|
Phân tích một bài thơ hay! - Hoàng Long Hải
CHÉN NGỌC
“Núi Ngự Bình trước
tròn sau méo Sông An Cựu nắng đục
mưa trong Đôi ta như chỉ lộn
vòng Thương thì thương
vậy, chuyện vợ chồng khó nên.” (Ca dao Huế) Gởi Nguyễn Mạnh Trinh
Sông Hương núi Ngự là biểu tượng của
Huế. Nhiều thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ khi viết về Huế thường nói tới hai đề tài
nầy. Thông thường, sông Hương được ca ngợi nhiều hơn núi Ngự.
Về sông Hương, thường được mô tả “Hương
Giang lững lờ, trăng nước vờn đôi bờ”.
Có “Câu hò vọng xa đưa khúc buồn mơ” hoặc là “khi nắng
chiều êm dịu” hay đường về Vĩ Dạ “vắng đìu hiu”. Trước 1946, khi Tây chưa chặt trụi thông
trên Ngự Bình thì còn “Thông reo núi Ngự”, cùng với
nỗi buồn “man mác sầu Thiên Mụ”.
Các ý trên là của Minh Kỳ, trong bài “Thương về xứ Huế” mà cũng là
nhận xét của nhiều nghệ sĩ.
Thời tiền chiến, Nam Trân viết về Huế
như sau: Thuyền nan lững
thững sau hàng phượng Cô gái Kim Long yểu
điệu chèo, Tôi xuống thuyền cô
cô chẳng biết Rằng tôi thấy đẹp
phải tìm theo!
Khi tả cảnh Huế, Nguyễn Bính có nhiều
ý tưởng mơ mộng hơn, và cũng “xưa cũ” hơn: Cầu cong như chiếc
lược ngà Sông dài mái tóc
cung nga buông hờ Đôi bờ đôi cánh tay
vua Cung nga úp mặt làm
thơ thất tình
Cũng có lúc, Nguyễn Bính tả cảnh Huế
về mùa lụt lội, nước không Hương không còn “lững lờ” mà lên cao mênh mông: Trường Tiền vắng
ngắt người qua lại Ðập Ðá mênh mang bến
nước đầy
Nguyễn Bính còn có bài thơ “Cô Lái
Đò” mà nhiều người có thể tưởng là một cô lái nào đó trên sông Hương, như cô
lái đò ở bến Kim Long nói trên của Nam Trân chẳng hạn.
Có thể Nam Trân hay ai khác nữa lầm
lẫn đấy, cứ tưởng rằng tất cả các cô gái Kim Long đều đẹp. Điều nầy có thể do
từ câu thơ của vua Thành Thái: “Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương, trẫm
nhớ, trẫm liều, trẫm đi”, hay mối tình “táo bạo” của nhà vua đối với một
cô lái đò Kim Long:
Người Huế còn nhớ câu chuyện một năm
vua Thành Thái đi chơi tết ở Kim Long, tình cờ gặp một cô gái có nhan sắc,
làm nghề đưa đò. Nhà vua ưng ý nhưng hỏi thử: “Nì, o tê! Có muốn làm
vợ vua không?” Cô gái không dám trả lời vì việc ấy đối với cô cao xa quá,
không dám nghĩ mà cũng không ngờ tới. Nhưng rồi nhà vua giành lấy mái chèo mà
chèo thuyền đi. Tới bến Phú Văn Lâu, nhà vua lên bờ và bảo triều thần đưa cô
gái “tiến cung”.
Tôi từng đi qua nhiều bến đò ngang
trên sông Hương: Bến đò Tuần để qua lăng Minh Mạng, bến Kim Long nối liền chợ
Kim Long và làng Nguyệt Biều bên kia sông, bến đò Súng, phía trên bến đò Thừa
Phủ và bến đò Vĩ Dạ - chợ Đông Ba. Tôi không có cái may mắn để gặp một cô lái
đò đẹp.
