Hồi Ức Miên Man - Đoàn Minh Phú
Mùa hè đỏ lửa năm 1972, chiến tranh tàn phá Quảng Trị. Theo dòng người tản cư vào Đà Nẵng, trường Nguyễn Hoàng tiếp tục hoạt động với 2 phân hiệu: một ở trại Hoà Khánh, một ở trại 5 Non Nước (các trại tản cư của người tị nạn Quảng Trị). Lớp 10A3 chúng tôi thuộc phân hiệu đặt tại trại 5 Non Nước (Hoà Long, Hoà Vang, Đà Nẵng). Trại 5 Non Nước vốn là căn cứ quân sự cũ, một phi trường bị bỏ hoang do lính Mỹ giao lại. Trường Nguyễn Hoàng lúc đó gồm vài dãy nhà bán kiên cố, vách ván, mái tôn khá rộng rãi, nhưng trống hoang trống huếch. Quý thầy cô phải cố gắng mới ngăn tạm các phòng học bằng những tấm “gót” tre, hở trên, trống dưới, các bạn nghịch ngợm có thể chui lòn qua các lớp bạn một cách dễ dàng. Trường chỉ trang bị cho các phòng học bảng lớp và một số bàn học sinh, không có các băng ghế. Học sinh đi học phải mang theo ghế đẩu từ nhà đến trường mới có chỗ ngồi. Vì các phòng học chỉ ngăn tạm bằng gót tre nên không có sự cách âm tối thiểu nào. Đang giờ học sử địa, nhưng tiếng giảng bài của thầy lý hoá, của cô Việt văn, thầy toán… của các lớp chung quanh vẫn nghe rõ mồn một. Ngược lại, lớp này phát âm đồng thanh tiếng Anh (hoặc tiếng Pháp) thì các lớp gần cạnh chỉ việc nín khe, nếu không muốn đọc phụ hoạ theo. Giờ học luôn có sự “hoà âm” bất đắc dĩ như thế. Cuộc sống tạm bợ trong trại tạm cư cũng bất ổn. Những điều này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy và học của thầy trò trường Nguyễn Hoàng lúc đó, nhưng không làm vơi đi sự tận tâm của quý thầy cô cũng như tinh thần hiếu học của học sinh trường Nguyễn Hoàng. Chính những hình ảnh ngộ nghĩnh ấy lại là hồi ức sâu đậm cho tôi, dù hơn 50 năm đã trôi qua.
Hơn năm mươi năm rồi, phải chăng thế
Ơi! Mái tôn vách ván sân trường
xưa
Ơi! Bè bạn thẹn thò ngày mới
lớn
Ghế cầm tay thắm dệt đoá hoa mơ
Nguyễn Hoàng! Thôi vời vợi ngôi
trường cũ
Ngăn phên gót vẫn thích hơn
tường vữa
Tiếng học ồn ta vẫn thấy véo
von
Còn chăng hương má cốm đến thơm
giòn
Lớp 10A3 Nguyễn Hoàng
niên khoá 1972-1973 do thầy Cái Ngọc dạy môn vạn vật làm giáo sư hướng dẫn.
Cũng như các lớp đệ nhị cấp khác, lớp 10A3 học vào buổi sáng (cạnh các lớp
10A2, 10A1, 10B, 11C…). Cô Võ Thị Hồng dạy môn Việt văn, thầy Nguyễn Văn Thị
dạy toán (đại số và hình học). Thầy Lê Quang Dị dạy công dân giáo dục. Thầy
Nguyễn Quang Kế dạy Anh văn (sinh ngữ 1) khoảng 2 tuần, sau đó thầy Trương Thúc
Cổn về thay. Thầy Lê Văn Gioang dạy Pháp văn (sinh ngữ 2). Thầy Lê Ngọc Dinh
dạy sử địa. Thầy Nguyễn Đôn Hộ dạy lý hoá. Lúc đầu, danh sách lớp 10A3 có 51
bạn, nhưng thực học có 49 bạn (2 bạn có tên nhưng không hề học gồm: Nguyễn Ngọc
Minh và Võ Đình Mướp). Sau đó có 1 bạn vào học trễ (Lê Thị Hoa). Như vậy đầu
niên khoá, lớp 10A3 có 50 bạn cùng chung học. Nhưng đến cuối niên khoá, lớp chỉ
còn 47 bạn (có 3 bạn bỏ học: Trần Ngọc Nghĩa phải đi quân dịch, Nguyễn Hùng
Việt bỏ học sau giờ thi lý hoá đệ nhị lục cá nguyệt vì bị du đảng vây rượt
đánh, Nguyễn Mộng Thanh cũng bỏ thi vài môn).
Hồi
đó, chỗ ngồi trong lớp do học sinh tự phân định lấy, không hề có sự sắp xếp của
giáo sư hướng dẫn. Lớp trưởng được bầu là Lê Trước, nhưng anh này không chịu
làm, tôi là người giữ sổ điểm. Khi các thầy cô bước vào lớp, Trần Quốc Cường
chủ động hô lớp đứng dậy chào. Cường cũng khá năng nổ khi tiếp xúc với các thầy
cô nên có lẽ trong cái nhìn của thầy hướng dẫn lớp Cái Ngọc thì Cường là lớp
trưởng, (vì điểm hiệu đoàn cuối niên khoá của Cường là 19 điểm, cao hơn điểm
18,75 của tôi).
