"Chợ Quán, Chợ Cầu, Chợ Dinh, Nam Phổ"
Trong Khúc Hát Ru Vùng Trị Thiên
- La Thụy
Hầu như những ai từng sinh ra và lớn lên từ mảnh đất
Quảng Trị, Thừa Thiên đều thuộc lòng “Điệu
Hò Ru Em” hay “Khúc Hát Ru Em” đặc
trưng vùng Trị Thiên, một bài ru thân thương quen thuộc thường được bà, mẹ hoặc
chị đưa trẻ vào giấc ngủ khi nằm nôi. Bản thân tôi từng được say muồi giấc ngủ
trẻ thơ, những khi bà nội tôi đong đưa những tao nôi cất giọng hò ru ngọt ngào,
êm ái… như ngày xưa bà đã từng ru ba tôi, các cô chú tôi và chị em tôi. Đặc biệt
hơn, bà lại hát ru những đứa con tôi – chắt nội của bà tròn giấc ngủ ngon. Giọng
hò ru của bà lắng đọng và thấm đượm vào sâu thẳm tâm hồn chúng tôi.
Khúc hát ru theo thể lục bát, trong đó tên các chợ như chợ Quán, chợ Cầu, Nam Phổ, chợ Dinh, Triều Sơn, Mậu Tài… được nhắc đến với những sản vật riêng của mỗi chợ đó:
Ru em, em théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Kim xa, kim ở bên Tàu
Ở
gần Hà Nội gặp nhau giữa đàng
Đó
là lời ru phổ biến hiện hành. Lời ru của bà nội tôi ít nhiều có những khác biệt,
còn in dấu thổ âm, phương ngữ vùng Trị Thiên xưa cũ:
Ru tam, tam théc cho muồi
Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Kim xa, kim ở bên Tàu
Ở gần Hà Nội gặp chắc giữa đàng
Với những người cùng thế hệ tôi và lớn tuổi hơn trở
về trước, thì thổ âm, phương ngữ của vùng Trị Thiên cổ xưa như:“tam, théc, muồi, mạ, chắc” không lạ lẫm
chút nào.
“Tam”
có nghĩa là em, như “eng tam” là anh
em. “Théc” có nghĩa là ngủ. Cụm từ “théc cho muồi” nghĩa là ngủ cho say.
Chín muồi (rất chín, đạt đến độ ngon nhất), ngủ muồi (ngủ rất ngon, rất say). “Mạ” có nghĩa là mẹ. “Chắc” có nghĩa là nhau (“gặp chắc” là gặp nhau.)
Các câu:
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Kim xa, kim ở bên Tàu
Ở gần Hà Nội gặp chắc giữa đàng
Có lẽ là các câu ghép nối thêm, vì ngoài việc tiếp nối
ý “Mậu Tài bán kim” thì vần gieo
không ăn khớp với nhau giữa các câu lục và câu bát (Kim – Tàu – chắc)
“Khúc
hát ru em” này do bà nội tôi hát ru ba tôi và các O chú chị em
tôi, hát ru anh chị em tôi, rồi hát
ru các con tôi. “Chắc” là phương ngữ Quảng Trị có nghĩa là “nhau”. Nếu hát “nhau”
thì ăn vần với tiếng “Tàu” ở câu lục
phía trên. Nhưng người dân địa phương như bà nội tôi có khi họ hát ru theo cảm
xúc và phương ngữ địa phương nên vô tình lạc vận…
Giọng hát ru của bà nội tôi in sâu vào tâm khảm tôi,
nếu có sự thô mộc, chơn chất hay lạc vận thì đó cũng là đặc trưng của dòng chảy
văn học dân gian, văn học truyền khẩu khi chưa được bậc thức giả ra công giũa gọt
để có tính nghệ thuật cao hơn.
Và hai câu này cũng có dị bản:
Kim xa, kim ở bên Tàu
Chỉ về Hà Nội gặp nhau tình cờ
Qua dị bản này ta thấy có dấu ấn của bậc thức giả
trong việc chỉnh sửa tu từ để ý liền lạc hơn, từ “kim” đến “chỉ” và không
dùng phương ngữ để ăn vần với nhau.