“Cô lái đò” trong thơ Nguyễn Bính
lại không phải là một bến đò ngang trên sông Hương, mà chính là bến đò ngang
trên sông Diên Trường, còn gọi là sông Trường Sanh, nằm ở phía hạ lưu của cầu
Dài trong “Đại Lộ Kinh Hoàng” mùa hè năm 1972. (1)
Nếu độc giả có nghe câu hát “Chiều
nay em ra phố về, Thấy đời là con nước trôi” trong bài hát “Nghe những
tàn phai” của Trịnh Công Sơn, có lẽ ông ta nói tới “con nước” của sông Hương
đấy. Cái tàn phai ấy, không chỉ ở sông Hương mà thôi, mà của cả hoàng thành
và lăng tẩm nữa đấy. Tiếc là tác giả chưa nói hết mà thôi. *
Huế xưa có thú ăn chơi là nghe
ca hát trên sông Hương, thường vào ban đêm. Vài kỹ nữ, vài nhạc sĩ cổ, vài
khách chơi, thuyền neo trong sông trăng, tưởng như bến Tầm Dương của Bạch Cư
Dị sống lại nơi đây với những khúc ca Nam ai, Nam Bình, thường gọi là “Ca
Huế”.
Sau khi bị Pháp đô hộ, vua thì còn đó
nhưng nước đã không còn, vậy mà người dân Huế vẫn còn nghe tiếng ca, tiếng
đàn, tiếng địch vang vọng trên sông hằng đêm, khiến lòng người Huế càng thêm
khắc khoải vì mối hận mất nước, như khúc ca Bạc Tần Hoài nói về Trần Hậu Chủ
bên Tàu ngày xưa:
Bạc Tần Hoài
Đỗ bến Tần Hoài
(Người dịch: Hoàng
Giáp Tôn)
Yên lung hàn thủy
nguyệt lung sa, Dạ bạc Tần Hoài cận
tửu gia. Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng “Hậu đình hoa”. Mặt nước lạnh khói
loang, trăng tan trên cát, Hận vong quốc biết
gì, ca nhi còn hát! Bến Tần Hoài, thuyền
ta đỗ cạnh tửu gia, Vẳng tự bên sông lại
khúc “Hậu đình hoa”!
Bài thơ nầy có nhiều bản dịch. Sát
nghĩa và hay nhất có lẽ là bài của cụ Trần Trọng Kim:
Thu Tứ
Chập chờn sông khói bờ trăng
Tối nay thuyền đỗ bến Tần tìm say
Kìa ai nước mất mặc ai
Kéo co khách mới vẫn bài ca xưa.
Chính vì ý nầy, trong “Đêm Tàn Bến Ngự”,
Dương Thiệu Tước, sau khi than thở: “Thuyền ơi đưa ta đến đâu, Tìm trăng
trăng khuất đã lâu” bèn trách cứ những người quên hờn vong quốc mà nói
rằng “Ai tiếc, ai thương chi khúc Tần Hoài” là khúc ca mất nước.
Không chỉ là một triều đại nhà Nguyễn
sụp đổ. Khúc quanh lịch sử khi Pháp đặt nền đô hộ ở nước ta, là một sự thay
đổi sâu sắc về văn hóa, phong tục, lễ giáo, và lịch sử dân tộc.
Triều đại nhà Nguyễn sụp đổ kéo đổ
theo một tầng lớp thống trị xã hội, phần đông là giới sĩ phu, một nền văn
hóa, văn học, tôn giáo cổ xưa mà Việt Cộng cố gán cho cái nhãn hiệu “made in
China” là “Phong kiến phản động”(2).
Cộng Sản cố xóa bỏ nó đi, triệt tiêu
nó đi, “đào tận gốc, trốc tận rể” để xây dựng một nền văn hóa mới: “Văn hóa
Xã hội Xã hội chủ nghĩa”. Trong viễn tượng đó, đối với những người Cộng Sản,
lịch sử Dân tộc, văn hóa dân tộc là chỉ có thể có từ ngày 3 tháng 2, năm
1930, là ngày cái đảng quái thai Cộng Sản Việt Nam ra đời.
Lịch sử Dân tộc Việt Nam, Văn hóa,
Văn học Dân tộc từ thời gian trước cái mốc lịch sử đó, là không có gì hết, là
con số không, là coi như nước Việt Nam chưa có, Dân tộc Việt Nam chưa có,
không có gì cả!
Thu Bồn, lớn lên trong hoàn cảnh lịch
sử đó.
Ông sinh năm 1935, vô bộ đội Việt
Minh năm 11 tuổi, rồi trở thành nhà báo, nhà văn, được rèn luyện và học tập
qua nhiều nhà trường Cộng Sản, trong khi ông chỉ là một cậu bé nhà quê, quê ở
xã Điện Thắng, huyện Điện bàn, Tỉnh Quảng Nam, lớn lên trong chiến tranh, tập
kết năm 1954, sống dưới chế độ Cộng Sản Bắc Việt.