Ngồi
ở 2 dãy bàn đầu bên nam gồm : Tôi, Trần Quốc Cường, Hoàng Văn Oanh, Trương Đăng
Hùng, Nguyễn Văn Bình, Phan Khắc Tu… Ngồi bàn đầu bên phía nữ gồm : Lê Thị
Thắm, Lê Thị Mỹ Trúc, Cao Thị Xuân Lan, Nguyễn Thị Liên. Tôi, Cường và Oanh
ngồi gần nhau lại cùng sở thích văn thơ. Trong những giờ giải lao, bộ ba thường
chụm lại làm thơ nối vần với nhau. Oanh là người có tâm hồn thơ nhất, hay đột
xuất ra đề tài và làm những câu thơ đầu tiên, tôi và Cường tiếp tục nối vần.
Tôi còn nhớ những bài thơ như “Cánh sen vàng, Cành trúc, Xuân lan thu
cúc”, mà chúng tôi làm chung với nhau (lấy tên các bạn gái trong lớp như :
Hoàng Liên, Nguyễn Liên, Mỹ Trúc, Xuân Lan làm đầu đề). Chẳng hạn như bài “Cành
trúc” :
Len lén chiều về với gió sương
Cây buồn rũ chết
giữa trời sương
Xác xơ cành trúc
vươn hồ nước
Oanh
viết 3 câu thơ liền, tôi và Cường suy nghĩ hồi lâu mà chưa nối thêm được câu
thơ thứ tư, nhưng nhanh trí tôi vụt đọc tiếp : “Đứng chịu tang trời đổ
bóng đơn”. Các bạn đều vỗ tay khen hay. Đúng ra câu thơ trên là của một thi
sĩ tiền chiến mà tôi thuộc đem lắp ghép vào mà thôi. Cường đọc to bài “Cánh
sen vàng” làm hai cô bạn Hoàng Liên và Nguyễn thị Liên thẹn đỏ mặt. Sự
thực là Cường yêu thầm Lê Thị Thắm, anh chàng dạn dĩ tuyên bố : “Cánh
sen vàng” của Cường chính là Thắm đó. (Sau này Cường và Thắm đã thành
duyên vợ chồng). Cường cũng đã từng nghịch ngợm viết trên bàn học của Lê Thị
Thanh Thương (em thầy Lê Văn Gioang dạy Pháp văn) trong ngày nghỉ Chủ
nhật, cải biên thơ Hàn Mặc Tử:
“Đêm qua nằm mộng thấy Thanh Thương
Má
đỏ au lên đẹp lạ thường”
Sáng
thứ hai vào học, đám con gái xôn xao bàn tán ầm ĩ, nhất là “xóm nhà lá” ngồi
các dãy bàn phía sau. Quý cô nương này nổi tiếng là siêu quậy; các lớp 10A1,
10A2 và nhất là lớp 11C bên cạnh nhiều khi bị các trò quậy nghịch của quý nàng
mà phải chịu “văng miểng”. Quý nàng lấy biệt danh “Diễm
Trang”, đang giờ học bắn giấy gửi thư tình chọc ghẹo mấy chàng, làm họ bị
thầy cô la rầy vì tưởng nhầm trong lớp đang đùa giỡn với nhau; ngay thầy Đôn
Hộ, giáo sư dạy lý hoá trẻ (mới ra trường) lần đầu bước vào lớp đã bị quý nàng
trêu chọc đến nổi phải quăng phấn hậm hực thốt lên: “nham nhở”.
Trong quý nàng, nổi trội có Nguyễn Thị Ngọc Thanh, Lê Thị Tuyết Thu, Trần Thị
Ái Nghĩa, Trần Thị Năm, Nguyễn Thị Thanh Thanh. . . Một kỷ niệm mà
10A3 khi gặp lại là nhắc đến: Vào giờ Anh văn sinh ngữ 1) của thầy
Trương Thúc Cổn, giờ học hôm đó chuyển sang buổi chiều, học chung với các lớp
đàn em đệ nhất cấp (cạnh các lớp 6), thời tiết thì nóng ơi là nóng, và đám học
sinh lớp 6 thì ồn ơi là ồn. Thầy Cổn đang dạy, thầy giảng “thì hiện tại hoàn
hảo" (The present perfect tense) của một động từ thông thường : It’ s ( =
It has) nhầm với “thì hiện tại đơn” (The simple present tense) của động từ TO
BE : It’s ( = It is). Tôi lên tiếng thắc mắc, thầy đính chính cho lớp liền.