Khúc hát ru vùng Trị Thiên này, bây giờ người địa
phương hát thì mọi người khắp vùng trên đất nước đều nghe và hiểu cả vì chỉ còn
duy nhất phương ngữ “muồi” mà thôi
Ru em, em ngủ cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Kim
xa, kim ở bên Tàu
Chỉ về Hà Nội gặp nhau tình cờ.
Như ở nói ở trên, tên các chợ như chợ Quán, chợ Cầu,
Nam Phổ, chợ Dinh, Triều Sơn, Mậu Tài…được nhắc đến với những sản vật riêng của
mỗi chợ đó. Không ít người miền Trung và một số học giả cho rằng toàn bộ các chợ
được nêu trong khúc hát ru này đều ở Thừa Thiên Huế cả. Thế thì lý do gì mà người
Quảng Trị cũng hát ru em “cho mẹ đi chợ”
xa tận Thừa Thiên Huế dữ vậy.
Có hai nguyên nhân dẫn đến việc nhiều học giả, nhà
nghiên cứu bị cuốn vào vùng đất Thừa Thiên để lần tìm hai địa danh còn lại mà bỏ
quên các địa danh khác:
- Nguyên do thứ nhất: Ngoài sự hiện diện hai đặc sản
nổi tiếng (Nam Phổ, chợ Dinh) còn có sự tác động không nhỏ bởi hai câu dị bản
được chắp nối thêm: …
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón Mậu Tài bán kim.
Nón và kim (thêu, khâu, may) cũng là hai đặc sản thuộc
Thừa Thiên Huế.
- Nguyên do thứ hai, một nguyên nhân hết sức quan trọng
đó là chúng ta quên tìm hiểu bối cảnh lịch sử, sự xác lập địa lý vào thời điểm
bài ca dao ra đời.
Vào thời nhà Lê, năm 1466, vua Lê Thánh Tông đặt dải
đất của Châu Thuận và Châu Hóa thành hai phủ là: Phủ Tân Bình và Phủ Triệu
Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Phủ Triệu Phong gồm 6 huyện: Vũ Xương, Đan Điền, Kim
Trà, Tư Vang, Điện Bàn và An Nhơn (từ Cửa Việt vào Điện Bàn). Nói về phủ Triệu
Phong đến thế kỷ XVIII chỉ còn 5 huyện đó là huyện Hương Trà, Phú Vang, Quảng
Điền, Hải Lăng và huyện Đăng Xương (theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn).
Không dừng ở đó đến năm 1801, vua Gia Long lấy 3 huyện: Đăng Xương, Hải Lăng và
huyện Minh Linh lập thành dinh Quảng Trị.
Điểm qua đôi dòng sử liệu trên, ta thấy có sự giao
thoa, chồng lấn, thay đổi các địa danh, vùng miền qua từng thời kỳ giữa Thừa Thiên
Quảng Trị và Quảng Nam (Phủ Triệu Phong),
Chỉ cần thoát khỏi sự thu hút theo đơn vị hành chánh
cấp tỉnh hiện nay, chúng ta dễ dàng tìm ra những địa danh có tính thuyết phục
cao hơn.
(Theo bài viết “Tìm
hiểu các địa danh qua một bài ru cổ” của Khê Giang đăng trên tạp chí Cửa Việt
số 284, tháng 5 năm 2018)
Chúng tôi tìm hiểu thêm qua những tài liệu khác tên
các chợ được nêu trong khúc hát ru thì thấy những địa danh chợ trên, có ở Quảng
Trị, thậm chí có ở cả Quảng Nam, Bình Định và Sài Gòn. Đặc biệt, chợ Cầu ở Quảng
Trị đang là một di tích văn hóa được xếp hạng quốc gia.
