học toán thống kê của tôi,
trong thư viện lớn nhất ở trung tâm Calgary, mùa hè năm 1992, tôi đã tình cờ
nhìn thấy cuốn sách kiếm hiệp của mình, cuốn kế tiếp, chương kế tiếp, hồi kế tiếp.
Bạn nhớ không?
Tách
trà uống cạn, rời tay chàng thiếu niên bay qua cửa sổ, sau một hồi nín thở chờ
đợi, giữa ánh mắt châm biếm ngờ vực, cái tách ấy đã bay vòng trở lại qua một cửa
sổ khác, vào phòng. Và tất nhiên từ từ đáp xuống. Vậy là chiếc tách sứ ấy đã
bay một khoảng thời gian lâu đến nóng ruột bên ngoài tầng tháp cổ. Không phải một
thời gian, nó bay một mạch hai mươi năm, từ vùng gió mặn đến xứ tuyết trắng.
Tôi
đã bơi qua sông Thư Rơi, qua sông Thạch Hãn. Bơi một mình, lặng lẽ, không phải
để dành tiền đò thuê truyện kiếm hiệp coi chơi, mà để chạy trốn cái chết.
Đêm
yên tĩnh lạ lùng. Mùi mít mật dâng lên từng đợt. Tôi ngửng đầu, sao băng chi
chít. Có một ngôi sao sáng hơn cả, tôi bắt chước một nhân vật tiểu thuyết, mở
và gài cúc áo lại để cầu nguyện cho cha mẹ anh chị, cho đồng bào tôi, xin không
ai còn phải chết vì súng đạn hay vì hận thù. Ngôi sao băng ấy có lẽ nghe được lời
cầu nguyện của tôi nên vạch một đường thật dài, thật chậm, như linh hồn một người
đàn bà đã bay lên cao còn nhìn ngoái lại mặt đất.
Nguyễn Đức Tùng