Vậy thì ông biết gì
về Dân tộc?
Biết gì về lịch sử
Dân tộc?
Biết gì về Văn hóa,
Văn học Dân tộc?
Ông đã bị mù vì Cộng Sản chỉ cho ông
thấy con đường nhìn lui lịch sử Dân Tộc chỉ toàn là “chế độ phong kiến bóc
lột”? Cái định kiến ấy đè nặng lên tâm hồn ông cả một thời gian khá dài!
Ông không biết gì về các triều đại
nhà Nguyễn, với 9 Chúa 13 vua, về các ông vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái,
Duy Tân. Trong cách nhìn đó, những gì thuộc về nhà Nguyễn chỉ là “đổ bỏ”,
không đáng quan tâm, không cần đếm xỉa tới.
Mãi sau năm 1975, có thể sau thời kỳ
gọi là “đổi mới”, khi ông đến Huế, có một cuộc đi thăm lăng tẩm, đền đài,
miếu mạo… ông mới giật mình, tỉnh ngộ, như nói thầm với người“bạn”
đường:
Bởi vì em dắt anh
lên những ngôi đền cổ Chén ngọc giờ chìm
dưới đáy sông sâu.
Sao lại bắt đầu bài thơ với hai chữ Bởi
vì?
Nếu “em KHÔNG dắt anh lên những
ngôi đền cổ, những ngôi đến cổ tượng trưng cho Huế, cho nhà Nguyễn, cho
các Vua Quan yêu nước, thì làm sao “anh” thấy được tinh hoa của Huế, của Vua
Chúa, của Lịch sử và Văn Hóa, nó như những “Chén Ngọc” chìm dưới đáy sông
sâu?!
Tại sao lại “chén ngọc chìm dưới
đáy sông sâu”?
Tại vì nó là lịch sử đã qua đi rồi
hay bị AI vùi lấp dưới lòng sông sâu của Huế?!
Vì đâu sông Hương của Huế lại vùi lấp
lịch sử Huế, lịch sử của các triều đại Vua Quan yêu nước? Ai đó là Ai thì
chúng ta đã biết rồi, cần chi phải nói rõ hơn họ là Cộng Sản.
Thu Bồn cũng đã biết, nên hai câu thơ
đầu của ông, được phô diễn như một lời hoài niệm, hối hận và tiếc nuối?
Người ta đang sửa sang, tái tạo một
Huế thời xưa cũ, vì nó là tài sản của nhân loại, nhưng với tính cách thương
mại hóa… Liệu người ta có làm được gì?
Không! Không được gì cả, bởi vì với thời
gian vô tình, Huế vẫn còn rêu phong, vẫn cứ tàn tạ, hủy diệt dần với năm
tháng! Thu Bồn có điều buồn khi ông thấy điều mà du khách, và cả người Huế
ngày nay nữa, không thấy được:
“Những lăng tẩm như hoàng hôn cố níu
ngày quên lãng!
Cố níu cũng không được! Thời gian vẫn
trôi, Huế vẫn cứ lụi tàn làm cho nhà thơ thấy “Mặt trời vàng và mắt em
nâu!”
“Mặt trời vàng” thì dễ hiểu! Thời
gian đang lên là bình minh. Bình minh thì mặt trời đỏ. Mặt trời vàng là lúc
hoàng hôn. Hoàng hôn thường mang một nỗi buồn mang mác như “Hai buổi chiều
vàng” của Nhất Linh vậy.
Thế nhưng tại sao lại mắt em nâu mà
không xanh như người Tây phương hay “mắt em đen” như các cô gái Việt Nam,
thường “mắt đen lay láy”. Độc giả hãy tìm hiểu thử coi! Có phải mắt em đang
phản ảnh màu của gạch đá rêu phong của hoàng cung và lăng tẩm. Đó là màu hoài
niệm của Huế, hoài niệm về một thời huy hoàng rồi suy tàn theo mệnh nước?!