Xin điểm qua từng tên chợ trong khúc hát ru em này:
* MUA VÔI CHỢ QUÁN, CHỢ CẦU:
- CHỢ QUÁN:
+ Chợ Quán ở Quảng Trị:
Cách Thừa Thiên Huế đúng một con sông (Ô Lâu), chợ
Quán xưa nằm trên địa phận của xóm Quán thôn Mỵ, làng Trường Sanh, nay thuộc xã
Hải Trường, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Đây là một ngôi chợ cổ nằm trên đường
Thiên lý Bắc - Nam, chợ xuất hiện dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1620 - 1687)
tuy nhiên do vị trí giao thông không thuận lợi nên quy mô phát triển không bằng
các chợ khác trong vùng, sau nhiều lần di chuyển chợ cũng trở lại vị trí ban đầu
lúc mới thành lập, hiện nay chợ được mang tên là Bến Đá.
+ Chợ Quán ở Quảng Nam:
Ngược vào phía Nam tại làng Thanh Chiêm, Điện Bàn,
Quảng Nam có một ngôi chợ mang tên chợ Quán rất phồn thịnh, địa danh này được
ghi lại trong địa bộ của làng, tại đây có các cơ sở nghề truyền thống nổi tiếng
như nghề đúc đồng, bánh tráng, mì Quảng… Chợ Quán ban đầu nằm ở giữa làng, sau
dời ra bến đò trên sông Thu Bồn gọi là chợ Củi. Vào cuối thế kỷ XIX, cùng với
chợ Phong Thử và Đo Đo, chợ Quán được triều Nguyễn xếp hạng thuế thứ 9, khoảng
thập niên sáu mươi của thế kỷ trước chợ được đổi tên thành chợ Cầu Mống rồi chợ
Tổng: “Bao giờ cầu Mống gãy đôi/ Sông Thu hết nước em thôi thương chàng!”.
+ Ngoài ra, ở Sài Gòn cũng có địa danh Chợ Quán.
Trong bài học thuộc lòng “Sài Gòn” ở sách giáo khoa tiểu học ở miền Nam trước
1975, tác giả Bảo Vân viết:
“Phường
Chợ Quán, khóm Cầu Kho,
Bến
xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm”
+ Chợ Quán ở Thừa Thiên, Huế:
Chợ Quán ở làng Tân Quán, gần vùng Nguyệt Biều, còn
chợ Cầu gần làng Thanh Lương. Hai chợ này ở gần bến nước cả sông Hương và sông
Hồ, nên dễ dàng xây lò đốt vôi. Ngoài ra họ còn lưu tâm chế biến ra thứ vôi ăn
trầu rất tinh vi như: sau khi đốt một lò vôi xong, khi ra lò họ lựa sơ qua những
sò trắng vất riêng ra một bên, còn bao nhiêu thứ sò ngũ sắc đã bị đốt đến nhiệt
độ đúng mức thì đống hàu ấy tự rệu ra thành thứ vôi bột để xây cất. Cong thứ sò
trắng đã cất riêng kia thì lại được sàng sấy rất kỹ, qua hai lớp sàng và dần.
Sau đó còn phải vất hết sỏi cát, rác rến, dơ bẩn. Xong xuôi còn phải đưa vào lò
đốt lại một lần thứ hai để cho các thứ sò trắng này phải “ngướu rệu”. Lại sàng sẩy một lần nữa chỉ còn lại dưới “dần” lần cuối cùng là thứ sò tinh vi để
sú với nước. Khi sú xong người chuyên môn lấy tay trà trộn, chỉ nhận thấy trong
tay thứ bột mềm dẻo mịn màng. Nếu lấy dao ăn trầu mà cắt thì không còn có thể
mà nghe một hột cát nào trong bánh vôi. Như thế mới được gọi là vôi chợ Quán,
chợ Cầu.
Thời xưa đi mua vôi ăn trầu là cả một vấn đề xê dịch
đáng ngại, phải qua năm sông bảy đò. Đôi khi qua đò, lại nên duyên nên nợ cho mấy
o đi mua vôi ăn trầu. Bởi thế nên có hai câu hò sau:
Không đi thì nhớ thì thương
Đi rồi lại nhớ Thanh Lương, chợ Cầu!