Ngay sau đó, đám nữ siêu quậy hoạt động mạnh. Thế là 2 nàng “nữ quái” Lê
Thị Tuyết Thu, Trần Thị Năm bị lôi lên bảng, nằm sấp mặt trên nền lớp và bị
thầy “đại uý” Trương Thúc Cổn áp dụng kỷ luật quân đội quất cho mấy hèo liền,
khóc bù lu bù loa... Tuyết Thu nổi tiếng với trò đùa: đứng chận ngay cửa ra
vào, không cho nam sinh (loại hiền lành nhút nhát ) vào lớp. Trước đây, lúc còn
học lớp 7, lớp 8… Lê Đình Ninh và vài anh nam sinh trắng trẻo, hiền lành phải
bật khóc vì kiểu giỡn chơi này (khi học Anh Văn vào buổi tối ở Ty Điền Địa
Quảng Trị – gần rạp chiếu bóng Kim Châu tức rạp Đại Chúng cũ ). Một
lần đang lon ton xách ghế vào lớp, tôi bị chặn ngay trước cửa lớp bởi 2 nàng
Nguyễn Thị Ngọc Thanh và Lê Thị Tuyết Thu. Nói nhỏ, nói dịu năn nỉ mãi không
được, nổi nóng lên tôi mới xáng cho Ngọc Thanh một tát tai. Thế là cửa lớp được
khai thông, tôi bước lẹ vào lớp nhưng Ngọc Thanh rớm lệ, đám con gái la hét
mắng mỏ um sùm. Nói thiệt, lúc đó tôi cũng hơi bị run vì đám nữ tặc này diễu võ
dương oai dữ quá, nếu có nàng nào nhảy vô, chắc tôi phải vắt giò lên cổ bỏ chạy
thôi. Quý vị biết không ? Trần Thị Ái Nghĩa và cô em Trần Thị Phú đã từng dám
học võ Thiếu Lâm ở trại Tình Thương chung với đám con trai mấy mươi đứa đó. Hoa
lạc giữa rừng gươm mà còn coi như không, thì mình có “xi- nhê” gì ! Mấy bữa
sau, Quốc Cường mới chọc mấy nàng: “Thằng Phú mới xoa má nhẹ một chút,
rứa mà đàn chị đại tỉ chi mô đã són lệ rồi”. Mấy nàng nhăn răng cười khì,
tôi mới có dịp xin lỗi làm hoà.
Nghịch
thế thôi, nữ sinh lớp tôi dễ thương lắm. Tôi đã gặp Ái Nghĩa ở Sài Gòn, giờ là
bà nội, bà ngoại rồi. Ái Nghĩa rất lanh lợi, tháo vát đang làm dịch vụ du lịch
dã ngoại cho các quan chức ngoại giao nước ngoài (trụ sở đặt tại TP HCM) vào
những ngày Chúa nhật. Đối với bạn bè Ái Nghĩa rất ân cần, tràn đầy tình cảm,
nhất là chồng Nghĩa – anh Thanh hiếu khách “trên cả tuyệt vời”. Tuyết Thu tôi
nghe nói ở đâu khoảng Long Khánh, Xuân Lộc, Bà Rịa… và đang bị bệnh thì phải,
bạn nào rõ cho mình biết với.
Nam
sinh quậy lớp 10A3 cũng “khét tiếng” lắm. Nguyễn Hùng Việt được xem là đàn anh
thứ dữ. Một hôm, trong giờ thi môn lý hoá đệ nhị lục cá nguyệt, Việt ngồi cạnh
tôi, đòi tôi đưa bài thi cho “ngài” chép. Nói tử tế, tôi giúp ngay nhưng đe doạ
thì đừng hòng ! Việt chồm qua định giật bài thi của tôi, thì thầy giám thị coi
thi nhắc nhở, Việt tạm ngồi im. Lúc đó tôi nhìn ra cửa sổ; thấy hai, ba chàng
du đãng mặt mày dữ tợn đang đưa nắm đấm lên hăm doạ. Làm bài mà lòng tôi hồi
hộp, run lên. Cứ nghĩ rằng họ là bạn của Việt. Việt cũng không thèm đoái hoài
gì đến tôi nữa. Hết giờ, thí sinh lục tục rời phòng, tôi nấn ná ở lại, lo sợ
nhìn quanh thì Việt đã phóng ra khỏi lớp từ lúc nào. Sau đó nghe tiếng la hét
vang lên nhốn nháo: “Du đãng cầm dao rượt đuổi nhau bây ơi !”. Hỏi
chuyện nhau, mới biết Việt với đám giang hồ gây thù chuốc oán sao đó, nên bị họ
đến thanh toán. Từ đó Việt bỏ học đi đâu mất dạng.
Ngoài
Việt ra, còn có Nguyễn Kim Phụng, anh chàng này tuy nhỏ con nhưng nhiều đứa
cũng phải gờm mặt không dám trêu ngươi. Phụng học với tôi từ năm đệ thất đến
năm lớp 10, anh chàng chưa hề ăn hiếp hoặc hù doạ ai, nhưng bạn của Phụng là
những anh chị thứ thiệt : “băng cột điện 192” khá khét tiếng
trong lứa tuổi thiếu niên hồi đó (lúc chúng tôi học lớp 7, lớp 8, lớp 9), băng
đảng này có Võ Văn Nhơn bạn học lớp tôi từ đệ thất đến lớp 9. (Nhơn là bạn
thân và là hàng xóm của Phụng - nhà trên đường về Hạnh Hoa Thôn và Trí Bưu, gần
nhà Cao Thị Kim Lương).
