Tôi Về Quảng Trị - Võ Thị Tuyết
bút ký
Nhiều khi tôi tự nhủ mình hãy quên đi những gì đã đi vào quá khứ. Nhưng mà sao từng đêm không ngủ được, cứ thương thương, nhớ nhớ chuyện ngày xưa. Cũng có người hỏi tôi sao chị thương nhớ lung tung thế mà có thấy chị viết gì về quê hương đâu?
Không! Tôi nhớ thương quê tôi nhiều
lắm, cũng giống như Liên Hưng, tôi cũng yêu những " bờ tre, bụi cỏ, cánh
đồng"
Tôi yêu xóm nhỏ của tôi, yêu những
mái tranh nghèo chiều chiều khói tỏa, yêu cả con hói gần nhà, mỗi khi nghỉ học
ra ngồi câu cá,và cả con đường đất bùn lầy lội mỗi khi trời mưa. Ở nơi đó tôi
đã sống hạnh phúc bên gia đình, có cha mẹ và anh chị em, sự đầm ấm trong tình
yêu thương làm sao mà nói hết?
Đầu xuân năm 1968, tôi và Mai Vân từ
giã bệnh viện Đà Nẵng, từ giã bạn bè và bác sĩ Đinh văn Tùng để về quê nhận
nhiệm sở tại b/v Quảng Trị.
Đây là một bệnh viện Quân Dân Y phối
hợp , tọa lạc trên một khu đất khá rộng, đầu đường Trần Hưng Đạo tiếp giáp với
quốc lộ I, nơi chỉ đi vài chục mét là gặp cầu ga bắc qua sông Thạch Hãn.
Bệnh viện có nhiều b/sĩ và y tá dân sự cũng như b/sĩ và y tá Mỹ và quân đội cùng làm việc.
Lửa chiến tranh hùng hục khắp nơi,
làm những chiếc trực thăng ngày đêm lên xuống ầm ỉ chở về những thương binh và
xác của tử sĩ.
Có một dãy lầu nằm riêng để điều trị
cho quân đội.
Bác sĩ bệnh viện trưởng là ông Lê bá
Tung, ngưởi khô khan, cao cao, gầy gầy nhưng rất hiền. Không ai nghe ông la rầy
cấp dưới, khi có gì không vừa ý thì ông chỉ nói nho nhỏ " khỉ, khỉ"
rồi quên ngay.
Sau mấy năm làm ở Đà Nẵng , khi tôi
trở về thì Quảng Trị chẳng có gì thay đổi.
Thành phố vẫn nhỏ bé, và hiền hoà bên giòng sông êm xuôi, vẫn ngọn gió nam Lào khô khốc, và cái lạnh riết róng mổi độ vào đông , nhưng bây giờ đêm đêm, thành phố nhỏ lại rộn lên với tiếng bích kích pháo, với tiếng đại bác ru đêm và cả tiếng súng vọng về trong ánh hỏa châu sáng rực từ một góc trời nào đó rất gần, làm cho tôi cảm thấy bất an, lo sợ.
Về Quảng Trị, nhà của M Vân ở thị xã
nên thuận tiện mọi bề, còn nhà tôi ở quê xa nên tôi phải ở trọ, ăn cơm tháng để
đi làm, đó là một căn phòng mà vợ chồng anh Trường chị Thảo thuê trong làng
Thạch Hãn. Chỉ một căn phòng nhỏ mà chứa cả gia đình anh ấy 5 người và bà mẹ
lại còn thêm tôi. Thật không còn chỗ để thở,
do đó chỉ chịu đựng được một năm thì tôi xin vào ở nội trú.
Dãy nhà của nội trú có hơn 10 phòng
nằm sau lưng nhà của b/sĩ Lê bá Tung, mỗi phòng có từ 2-3 người ở. Đa số là y
tá , b/sĩ ở Huế ra làm việc. Lúc đầu tôi ở chung phòng với Quỳ và Bích Hoa ,
nhưng thời gian lại chuyển sang phòng với Hồng Vinh - một hoa khôi của trường
Cán Sự y tế Huế và bệnh viện Quảng Trị.
Chúng tôi tự túc ăn uống và sống với
nhau rất hoà thuận và vui vẻ.