Không đi thì thảm thì sầu
Đi rồi lại nhớ chợ Cầu, Thanh Lương!…
(“Mua
vôi chợ Quán, chợ Cầu” - Trang web Tin Tức Huế)
. Nhiều người Huế chưa hề nghe biết “làng Tân Quán ở gần vùng Nguyệt Biều”.
Có lẽ Tân Quán là tên gọi xưa của làng Lương Quán chăng? Hiện nay ở Huế đang có
“Nhà vườn Lương Quán” – Nguyệt Biều,
phường Thủy Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (được công nhận là địa điểm
du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế theo Quyết định số 2791/QĐ-UBND ban hành ngày 21/12/2018)
. Theo ông Nguyễn Đình Liễu trong bài viết “Điệu hò ru con xứ Huế” thì:
“Chợ
Quán là nói tắt của làng Lương Quán, vùng Nguyệt Biều. Ai cũng biết Thừa Thiên
có đá vôi, thời Pháp thuộc đã khai thác nhà máy vôi Long Thọ, sản xuất vôi dùng
vào việc xây cất nhà cửa, cầu cống.”
. Theo học giả An Chi thì làng Lương Quán từ xưa đến
nay chưa hề tồn tại một ngôi chợ nào.
+ CHỢ CẦU
* Chợ Cầu ở Quảng Trị đang là di tích văn hóa quốc
gia
- Chợ Cầu nguyên nằm ở khu đất trước đình Hà Thượng
nay thuộc thị trấn Gio Linh. Chợ được lập vào năm Canh Tỵ dưới thời chúa Nguyễn
Phúc Tần (1667), chợ Cầu vì thế mà có cái duyên đặc biệt với đình làng Hà Thượng,
ngôi đình cổ nhất của tỉnh Quảng Trị.
Đình làng Hà Thượng nằm về phía Ðông của làng Hà Thượng,
thị trấn Gio Linh, cách quốc lộ 1A chưa đầy 1km. Di tích đã được Bộ VHTT (nay
là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng quốc gia theo Quyết định số
154/QÐ-BVHTT ngày 25 tháng 1 năm 1991. Ðình tọa lạc trên một khu đất rộng với tổng
diện tích là 8.450m2. Toàn bộ khuôn viên bao gồm một tòa đại đình và 4 ngôi miếu
thờ 4 vị thần. Toàn bộ kiến trúc tòa đại đình hiện còn có sự phân bố mặt bằng
khác biệt so với các ngôi đình ở miền Bắc và những ngôi đình miền Trung được khởi
tạo muộn ở các thế kỷ XVIII - XIX. Mặt bằng đại đình bố trí theo chiều dọc, mặt
tiền mở ra từ gian chái, cửa chính quay về hướng Ðông (một hướng rất lệch so với
hướng kiến trúc của người Việt). Cấu trúc bộ khung gỗ chịu lực được thực hiện
theo mô thức của một ngôi nhà rường 3 gian, hai chái, phân bố theo 6 hàng cột
như vẫn thường thấy ở kiến trúc cổ vùng đồng bằng Trị - Thiên. Không gian bên
trong ngôi đình được phân thành hai phần: phần tiền đường gồm không gian của
gian chái trước và hai gian ngoài dùng làm nơi sinh hoạt văn hóa, hội họp, ăn uống;
phần hậu liêu gồm không gian của gian chái sau và một gian trong dùng làm nơi
thờ cúng, tế tự. Hệ thống cổng và tường
thành phía trước đình xây bằng gạch, xi măng; nền móng khá cao được xây bằng đá
bazan ngăn khuôn viên của đình với khu vực chợ Cầu.
(Nguồn: http://www.baoquangtri.vn/Du-Lich-Quang
Tri/modid/494/ItemID/138152)
Chợ Cầu Quảng Trị đã từng đi vào thơ ca:
“Vôi trắng nghìn năm lời ước hẹn
Đỏ au cổ tích chẳng nhòa phai
Chợ Cầu giao cảm cùng sông núi
Viên mãn cho người một sớm mai…”
Võ Văn Hoa
* Chợ Cầu ở Thừa Thiên, Huế:
- “Còn chợ Cầu,
có nhiều cách nghĩ, có thể là chợ trên cây cầu, chợ cầu làng Thanh Lương...
nhưng theo tôi nghĩ đó là chợ Cầu Hai, vì vôi có 2 nguồn, có thể từ núi đá vôi
và cũng có thể từ vôi động vật thân mềm như hàu, trai... mà Cầu Hai Phú Lộc thì
những loài này rất nhiều. Ngày nay vùng Lăng Cô vẫn còn nung hàu lấy vôi đó.”