Trong
lớp có Lê Nguyên, Lê Đình Tứ (cháu thầy Lê Đình Chỉnh), Nguyễn Mãn, Lê Hữu
Kháng, Lê Văn Quy, Lê Thọ Tuyển, Nguyễn Thọ, Võ Văn Đôn, Lê Văn Toàn, Lê Hoà…
những bạn ngồi phía sau hiền lành và ít tham gia hoạt động lớp. Lê Nguyên, Võ
Văn Đôn cùng học với tôi từ năm đệ thất đến lớp 10. Lê Nguyên, người Nhan Biều,
là cháu thím Quy (vợ chú Quang của tôi). Hồi còn học lớp 8, lớp 9 Nguyên đã đi
học bằng chiếc xe Gobel, ra dáng anh hùng xa lộ lắm.
Các
bạn nữ như: Cao Thị Thanh Thuỷ, Trần Thị Nếp, Trần Thị Hoàng Liên, Trần Thị Thu
Lam, Nguyễn Thị Ninh, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Kim Thu, Phan Thị Tự, Nguyễn
Thị Vu, Phan Thị Liễu, Trần Thị Ngoan, Đào Thị Bạch Nhật, Nguyễn Thị Hậu,
Nguyễn Thị Hoài An…. nói chung đều hiền lành, rụt rè ít nói. Cao Thị Thanh Thuỷ
người làng Trà Liên, là em ruột thím Nhàn (vợ chú Đức của tôi). Trần Thị Hoàng
Liên, nhà ở Thạch Hãn, đối diện với nhà thầy Trần Văn Lữ. Hoàng Liên
là em ruột chị Trần Thị Ngọc Sương (vợ anh Trương Văn Trạn). Liên có em gái
Hồng Phượng, lúc đó học lớp 10B, rất xinh nên là đối tượng chiêm ngưỡng của
nhiều chàng trai trường Nguyễn Hoàng. Phan Thị Liễu, người Nhan Biều, hiện là
giáo viên đã nghỉ hưu, hiện ở xã Tân Phước, La Gi, Bình Thuận. Chồng Liễu, anh
Hải cũng là đồng môn NH hơn Liễu ba lớp. Anh Hải thật thà đôn hậu, đối xử rất
nhiệt tình với bạn học của vợ mình.
Trường
Nguyễn Hoàng lúc đó vẫn được quản lý bởi thầy hiệu trưởng Thái Mộng Hùng. Nhưng
nhà thầy ở Đà Nẵng, phải điều hành hai phân hiệu (Non Nước – Hoà Khánh), cách
xa nhau hơn 20 km, nên thầy không thường xuyên có mặt. Giám học trường vẫn là
thầy Nguyễn Thiện. Thầy Hồ Ngọc Thanh, tổng giám thị luôn có mặt ở trường (nhà
thầy ở ngay trong trại 5 Non Nước).
Năm
học này, trường Nguyễn Hoàng bùi ngùi tiễn đưa thầy Phan Phụng Thạch (quản
thủ thư viện trường - giáo sư dạy sử địa lớp đệ thất 3 của tôi niên khóa 1968 -
1969) - một nhà thơ tài hoa về nơi an nghỉ cuối cùng. Đoàn người
tiễn đưa thầy Thạch đông hàng nghìn người, ngoài tang gia quyến thuộc, đồng
nghiệp, thi văn hữu, thì học sinh toàn trường Nguyễn Hoàng đang tản cư ở Đà
Nẵng đều hiện diện đông đảo. Ai cũng rưng rưng xúc động nhớ thương vị thầy giáo
tài hoa mà mệnh yểu.
Chưa
tròn một năm sau đó, thầy Trần Văn Lữ - người bạn thân của thầy Phan Phụng
Thạch - vị giáo sư quốc văn khả kính của nhiêu thế hệ học sinh Nguyễn Hoàng
cũng ra đi trong sự tiếc thương của gia đình thân hữu, đồng nghiệp và học sinh
Nguyễn Hoàng.
