Thursday, April 22, 2021

Tháng Tư Về... Lại Nhớ... - Quang Tuyết
 bút ký

Nỗi đau từ biến cố năm nào mãi mãi hằn sâu trong lòng người dân miền nam, nhất là những người sống trong vùng hỏa tuyến cho đến tận bây giờ.

    Từ một cô học trò thơ ngây trong sáng, nhìn cuộc đời bằng đôi mắt màu xanh, chỉ biết trường lớp thầy bạn bỗng một sớm thành cánh chim gãy giữa đường bay vì súng đạn vô tình, vô cảm... vì những điều khắc nghiệt mà tuổi thơ chưa hình dung ra được. Chiến tranh xé nát trường xưa nhà cũ, xé toạc luôn cuộc sống êm đềm và dập nát cả tương lai. Ôi những vết đau thương vô hình của thực trạng đất nuớc, từ đó thấm sâu vào mỗi thân phận để khổ tận cam lai.   

      Gia đình tôi không theo đoàn di dân vào nam mà hồi cư vì nặng lòng cố hương. Về Quảng Trị, về lại xóm ga yêu thuơng vô vàn lặng quỳ trên đống đổ nát tàn hoang mà khóc cạn nước mắt. Rồi cũng phải bắt đầu sự tồn sinh, bằng cách dồn sức lực nhặt nhạnh những gì đỗ vỡ, sắp xếp vào một góc như lưu lại chứng tích lịch sử, để xây dựng cuộc sống mới, trên mảnh vườn xưa, nền nhà cũ, cùng bao ước mong rằng ngày qua lại ngày, sống trong hòa bình an lành thật sự. Nhưng sự đời nào như mình mong muốn, gia đình tôi phải cuốn gói theo dân thị xã ra Đông Hà, đành lòng nhượng lại cho một người dân từ xa đến... khu vườn nhà đã đổ bao công sức khai phá thuần thục, bằng chính tính mạng mọi người trong gia đình, phó mặc may rủi sinh tử vì còn vuơng vãi thần chết sau chiến tranh, vì không thể chịu đựng cái án tư sản mại bản được truy xét hằng ngày, hằng đêm trong những buổi mít tinh thôn xóm.

Chúng tôi tiếp tục gầy dựng lại cái nghĩa an cư, trên ngọn đồi trọc sỏi đá của căn cứ Mỹ năm xưa. Khó khăn, gian khổ ra sao, để ngày nay Đông Hà trở thành trung tâm hành chánh Quảng Trị, ngã ba kinh tế thương mại từ Nam ra, Bắc vô và từ Lào qua, có lẽ không cần phải nói nhiều, khi ai đã từng trần thân giữa cái nắng ngộp thở, cùng những cơn gió Lào rát da bỏng thịt, hay lạnh buốt xương của mùa đông gió bấc, trong cái tổ không hề ấm áp, chỉ đủ che ướt, ngăn gió bỡi mái tole, vách kẽm, thiếu áo thiếu mền thiếu cả than củi. Nhưng người Quảng Trị vốn sinh ra và lớn lên cùng niềm tự hào sỏi đá cũng thành cơm, nên hoàn cảnh ấy rồi cũng qua đi, đói rét rồi cũng có ngày no đủ.

  Riêng tôi, mang tâm hồn thiếu nữ nhạy cảm muôn đời trong thân thể trưởng thành phụ nữ, luôn nhớ thương về thời xưa, chốn cũ bỡi tất cả hạnh phúc bình yên của gia đình trọn vẹn thật sự ở nơi thiêng liêng đó.

  Bao lần trở về xóm ga, đi vòng quanh nhìn cảnh xưa, mong gặp được người quen cũ, nhưng hỡi ôi còn đâu, chỉ thấy lòng mình thất vọng đến trống rỗng. Khu vườn nhà nhượng cho lại cho người ta cái giá rẻ mạt, họ cắt chia thành từng mảnh, bán lại cho nhiều gia đình sinh sống. Tôi muốn tìm đường vào cái giếng của tuổi thơ mình, thăm cây khế vào mùa xum xuê trái, muốn tìm lại dấu tích vườn cũ với nhiều loại cây ăn quả nhưng chỉ thấy mỗi tấm bảng NHÀ NGHỈ xập xệ, phai màu trên bờ tường hoen ố.... Cửa rào bịt kín hầu như không có lối vào. Lân la hỏi thăm chẳng còn mấy người quen. Xóm ga của tôi giờ đây lạ lùng mất rồi. Mụ Phàn, ông Đức hay bà Thiệu ... ông Hảo, Thiềng. Người quy thiên kẻ thì bỏ xứ. Nghe loáng thoáng còn o Lụt, o Lội... nhưng biết tìm ở mô chừ.

Lang thang đường lên ga, hình dung chổ bồn hoa xưa và những chiếc ghế dành cho  khách ngồi chờ tàu, không gian thoang thoảng hương bông sứ, từ trong ký ức chợt thức giấc đến xót xa.... Tôi đang là người khách lạ bước những buớc chân cô độc trên vùng quê hương cũ.

Nơi đây ngày xưa từng mỗi chiều có con bé đen nhẻm, tóc khét nắng vàng nhẩn nha đứng chờ ba về. Khi nghe tiếng còi hú từ xa, cô bé chăm chăm nhìn về hướng cầu lòn đợi chờ tàu đến. Người cha thân yêu luôn đứng trên bậc cửa, tàu chưa dừng hẳn nguời đã nhảy xuống nhẹ nhàng, tay luôn cầm chiếc khăn mouchoir cột bốn góc đựng đậu phụng nấu. Quà ba cho con gái đấy. Hình ảnh của ông trong lòng cô bé là một người tài giỏi, vĩ đại. Cô ước ao sau nầy lớn lên mình sẽ nhẩy tàu giỏi như ba....

Nơi đây ngày xưa là sân cỏ đá banh, mỗi chiều học xong và khi chuyến tàu cuối ngày nhả khói rời ga, trai gái trong xóm rủ nhau chia phe xúm dành trái banh làm từ những tờ giấy báo cũ vò nát và giây thun ( sượi địu ). Phía bên kia gần khu gia binh là lô cốt từ thời pháp thuộc, có con đường nhỏ băng qua xóm ông Tráng lên đồi 4/1, nơi mỗi chiều hè tôi thường thơ thẩn một mình, tung tăng giữa bạt ngàn hoa mua, hoa sim tím ngắm hoàng hôn rơi bên kia sông Thạch Hản, nghe tiếng chuông nhà thờ Như Lệ rung vang, nhìn hàng tre lã lướt theo gió ven bờ An Đôn. Lắng nghe tiếng sáo diều không biết ai thả, vi vu trên bầu trời nghiêng nắng, cảm giác sao bình yên đến lạ, hiền hoà tận vô cùng. Bỡi thế, đẹp như giấc mơ đến vậy thì làm sao quên được, dù thời gian là những tháng năm dài với bao thay đổi. Chân có mòn gót, lòng vẫn nguyên trinh. Những người trăm năm cũ như ba mạ tôi...  cũng đã bình yên giấc ngủ thiên thu. Còn tôi trở về xóm ga, đi theo đường ray hướng về cầu ga... Tưởng như ngày thơ bé, để lòng buồn man mác nhớ năm tháng qua, nhớ da diết người xưa thân yêu đã không còn. Bàng hoàng nhận ra dù mình đã sống gần hết một đời người vẫn canh cánh nỗi niềm sâu thăm thẳm.

Nơi ấy của một thời... một thuở. Giờ đây truớc cảnh cũ, tâm hồn người xưa luống những đoạn trường....

Quang Tuyết