(Điệu ru con
xứ Huế và địa danh liên quan - Trần Trung)
- Ông Nguyễn Đình Liễu trong bài viết Điệu hò ru con
xứ Huế cho rằng: “Chợ Cầu làm tôi liên tưởng
đến… cầu ngói Thanh Toàn thuộc làng Thanh Thủy, huyện Hương Thủy, đóng bằng gỗ
lim, mái lợp ngói âm dương. Từ Vĩ Dạ đi về hướng Gia Lệ, Vân Thê đường về đầm Hà
Trung (còn gọi là đầm Chuồn), các bạn sẽ băng qua chiếc cầu lợp ngói bắc ngang
nhánh sông nhỏ, đã được lưu danh bất tử qua câu hò: “Ai về cầu ngói Thanh Toàn
/ Cho em về với, một đoàn cho vui...”
+ Cầu ngói Thanh Toàn không là nơi họp chợ mà chỉ có
hội làng.
- Về chợ Cầu, có tác giả cho rằng: “Chợ Cầu ở làng Phú Lương, Quảng Thành. Tên
gọi này có lẽ xuất phát từ địa thế của chợ, chợ nằm bên cây cầu có tên Đan Điền,
cây cầu nổi tiếng bậc nhất ở châu Ô thời bấy giờ”, từ suy diễn này tác giả
minh họa bằng trích dẫn chép từ Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An: “Cầu ở chợ làng Đan Lương, huyện Đan Điền,
phía đông chợ có một con ngòi, ngang ngòi có một nhịp cầu, đầu cầu là nhà ở. Nhịp
giữa cầu nổi cao như sống lưng cá kình rất tiện lợi cho người qua lại. Sớm hôm
không ngớt, đúng là cái cầu số một của châu Ô vậy”.
Do tính đặc thù trong giao thương xưa, chúng ta
không lấy làm lạ khi có rất nhiều vùng miền có chợ và cầu cùng chung một tên
(do các chợ đều tập trung ở gần cầu và bến đò, rất tiện lợi giao thông thủy - bộ),
nhưng việc gán cho một ngôi chợ (Đan Lương) nằm ở gần một chiếc cầu (Đan Điền)
có tên hẳn hoi để trở thành địa danh chợ Cầu cần xác minh.
* MUA CAU NAM PHỔ
Cách cầu Trường Tiền khoảng hơn 3km về phía biển Thuận
An, làng Nam Phổ (xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) cạnh dòng
sông Hương thơ mộng, từ Đập Đá đi xuống. Làng trồng rất nhiều cây cau cao vút,
vì gần nước nên cau rất ngon và sai quả. Nhiều câu ca dao đã minh chứng cho sự
nổi tiếng của cau Nam Phổ từ xưa, chẳng hạn:
“Cam
Xã Đoài gửi vô thì cau Nam Phổ đóng bồ gửi lại, hàng lại trao hàng xa ngái quản
chi”.
Đất Nam Phổ là đất phì nhiêu, nhưng mật độ dân số
quá cao, mà đất thì chật nên người dân xem tấc đất là tấc vàng, phải gia công
vun, xới, bón, tưới, mà trồng thứ cau “bánh dầy” với bốn tiêu chuẩn như sau mới
đáng gọi là cau Nam Phổ: Mỏng vỏ, nhỏ xơ, tơ lòng, trong ruột.
“Tơ lòng” là khi bổ cau ra, thấy lòng
cau có những đường tơ nho nhỏ chạy quanh, chia thịt cau ra đúng như đường huyết
nhỏ xíu trong làn da trắng của người.