Quý
thầy cô dạy 10A3 đều để lại cho chúng tôi những kỷ niệm khó quên. Thầy Cái
Ngọc, giáo sư hướng dẫn lớp, dạy môn vạn vật trầm lặng ít nói, thầy thường để
lớp chủ động giải quyết công việc. Quốc Cường, Đăng Hùng và tôi được thầy giao
cho công việc cộng sổ, viết bảng điểm của các kỳ thi lục cá nguyệt vào thành
tích biểu cho các bạn trong lớp. Trương Đăng Hùng viết chữ rất đẹp, nên sau khi
bị hư 1 bảng điểm cuối niên khóa (do có chỉnh sửa, bôi xoá); Hùng sao chép thêm
2 bảng điểm cuối niên khoá nữa, sau khi nộp bảng chính đẹp nhất cho giáo sư
hướng dẫn. Hắn giao cho tôi 1 bảng sao và 1 bảng bị hư do sửa chữa
và hắn chỉ giữ 1 bảng sao. Tôi cho Lê Thị Mĩ Trúc bảng điểm có chỉnh
sửa. Hè năm 1977, khi về Quảng Trị tôi cho lại Nguyễn Văn Bình bảng sao hoàn
chỉnh duy nhất mà tôi còn giữ (nghe nói hắn để cho mối mọt gặm nát rồi,
chán thiệt!). May sao, Mỹ Trúc đã photocopy bảng điểm Trúc đang giữ và gửi
vào cho tôi (khổ giấy A1, to rộng lắm). Bạn học 10A3 NH cũ nào cần thì liên hệ
tôi hoặc Mỹ Trúc để xem.
Thầy Thị dạy toán, thấp lùn, béo tròn. Mặt thầy hồng hào, miệng cười tươi trông phúc hậu như Phật Di Lặc. Tôi vốn mất căn bản toán, đúng ra phải chọn ban C, nhưng niên khoá đó, trường NH không mở ban C nên tôi mới miễn cưỡng học ban A. Thầy Thị dạy rất dễ hiểu. Tôi ngồi bàn đầu, hay được thầy trò chuyện. Thầy hỏi : “Minh , Liên , Đức là gì của em ?” (Đoàn Minh, Đoàn Liên, Đoàn Đức là những học sinh cũ của trường NH, nổi tiếng học giỏi, và là những người chú ruột của tôi; sau này chú Đức dạy Nguyễn Hoàng môn Anh Văn, có dạy lớp 11A3 niên khoá 1973 -1974 từ lớp 10A3 của chúng tôi lên). Giờ học toán, thầy Thị lại đố tôi Anh văn: “Đố Phú ICCS (viết tắt chữ tiếng Anh "Uỷ ban Quốc tế kiểm soát ngừng bắn bốn bên") xếp các nước thành viên theo thứ tự alphabet mà sao Ba Lan lại xếp sau Gia - nã - đại ?” Tôi trả lời : “Dạ thưa thầy họ xếp tên các nước theo alphabet của tiếng Anh chứ không theo tiếng Việt ạ ! Gia - nã - đại viết theo tiếng Anh là Canada, nên xếp trước Ba Lan, tiếng Anh là Poland”. Thầy khen giỏi làm tôi đỏ mặt. Không thể để thầy chê là dốt toán nên tôi cố gắng tự học, tự ôn lại nội dung các lớp dưới để lấy lại căn bản. Trong giờ học, thầy hay cho làm “toán chạy”. Có một chuyện làm tôi nhớ mãi: để nộp bài trước những bạn gái, chúng tôi làm toán rất nhanh, do đó đọc đề không kỹ, tôi nộp bài sớm nhất. Thầy Thị xem bài gật gù liên tục: “Đúng ! Đúng! Đúng!...” làm tôi khoái chí nở mũi khá to. Đột nhiên, thấy la lên: “Trời ơi! Răng mới làm chừng ni đã vội nộp rồi… A! Á! À! A!...”. Thì ra tôi mới làm được phân nửa bài, chỉ tạm xong câu a, chưa làm câu b nhưng sợ thua các bạn nữ mà đại diện nổi trội là Lê Thị Thắm (em ruột cô Lê Thị Em, giáo sư dạy lý hoá NH), nên đã chạy lên nộp trước, phải một bữa quê mặt. Nhờ sự tận tâm, gần gũi của thầy Thị nên tôi học toán khá trở lại.
Giáo
sư dạy Anh văn (sinh ngữ 1) của chúng tôi là thầy Trương Thúc Cổn, dạy liên lớp
10, liên lớp 11. Mới vào học thầy ra ngay bài kiểm tra cho tất cả các lớp với
một dạng đề như nhau (không phân biệt lớp 10 hay lớp 11). Tôi còn nhớ đại khái
như sau
Dịch
ra Anh văn các câu sau :
1.Thầy
hiệu trưởng trường chúng ta là thầy Thái Mộng Hùng, cao gầy, đẹp trai, nghiêm
nghị
2.
Thầy dạy Anh văn lớp chúng tôi trước đây là thầy Kế, thầy đeo kính cận, đến
trường bằng xe jeep trắng
3.Chị
em trao đổi :
-
Chị ơi ! Chúng ta có thể lên cung Hằng bằng cách nào nhỉ ?
-
Dễ lắm em ạ ! Chúng ta có thể du nguyệt điện bằng phi thuyền Appllo 11 do Mỹ
chế tạo đấy…
Do
bài làm của tôi hợp nhãn với thầy hay sao, đi dạy lớp nào (kể cả lớp 11C), thầy
cứ biểu dương tôi mãi, làm tôi hết sức ngượng ngập vì bị các anh chị lớp 11C
trêu chọc khi đi ngang qua lớp họ (chị Đoàn Hoa của tôi học lớp 11C đó).