Lúc mới nhận nhiệm sở, M Vân nhận
nhiệm vụ tại phòng cấp cứu A , còn tôi làm ở cấp cứu B, có chị Cam người Huế
làm trưởng phòng (chị Cam là vợ của trung tá Trần Ngọc Huế bị bắt trận Hạ Lào
Lam Sơn 719 và được Mỹ viết thành sách). Chị Cam rất hiền, vóc người cao ráo,
trắng trẻo như Tây lai (chị vừa qua đời ở Vỉginia).
Phòng cấp cứu B là nơi điều trị cho
bệnh nhân bị phỏng lửa. Những người nhập viện ở đây phần lớn là bị phỏng do ăn
cắp dầu máy bay để nấu rechaud.
Có người phỏng nặng đến tận xương
không cứu được , có những trẻ em chừng 9-10 tuổi cũng bị phỏng nặng, rất tội .
Phòng bệnh sực mùi hôi hám, và mổi lần thay băng lại vang lên tiếng rên la, kêu
khóc.
Hai năm làm việc ở bệnh viện Đà Nẵng
tôi chỉ làm ở khu nội thương, nên bây giờ việc thay băng cho người phỏng thật
là khó với tôi . Thế nhưng cái gì có quyết tâm cũng sẽ làm được , chẳng bao lâu
tôi làm việc này một cách nhanh chóng và nhẹ nhàng không thua ai, nên bệnh nhân
rất thích được tôi thay băng. Một phần sự thành công ấy, cũng nhờ câu nói của
chị Sen người Đông Hà. Chị Sen nói "mi lo coi mà thay băng, chứ mấy cô
điều hộ hương thôn còn làm được , mà Tá viên như mình lại thua sao? ,mất mặt
lắm đó nghe ".
Khi các bệnh nhân phỏng sắp lành,
bác sĩ người Mỹ dùng phương pháp ghép da - tức là lấy da ở chỗ lành ghép vào vết thương cho da mau tái tạo và
đẹp hơn. Ở đó được mấy tháng tôi đổi qua cấp cứu A làm chung với M Vânm, chị
Tâm làm trưởng phòng. Chị Tâm hiện sống ở San Jose. Cấp cứu A là nơi điều trị
bệnh nhân bị thương tích và sau khi mổ .
Được một thời gian ngắn thì bệnh
viện thành lập phòng " ICU " Thế là tôi và Mai Vân được điều vào làm
phòng lạnh. Phòng ICU có 10 giường bệnh và 1 giường trực. Bệnh nhân sau phẫu thuật phải theo
dõi huyết áp, tim mạch cứ 15' 1 lần.
Tôi và M Vân thay phiên nhau trực 24
tiếng nghĩ 24 tiếng. Mổi lần đổi ca chúng tôi viết thư cho nhau để trên bàn,
làm các chị khác tò mò vô phòng đọc rồi cười khúc khích.
Các bác sĩ phòng ICU toàn là người
Mỹ, cho nên phải có hai người phiên dịch thay ca, đó là anh Lê văn Tôn và anh
Lê văn Tú.
Bác sĩ Collin và bác sĩ Colman mập
và to cao bị chúng tôi đặt cho hổn danh là Lê văn Oạng, còn bác sĩ Agee vừa nhỏ
vừa ốm bị đặt tên là Lê văn Trộp.
Bác sĩ Agee rất dễ thương, mỗi lần
tôi ra khỏi phòng là ông kéo tôi đến chụp ảnh chung, số hình nầy sau 1975 tôi
sợ nên đốt hết. Bác sĩ còn tôi đẹp trai mà không thương ? Ông còn lấy tấm ảnh
chung của vợ chồng tôi tách ra rồi làm riêng ảnh tôi khá lớn. Một cái ông treo
ở phòng làm việc của ông, còn một cái đưa cho tôi mà tôi còn giữ cho đến bây
giờ. Ở phòng làm việc ICU , anh Lê đình Lộng Chương và chị Võ thị Vinh của
trường T H Nguyễn Hoàng đã từng là bệnh nhân của tôi.
Trực ở phòng ICU y tá phải thức
trắng đêm để theo dõi bệnh nhân vì họ vừa rời phòng mổ, tình trạng rất nguy
kịch.