“Trong
ruột” là khi bổ trái cau ra sáu miếng hay tám miếng thì ở
giữa trung tâm trai cau có một vòng “màng
mạc” trong giống như có nước. Có đủ bốn tiêu chuẩn ấy và phải là dáng “bánh dầy” mới là cau Nam Phổ.
Cái tên Nam Phổ đồng thời gắn liền với đặc sản truyền
thống Huế: bánh canh và các loại bánh nậm, bánh ít, bánh bèo, bánh ướt, bánh lọc...
Cau Nam Phổ nổi tiếng từ xưa, nhưng nay người làng chỉ trồng để làm đẹp sân
nhà, không còn là nguồn sinh kế nữa.
* MUA TRẦU CHỢ DINH
Chợ Dinh được lập trên đất làng An Quán, nay thuộc
phường Phú Hậu, thành phố Huế, nằm bên bờ của một nhánh sông Hương đổ về theo
đường Chi Lăng, chợ chỉ đông buổi sáng, từ chợ đi về khoảng 200m có bến đò qua
Nam Phổ, Vĩ Dạ bên kia sông Hương, gọi là bến đò Chợ Dinh. Năm 1738, chúa Nguyễn
Phúc Khoát lập phủ chính ở Bác Vọng, Phú Xuân. Một năm sau, chúa chính thức dời
Dinh phủ vào An Quán. Chợ nằm phía đông phủ, nên gọi là chợ Dinh. Vùng chợ Dinh
xưa quanh năm rợp vườn cây trái, nơi trồng trầu ngon nổi tiếng trong vùng.
*
Trong lịch sử, từng có một phố chợ Dinh, một chợ
Dinh, cùng một Dinh Ông. Khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho đào kênh Đông Ba biến
vùng đất ở phía bên kia bao bọc bởi một nhánh của sông Hương, có từ thời các
chúa Nguyễn, thành ốc đảo và trên bản đồ thực hiện năm 1819, L.Rey gọi là đảo
Chợ Dinh. Cũng chính vua Gia Long đã cho bắc cây cầu gỗ An Hội và sau đó năm
1837, vua Minh Mạng đổi thành Gia Hội. Đây là cơ sở cho sự ra đời của phố Chợ
Dinh xưa, bắt đầu từ cầu Gia Hội (đường Chi Lăng hiện nay). Phố Chợ Dinh có “chợ Dinh bán áo con trai”. Và khi quan
Thượng thư Trần Tiễn Thành đến xây dựng tư dinh ở phía bên kia đường đối diện
thì chợ được đặt tên chợ Dinh.
(Theo Đan Duy - Báo Thừa Thiên Huế số ra ngày
12/10/2011)
Mua
trầu chợ Dinh.
Đó là Trầu Cau (có khi gọi là Trầu Mọi) ở xứ Cùa, tỉnh
Quảng Trị đưa vào do người dân tộc bán về Dinh, Trầu Quế (có hương vị cay) màu
lục, lá dày. Trầu “xà lẹt” lá dài và
nhọn như lá tiêu, có nhiều sứa, màu hơi vàng vàng, phải người sành ăn mới dùng
được vì nó hôi lại có mùi hăng, vị chát, không quen ăn đến phỏng miệng. Trầu
Hương (thơm ngon) lá lục, thường người ta bán ở Huế cao giá hơn các thứ trầu
kia.
Loại Trầu Hương này đi đôi với cau Nam Phổ, là hai
món hàng “quí phái”, nhiều khi đắt giá đến nỗi mấy O đi chợ phải lên giọng than
phiền bằng câu:
“Cau Nam Phổ mỗi trái mỗi giác
Trầu Hương mỗi ngọn mỗi tiền” !
Nhưng vì sao phải đi chợ Dinh mới mua được trầu ngon
đủ hương vị cho người sành điệu nhóp nhép? Số là chợ Dinh lúc bấy giờ cũng như
chợ Đông Ba hồi đó là nơi hẹn hò khách bốn phương về chầu chúa Nguyễn.