Cô
Võ Thị Hồng dạy Việt văn là người hết sức tình cảm. Trong giờ nghỉ, cô hay trò
chuyện với học sinh, nhất là các bạn gái. Năm sau, ra trường Quốc Học Huế học,
tôi lại gặp cô dạy ở đây. Phan Ngọc Đăng (lớp 10A2 NH) và tôi chuyển trường
cùng học lớp 11C Quốc Học. Chúng tôi hay đến nhà cô ở Vỹ Dạ (Huế) chơi và khoe
cô việc hai chúng tôi thay nhau dẫn đầu lớp 11C QH, cô rất vui. Do xa nhà (gia
đình chúng tôi vẫn ở các trại tạm cư Đà Nẵng), chúng tôi thường về thăm nhà,
nhưng không có người thân xin phép nghỉ học. Trường Quốc Học Huế rất nghiêm,
chỉ cần vắng 1 ngày không phép là gửi ngay giấy mời phụ huynh học sinh lên gặp
(chúng tôi gọi đùa là gửi “mandat”). Đăng và tôi phải đến nhờ cô bảo lãnh giùm.
Sau khi trách mắng, cô gặp thầy giám thị xin cho chúng tôi.
Có
một lần, chúng tôi đến nhà cô chơi. Trong gia đình cô hình như có chuyện gì
không vui, chúng tôi không được đón tiếp như mọi khi. Chúng tôi giận, tránh mặt
cô (dù gặp trong sân trường) nhiều tháng liền. Điều này làm cô buồn lòng. Chưa
kịp xin lỗi cô, thì sự kiện lịch sử mùa xuân 1975 xảy ra, tôi vào Bình Tuy với
gia đình, không tiếp tục học Quốc Học nữa. Cô, trò từ đó không liên lạc với
nhau. Viết những dòng này, em xin cô bỏ qua cho những phản ứng nông nổi, trẻ
con của em lúc đó, mong cô luôn vui khoẻ và đầy ắp tình cảm bao dung như thuở
nào.
Thầy
Lê Quang Dị, dạy công dân giáo dục, thầy thường cho học sinh lên bảng diễn
thuyết, tự giới thiệu về mình. Sau này, thầy chuyển về Huế, chúng tôi hay đến
nhà, thầy trò nói chuyện khá tâm đắc.
Thầy
Lê Văn Gioang dạy Pháp văn (sinh ngữ 2). Thầy nghỉ nhiều do sức khoẻ yếu (bệnh
phổi) nên chúng tôi học Pháp văn bị gián đoạn, hết năm lớp 10 chỉ học xong bài
8 trong cuốn “Cours de Langue et de Civilisation Francaises” tập
1 của G. Mauger. Lúc ra học lớp 11C Quốc Học Huế, đầu niên khoá chúng tôi bắt
đầu học bài 30 cũng sách trên. Nhờ sự tự học trong hè 1973, chúng tôi mới bắt
kịp chương trình và không để thua kém các bạn Huế.
Thầy
Nguyễn Đôn Hộ dạy lý hoá còn trẻ, mới ra trường nhưng đã có phong thái đĩnh
đạc. Thầy khá nghiêm khắc, có phản ứng gay gắt với những nữ sinh tinh nghịch.
Thầy Hộ hát hay, ăn nói có duyên (khi đã hoà đồng cùng học sinh trong các buổi
dã ngoại), lại có kiến thức khá rộng (không chỉ trong môn lý hoá của thầy).
Nhiều nữ sinh có vẻ xao xuyến, thường chụm lại bàn tán “chuyên đề” về thầy.
Không ít nam sinh đau tim vì “người trong mộng” tỏ ra hờ hững với mình nhưng
lại chú trọng đến thầy Hộ.
Thầy
Lê Ngọc Dinh, dạy sử địa rất hay. Thọc tay vào túi quần, thầy lôi cuốn học sinh
bằng những bài giảng hấp dẫn không chỉ trong phạm vi sử địa mà còn mở rộng ra
ngoài phạm vi văn chương, chẳng hạn câu chuyện “Nguyễn Trãi và Nguyễn
Thị Lộ”. Học sinh chúng tôi đồn rằng thầy là một cao thủ đai đen Judo, vì
vậy những đám đánh lộn trong trường thường tự động “bỏ cuộc” khi
thấy bóng dáng thầy.
Lớp
10A3 chúng tôi được thầy cô dẫn đi dã ngoại ở Nam Ô (Liên Chiểu,
Quảng Nam, gần đèo Hải Vân ), và tự tổ chức đi chơi chùa Non Nước (Ngũ Hành
Sơn), cách Trại 5 Non Nước khoảng 10 km. Chúng tôi còn giữ được một số ảnh chụp
của lớp trong những chuyến đi dã ngoại đó. Trên núi Non Nước, Trương Đăng Hùng,
một bạn rất khéo tay đã dùng dao đẽo khắc vào tảng đá tên lớp 10A3 và ngày
tháng khắc, rất đẹp. Giờ đây tảng đá có còn chăng hay tan biến theo bụi thời
gian?