Tôi còn nhớ một bé gái chừng 7-8
tuổi ở Trí Bưu bị mổ vì thương hàn lủng ruột. Trước khi phẫu thuật , bác sĩ đã định bệnh và cho thân nhân của bé biết
khả năng cứu sống rất mỏng manh, ước tính hy vọng khoảng 1-5 /100 mà thôi.
Đêm đó trong ca trực, cứ 15' tôi
kiểm tra theo dõi em 1 lần . Gần nửa đêm tôi thấy em quá yếu, nên đã kêu tài xế chở
tôi và anh Tôn vào khu trại của Mỹ (Marc - V) để mời bác sĩ . Khi ngồi trên xe
cấp cứu tôi đã lo và khóc, tôi nói với anh Tôn rằng, nếu tôi vào trong ấy mà bị
pháo kích chết, người ta không biết tôi đi tìm bác sĩ mà lại cho tôi đi làm
điếm cho Mỹ thì oan lắm . Anh Tôn trấn an rằng đạn pháo kích không trúng xe cấp
cứu chở người đi làm việc thiện đâu mà lo. Dù sau đó tôi đã mời được bác sĩ Mỹ,
họ làm đủ mọi cách vẫn không cứu được em bé . Tôi đang buồn vì cái chết ấy thì
sáng hôm sau, người cha của em từ đơn vị về , có lẽ
quá đau lòng vì mất con ,ông đã giận dữ la ó rằng : hồi hôm con y tá nào trực
đã làm chết con ông, rồi ông đòi liệng lựu đạn vào phòng ICU. Lúc đó may có
Seour Yến , Seour đã kể lại chuyện chúng tôi tận tình cứu em bé như thế nào,
khi đó ông ta mới dịu lại và đem xác con về.
Thế mới thấm thía cái khổ của đời y
tá , làm hết sức mình, quên cả tính mạng để cứu người mà khi không cứu được còn
bị người ta oán.
Nỗi ám ảnh đó làm tôi thấy sợ , cho
nên từ đó đêm nào trực tôi cũng gọi bà Thể y công vào phòng ICU ngủ chung với
tôi. Anh Lê văn Tôn (thông dịch viên) luôn xem tôi như em út. Mỗi lần tôi trực
anh thường đem trái cây và nước giải khát bỏ vào tủ lạnh. Khi nào tôi muốn về
thăm nhà thì anh Hạp hay anh Tôn mượn xe Jeep của bác sĩ Mỹ chở tôi về. Anh Tôn
hay đùa : thằng nào ngu mà yêu mi thì như ngồi trên đọt cây, không biết rớt
xuống khi nào. Đến khi tôi gởi thiệp mời đám cưới anh lại nói ,con điên ni mà
cũng lấy chồng hả?
Thế nhưng con điên ấy lại là bà mai
mát tay của anh đấy. Nhờ tôi, anh và Vui, cô bạn của tôi, đã nên gia thất.
Nhưng đã tiếc rằng anh chẳng được sống lâu bên người vợ yêu quý , một tai nạn
đã cướp đi mạng sổng của anh tại Đông Hà. Một nén hương lòng thắp cho anh đây
anh Tôn ơi. Anh là người anh tốt bụng của tôi, ước gì kiếp sau chúng ta lại tiếp
tục làm bạn như thế nhỉ ?
Sau 2 năm làm phòng ICU , bệnh viện
thành lập phòng " săn sóc đặc biệt " để chăm sóc những bệnh bị nội
thương nặng . Tôi lại đổi sang phòng này cùng trưởng phòng là người đẹp Hồng
Vinh. Phòng này cũng giống phòng ICU, cứ 15' y tá lại theo dõi bệnh nhân 1 lần.