Ngoài ra, trong “khúc
hát ru em” vùng Trị Thiên có hai câu được cho là chắp nối thêm vì so câu
bát bên trên “Mua cau Nam Phổ, mua trầu
chợ Dinh” thì không ăn vần (dinh -
trai) và lại có những dị bản:
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
CHỢ DINH BÁN ÁO CON TRAI.
Chợ Dinh “bán
áo con trai” với giai thoại một vị quan trong triều Nguyễn muốn chợ Dinh chỉ
bán áo con trai để cầu tự.
Có người cho rằng “áo con trai” hoặc “cháo con
trai” ở đây chính là thịt con trai, con hến, vì chợ Dinh nằm cạnh Cồn Hến,
người dân khai thác hến ở dưới sông đem lên đây để bán.
Theo nhà báo Đan Duy đăng trên Báo Thừa Thiên Huế số
ra ngày 12/10/2011 như thế này: “Thời của
“Chợ Dinh bán áo con trai” cũng là thời chiếc áo vải thô nặng trịch. Trong cảnh
vạt áo vá vai, chuyện áo quần cho con trẻ, các bậc cha mẹ nghèo cũng không có
cách nào hơn, thường phải tận dụng đồ phế thải của người lớn để may lại. Áo may
đơn giản, không cầu kỳ trai gái, cốt có để mặc. Nắm bắt nhu cầu đó của người đời,
một số kẻ tìm mua quần áo cũ đem về may lại đồ con nít đủ cỡ, rồi đem “bỏ chợ”
như một nghề kiếm sống. Chiếc áo phi nam phi nữ kia, muốn cho dễ ngó thì có anh
thợ nhuộm, cứ thuê nhuộm đủ màu để người mua tha hồ lựa chọn.”
* Ở đây có dị bản so với khúc hát ru em đã đăng ở phần
trên:
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh “bán nón quan hai
Bán thao quan mốt, bán quai năm tiền”
TRIỀU SƠN BÁN NÓN
Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì:
“Nón
dứa ở Thuận-hóa cách chế nón khác các nơi. Thôn Tam-giáp-thượng và làng Triều-sơn
ở huyện Phú-vinh (Tư Vinh) dệt nón rất là nhỏ và mỏng”.
Làng Triều Sơn trước đây gọi là Triều Sơn xã, thuộc
huyện Tư Vinh. Sau này chia thành bốn giáp Đông, Nam, Tây, Trung mà ta thường gọi
là Triều Sơn Đông, Triều Sơn Nam (thuộc xã Hương Vinh, Hương Trà), Triều Sơn
Tây (phường An Hòa, thành phố Huế), Triều Sơn Trung (xã Hương Toàn, Hương Trà).
MẬU TÀI BÁN KIM
Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn:
“Làng
Võng-thì huyện Phú-vinh chuyên nghề làm cuốc sẻng dao búa. Làng Mậu-tài chuyên nghề
làm giây thau giây sắt”.
Có thể giây thau giây sắt này là nguồn gốc của nghề
làm kim khâu hiện tại. Làng Mậu Tài hiện nay thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế (đối diện Làng Triều Sơn Đông bên kia sông Hương).
Có những dị bản khác về địa danh như Triệu Sơn, Mẫu
Sơn, Chợ Sơn, Quan Tài chẳng hạn:
“Mẫu
Sơn bán nón, Mẫu Tài bán kim”
“Khúc hát ru em” này lại có dị bản, thường được người
dân Phú Lộc, Thừa Thiên hát ru mấy câu cuối như sau:
“Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Kim Liên ơi hỡi Kim Liên
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê
Hà Khê gió thổi đường đê
Chim kêu vượn hú bốn bề nước non”
Trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
cũng có hai câu:
“Kim Liên ơi hỡi Kim Liên.
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”
Không rõ có sự giao thoa văn hóa với nhau không? Mà
ngọn đồi Hà Khê chính là nơi tọa lạc của ngôi chùa Thiên Mụ nổi tiếng ở Huế
“Ngôi
chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, ngọn đồi hình chữ nhật có thế Sơn Triều Thủy
Tụ vô cùng đẹp và hữu tình. Nhìn từ xa ngọn đồi Hà Khê giống như một con rùa và
chùa Thiên Mụ chính là mai rùa, đang đứng cúi đầu uống nước trên sông Hương.