Thương thắm thiết lớp mười xưa cũ đó
Tảng đá buồn
rêu phủ tên A3 ?
Thương Non
Nước hang sâu cùng dốc núi
Mây bay về ai
nhắn kể chuyện ngày qua
Lan và Thắm còn than chăng chân mỏi
Hường, Trúc
ơi vẫn ngọt nước dừa tươi
Trên đỉnh núi
nhấm hoài vắt xôi dẻo
Thoáng mắt
nhìn Thân có thấy bồi hồi
Chúng
tôi hồi đó gồm: Cường, Oanh, Bình, Phú, Hùng, Tu (nam sinh ) chơi khá thân với
nhóm nữ như: Hường, Trúc, Xuân Lan, Thắm, Thân. Một số bạn thường ghép đôi tôi
với Thân. Thân là cô gái dễ thương, đảm đang về nữ công gia chánh, việc ẩm thực
khi đi picnic, dã ngoại đều do Thân phụ trách là chính. Thân còn có tên gọi ở
nhà là Thuận, nên có bạn đọc ghép thành Thuận Thân. Thân có cháu gái tên Huệ
học lớp 9 rất xinh, Thành học lớp 11A2 theo đuổi, vì vậy anh chàng hay gọi trêu
Thân là dì Thuận. Như đã nói, trại 5 Non Nước vốn là một phi trường nên có phi
đạo khá đẹp chạy dọc theo bờ biển Hoà Long. Chúng tôi ghép chữ phi đạo và hải
(biển) đặt thành tên riêng cho nơi này: Phi Hải. Tôi nhớ, có một lần đi chơi
chung nhóm về, do mang xách đồ lỉnh kỉnh, Thân dừng lại nghỉ, các
bạn trêu, thách tôi làm thơ tặng... Nhìn những dãy núi xa xa xanh biếc cắt hình
trên nền trời, tôi đọc:
“Em dừng bước bài thơ tình in bóng .
Cảm hồn trời bao
dãy núi trầm tư”.
Thân
thẹn chín đỏ mặt, vội bước đi. Tôi lại đọc tiếp:
“Em chuyển bước trùng dương nào cuộn sóng
Dưới bàn chân
hồi hộp biển cây xanh”.
Cả
nhóm vỗ tay cười vang. Thực ra những câu thơ trên là của thi sĩ Đinh Hùng, tôi
chỉ vay mượn, đọc lên cho kịp thời mà thôi. Những kỉ niệm đó đã hoá thân vào
thơ khi tôi hồi tưởng lại:
Và Phi Hải cát vàng chao sóng vỗ
Ta ngày xưa nồng ấm
đẹp hồn mơ
Chưa yêu thương
nhưng lòng hoài rộn rã
Ơi Thuận Thân ! Ơi
ngày tháng xa đưa
Học
sinh chúng tôi hồi đó có độ tuổi không đồng nhất, có khi cách biệt 4; 5 tuổi là
thường. Những nam sinh lớn tuổi sinh vào thời loạn ly không thể ngồi yên trên
ghế nhà trường. Trần Ngọc Nghĩa phải “xếp bút nghiên theo việc đao
cung”. Có bữa, nhiều bạn gái không cầm được nước mắt khi thấy Trần Ngọc
Nghĩa xúng xính trong bộ đồ tân binh rộng thùng thình trở về lớp thăm, lúc
Nghĩa nghỉ phép. Một số bạn nam khác phải đổi tên họ và làm lại khai sinh nhỏ
tuổi lại, chuyển sang học trường khác: Hoàng Văn Oanh cải tên là Hoàng Văn An
qua học trường Bồ Đề, Trần Quốc Cường thay khai sinh học bạ lại là Trần Văn
Hùng, Trương Đăng Hùng thì biến thành Trương Thành Hưng. Không ít bạn bạn nam
thay tên đổi họ như thế. Chính bản thân tôi cũng khai nhỏ tuổi lại, chỉ có điều
vẫn giữ nguyên họ tên.
Hè
đến, cuối năm học trước khi chia tay, học sinh viết lưu bút cho nhau. Tôi còn
giữ hai tập lưu bút năm đó. Nhiều bạn viết rất cảm động. Có bạn tỏ rõ khiếu
viết văn: Lê Thị Hường với bút hiệu Tuỳ Hương và Hoàng Văn Oanh có lời văn mượt
mà như tuỳ bút văn học. Văn đã thể hiện tính cách con người. Trương Đăng Hùng
đã viết:
“Ngày mai đôi ngả cách xa rồi
Tôi
về đơn độc một mình tôi
Người
ơi tôi viết dòng lưu bút
Kỷ
niệm ngày sau có thế thôi”
(Trương
Đăng Hùng)
Quả
thực, sau này Hùng sống đơn độc, lạnh nhạt với bạn bè, dù tình cờ gặp nhau hay
có ai đó đến thăm Hùng, kỷ niệm chỉ có chút ít thế thôi. Còn Quốc Cường nồng
nhiệt hơn với những dòng lưu bút sau:
“Mai này ta sẽ cách xa nhau
Mỗi đứa một
phương một chuyến tàu
Hành trang
đầy ắp dòng lưu niệm
May mắn gặp
nhau chớ cúi đầu”
(Trần
Quốc Cường)
Có
lẽ, phong cách viết lưu bút của Cường hợp với những câu sau (thơ tôi tình cờ
đọc của một tác giả chưa biết tên)
“Mai sau có gặp lại nhau.