Vào tháng 3/1971, chiến trường Hạ
Lào sôi động , trực thăng liên tục chở về rất nhiều thương binh và tử sĩ . Ngày
nào tôi cũng chạy ra phòng lựa thương để hỏi thăm tin tức của chồng. Chồng của
chị Lê , chị Huế, chị Bẻo làm trong bệnh viện đã có tin báo tử , rồi đến tin
đại tá Huấn ở trước bệnh viện tử trận. Cả thành phố nhỏ rơi vào cảnh tang tóc ,
ra đường thấy khăn tang trên đầu cô nhi quả phụ trắng đến lạnh người . Tôi như
ngồi trên đống lửa , từng ngày nơm nớp lo sợ cho chồng mình . Và khi nghe tin
chồng tôi bị mất tích thì sức chịu đựng không còn nữa , tôi đổ sụp xuống và
ngất xỉu . Khi tỉnh dậy thì tôi thấy mình đã ở nhà, anh Tôn đã đưa tôi về nhà . Nỗi đau làm tôi nghỉ làm việc hơn 2 tháng. Cứ mỗi tuần bác sĩ Tung lại cho người đến bảo tôi nên
đi làm cho quên buồn.
Khi tôi trở lại nhiệm sở bác sĩ Lê
bá Tung cho tôi làm ở phòng công chức , không phải trực đêm. Làm việc ở phòng
công chức rất nhàn , chỉ đi theo bác sĩ chích thuốc và phát thuốc cho bệnh nhân
. Bác sĩ của phòng là ông Bùi xuân Định (hình như ở Oregon ) ông thấy tôi u
sầu, ủ rủ , ông thường đùa tếu để tôi cười . Ông còn nói cô có thấy ai đứng ra
ngoài đường mà kêu: Trời ơi ! Tôi sung sướng quá không? Nếu có chắc cũng bị
người ta cho là điên . Ông nói làm người thì gặp nhiều buồn khổ mà thôi.
Tháng 8/1971 tôi thi đậu vào trường
Cán sự y tế Huế. Tôi không muốn xa bạn M Vân, nhưng bác sĩ Định khuyên tôi nên
đi học . Thứ nhất là vào trường bận rộn bài vở quên dần nỗi đau, thứ ai được học hành thế tương lai sau này sẽ khá hơn.
Thế là tôi từ giã mọi người và M Vân để đi
học.
Tôi có ngờ đâu đó là lần chia tay
vĩnh viễn với bệnh viện Quảng Trị.
Sau mùa hè đỏ lửa 1972 bệnh viện
Quảng Trị đã bị vùi chôn theo thành phố đổ nát, bác sĩ Lê bá Tung và các đồng
nghiệp ở đó kẻ còn, người mất hay lưu lạc bốn phương trời, mà tôi chưa có lần
gặp lại.
Những lần Xuân đến tôi lại nhớ 1 bài
thơ của ai đó năm xưa:
Có một mùa xuân kiếp lạc loài
Ra đi không hẹn một ngày mai
Biệt ly chếnh choáng môi cười gượng
.
Đưa tiển trào dâng lệ cảm hoài
Có một mùa xuân của quạnh hiu
Khuê phòng cô lẻ , gió run chiều
Ngoài kia sầu mộng người ghì súng
Lặng lẻ xuyên qua mấy dặm đèo
Có một mùa xuân của đợi chờ
Bên đồi ôm mặt khóc bơ vơ
Quan ải người mơ về cố quận
Ly tán bao lần xuân điểm tô
Ôi! Mùa xuân đau buồn và tang tóc
đó - vẫn như chưa hề cũ.
Sau 3 năm chuyên tâm học ở trường
Cán sự, tôi tốt nghiệp với vị thứ khá cao.
Dù được quyền ưu tiên chọn nhiệm sở
ở những nơi có điều kiện sống thoải mái, nhưng tôi vẫn xin về Quảng Trị. Tôi
gặp lại M Vân ở bệnh viện nơi vùng cát trắng Hải Lăng.
Chiều chiều tôi cùng M Vân ra đứng ở
đường Quốc lộ I , nhìn về phía thành xưa mà mơ ước một ngày trở về.
Nhưng khi được trở về thì ôi thôi !
Bệnh viện Quảng Trị đâu rồi ?
Cả thành phố đã vùi lấp trong bom
đạn tơi bời, chỉ còn là cỏ tranh hoang dại, bên những mảnh
vỡ điêu tàn.
Tôi bàng hoàng nhớ đến câu thơ: Lối
xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Và cũng chợt hiểu câu " Thương
hải biến vi tang điền "
Mà thầy Nguyễn Hứa Thảo đã dạy tôi
năm nào, khi tôi còn là cô học trò của lớp đệ ngủ trường Trung học Nguyễn Hoàng
, Quảng Trị.
Võ thị Tuyết