Chùa Thiên Mụ xây trên đồi Hà Khê tiếp tục được bảo tồn đến tận bây giờ.”
(Theo bài viết: “Câu chuyện chùa Thiên Mụ và đồi Hà
Khê” đăng trên trang web dulichhuedanang.com)
*
Xin mời nghe thêm một dị bản về “khúc hát ru em”
vùng Trị Thiên:
À ơi ơi ơi…
Ru em em théc cho muồi…
Để mạ đi chợ… À ơi ơi ơi…
Để mạ đi chợ… mua vôi ăn trầu…
À ơi ơi… mua vôi chợ Quán mà chợ Cầu…
Chứ mua cau mà Nam Phổ… à ơi ơi ơi…
Mua cau Nam Phổ… mua trầu chợ Dinh…
À ơi ơi ơi… chứ Chợ Dinh bán áo con
trai…
Triệu Sơn bán nón à ơi ơi…
Triệu Sơn bán nón… Mậu Tài bán kim…
À ơi ơi ơi…
Chứ mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái Tử…
Vợ trông chồng… à ơi ơi ơi… vợ trông chồng…
ra đứng núi là Vọng Phu…
À ơi ơi ơi… chứ biết răng chừ bóng xế
trăng lu…
Nghe con ve kêu mùa hạ… À ơi ơi ơi…
Nghe con ve kêu mùa hạ chứ biết mấy thu
em gặp chàng.
“Khúc
hát ru em” dị bản này, thực ra chỉ là việc ghép hai khúc hát
ru lại mà thôi
NÓI TÓM LẠI:
Tên các chợ trong “khúc hát ru em” này của vùng Trị Thiên như Chợ Dinh, Triều Sơn,
Nam Phổ, Mậu Tài đều nằm ở Thừa Thiên, Huế chứ không ở Quảng Trị; còn chợ Cầu,
chợ Quán ở Quảng Trị. Ngoài ra, tại làng Thanh Chiêm, Điện Bàn, Quảng Nam có một
ngôi chợ mang tên chợ Quán rất phồn thịnh, địa danh này được ghi lại trong địa
bộ của làng, tại đây có các cơ sở nghề truyền thống nổi tiếng như nghề đúc đồng,
bánh tráng, mì Quảng… Chợ Quán ban đầu nằm ở giữa làng, sau dời ra bến đò trên
sông Thu Bồn gọi là chợ Củi.
Người dân Trị Thiên nói chung đều thuộc nằm lòng
khúc hát ru này, không chỉ riêng người dân xứ Huế mới thuộc. Tên các chợ có lẽ hình
thành trong bối cảnh lịch sử, sự xác lập địa lý vào thời điểm khúc hát ru ra đời.
(Năm 1466, vua Lê Thánh Tông đặt dải đất của Châu Thuận và Châu Hóa thành hai
phủ là: Phủ Tân Bình và Phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Phủ Triệu Phong gồm
6 huyện: Vũ Xương, Đan Điền, Kim Trà, Tư Vang, Điện Bàn và An Nhơn (từ Cửa Việt
vào Điện Bàn). Ta thấy có sự giao thoa, chồng lấn, thay đổi các địa danh, vùng miền
qua từng thời kỳ giữa Thừa Thiên Quảng Trị và Quảng Nam (Phủ Triệu Phong).
Video clip tôi hát ru cháu nội út ngủ do con trai
tôi (cha đứa bé) quay ngẫu nhiên cách đây hai năm. Tôi hát mộc không có nhạc cụ
đệm, và “được” quay bằng điện thoại cùi bắp nên giọng hát vốn không hay vì thế
nghe càng dở, nhưng đó cũng là kỷ niệm với khúc hát ru được “truyền thừa” một
cách “vô thức” từ bà nội mình dù bà đã khuất bóng mấy chục năm rồi. Tình yêu
con cháu và gia đình nồng đượm, như cũng “truyền thừa” từ đó!
La Thụy
......
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