Xin
đừng cúi mặt để đau lời chào”
Hè
ở trại tản cư không có một tiếng ve, không có sắc hoa đỏ thắm của nhành phượng
vĩ, tôi cũng đã viết lưu bút:
Hè đến rồi đây em biết không
Vắng tiếng ve ran
vắng phượng hồn
Về ta em nghĩ gì
chăng nhỉ !
Hay chỉ thờ ơ xem
như không?
Năm
1975, ngay sau khi Đà Nẵng vừa được bộ đội miền Bắc tiếp quản, tôi có đến trại
5 Non Nước thăm lại một vùng đất in dấu nhiều kỷ niệm thời học trò hoa mộng.
Trước mắt tôi chỉ còn là vùng đất hoang vu cát trắng. Thời gian vùn vụt trôi
qua, mới đó đã hơn 50 năm rồi. Khói sương kỷ niệm lãng đãng bao phủ làm trào
dâng những cảm xúc dào dạt trong tôi về thầy xưa bạn cũ, xin ghi lại lên đây ít
hồi ức về ngày tháng hoa niên thơ mộng đó.
Trường học cũ giờ tan thành cát trắng
Thầy cô xưa mù biệt với ngàn khơ
Thời tản cư chập chờn vương hư ảnh
Khói sương mờ hay kỷ niệm lên hơi
Thoáng kỷ niệm về bơi trong đáy mắt
Ta trầm ngâm hoài tưởng cả trời xưa
Nghe vang vọng dư âm bao tình mất
Thoảng bay cao diệu vợi những giai
thừa
Đoàn
Minh Phú
.....................
PHỤ
LỤC:
DANH
SÁCH HỌC SINH LỚP 10A3 TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG – QUẢNG TRỊ, NIÊN KHÓA 1972 -
1973
(PHÂN
HIỆU TRẠI 5 NON NƯỚC - HOÀ LONG – HOÀ VANG – ĐÀ NẴNG)
1- Nguyễn Thị Hoài An
2- Lê Thị Hoa
3- Nguyễn Thị Hậu
4- Lê Thị Hường
5- Cao Thị Xuân Lan
6- Trần Thị Thu Lam
7- Nguyễn Thị Liên
8- Trần Thị Hoàng Liên
9- Phan Thị Liễu
10- Trần Thị Năm
11- Trần Thị Nếp
12- Nguyễn Thị Ninh
13- Đào Thị Bạch Nhật
14- Trần Thị Ngoan
15- Trần Thị Ái Nghĩa
16- Lê Thị Thân
17- Nguyễn Thị Ngọc Thanh
18- Nguyễn Thị Thanh Thanh
19- Trần Thị Thảo
20- Lê Thị Thắm
21- Cao Thị Thanh Thủy
22- Nguyễn Thị Kim Thu
23- Lê Thị Tuyết Thu
24- Lê Thị Thanh Thương
25-Phan Thị Tự
26-Lê Thị Mỹ Trúc
27-Nguyễn Thị Vu
28-Nguyễn Văn Bình
29-Trần Quốc Cường
30-Lê Hòa
31-Trương Đăng Hùng
32-Lê Hữu Kháng
33-Nguyễn Mãn
34-Lê Nguyên
35-Hoàng Văn Oanh
36-Đoàn Minh Phú
37-Nguyễn Kim Phụng
38-Lê Văn Quy
39-Lê Văn Toàn
40-Nguyễn Văn Tiến
41-Phan Khắc Tu
42-Lê Thọ Tuyển
43-Nguyễn Thọ
44-Lê Đình Tứ
45-Lê Trước
46-Nguyễn Hữu Vinh
47-Võ Văn Đôn
TỔNG
CỘNG : 47 bạn
Ghi chú:
a-Vào
đầu niên khóa, lớp 10A3 gồm thêm các bạn sau (bỏ học nửa chừng , vì nhiều lý
do):
48 - Trần Ngọc Nghĩa
49 - Nguyễn Hùng Việt
50 - Nguyễn Mộng Thanh
b
- Ngoài ra, danh sách ban đầu còn có những bạn có tên nhưng không tham gia thực
học, gồm:
1- Võ Đình Mướp
2- Nguyễn Ngọc Minh
Danh
sách này lấy từ các tờ chemise các môn Anh Văn, môn Vạn Vật,… và bảng điểm cuối
năm (bảng điểm sao thêm, sau khi nạp bản chính cho giáo sư hướng dẫn mà ĐMP còn
lưu giữ được).
Người
lập danh sách
Đoàn Minh Phú