Là một nhà thơ, Thu Bồn không thể
thoát ra khỏi cái tình trường của Huế, của người dân Huế cố cựu hay một thi
nhân, nghệ sĩ nào đó một lần đến Huế. Đó là một cái gì rất ảo mà rất thực, đó là điều gì rất mơ mà rất tỉnh:
(3)
Xin chào Huế một lần
anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô
Sao lại xin đừng lầm?
Nỗi nhớ Huế của Thu Bồn cả ngàn lần
như nhớ ở trong mơ. Nhưng “em” với Huế rất khác nhau bởi vì em là hiện tại, mà Huế là dĩ vãng. Hai cái “thực thể” sẽ không thể song hành.
Nói đến Huế, nên nói đến nón bài thơ,
có khi gọi là nón Huế. Chiếc nón rất nhẹ và mỏng. Cầm lên, soi dưới ánh sáng,
độc giả có thể đọc thấy một câu thơ cổ hay một câu thơ của Xuân Diệu, Lưu
Trọng Lư… Người con gái Huế ra đường thường với chiếc nón trên đầu, cầm tay
hay che một phía. Có khi người ta dùng nó như một vật để trang điểm, làm
dáng. Cái nón ấy là nón bài thơ, rất Huế, như Thu Bồn
nói, có thể làm cho người ta mong một cuộc sống êm đềm, nhẹ nhàng, rất
thơ… nhưng mà đời không phải thế vì đời rất thực,
rất khó khăn gian khổ.
Dù sao, dù nón Huế hay không phải nón
Huế, dù cái mũ vải, chiếc khăn mỏ quạ, thông thường nó không phải là thứ để
trang điểm mà phải là vật che thân, để che “Mặt trời lên từ phía nón em
nghiêng.”. Vậy trong cái thực ấy: nghiêng nón che mặt trời, vẫn có cái
đẹp của mơ đấy!
Từ những cảnh sắc của Huế, người Huế,
nhất là các cô gái Huế thường lẫn lộn giữa mộng và thực,
giữa ước mơ và thất vọng, giữa giấc ngủ và khi tỉnh thức, khi “áo
trắng qua cầu Trường tiền” giữa cái “nắng minh mang” lôi kéo con
người ta trở về với đời thực. (4)
Hình ảnh Huế khá rõ: “Nhịp cầu
cong” như Thu Bồn hay “Cầu cong như chiếc lược ngà” mà Nguyễn Bính
mô tả. Huế cũng là hai con đường thẳng vài dài ở hai bên bờ sông Hương. Bên
nầy sông, con đường đi từ Vĩ Dạ lên tới Ga Huế, bên kia sông là từ cầu Gia
Hội lên tới cầu Bạch Hổ.
Giữa hai con đường là con sông. “Con
sông dùng dằng…” hai tiếng dùng dằng làn cho người ta nhớ
đến Cô Kiều cũng “dùng dằng” như vậy:
Dùng dằng nửa ở nửa
về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Theo Tự điển Khai Trí Tiến Đức giải
thích, Dùng dằng là: Do dự, không quyết định, và tự điển cũng
chứng minh bằng câu Kiều như nói trên.
Cái gì là cho nước sông Hương do dự,
không muốn trôi đi?
Kiều dùng dằng là vì thương Đạm Tiên
bạc mệnh, yêu kính người bạc mệnh ấy đã“nổi danh tài sắc một thời”. Sông
Hương có dùng dằng thì cũng vậy: Con sông yêu người và yêu cảnh, hay nói đúng
hơn, đó là lòng của người Huế kể từ xưa, mặc dù, người ta cũng giận dỗi đấy: “Đi
để mà nhớ, không phải để ở mà thương”, như có người nói là Nhã Ca đã nói
vậy.
Vậy thì điều chính của sự do dự là
“tâm hồn”. Người ở Huế không ít khi người ta tự đi sâu vào tâm hồn mình, như
người ta thường nói là nội tâm. Cảnh sắc ấy, những nhân vật lịch sử ấy, và cả
lịch sử Huế nữa như đưa đẩy tâm hồn người vào những tư duy, phiền muộn, ngậm
ngùi. Do đó, sông Hương không chảy xuôi mà “chảy vào lòng nên Huế
rất sâu”. Đúng là, như người ta thường nói: “Người Huế thâm trầm”
Người đọc không thể lẫn lộn giữa “tạm
biệt” và “tiễn biệt” trong câu giã từ của Thu Bồn. Với tác giả, chỉ là “tạm
biệt”, với người “bạn” của tác giả là “tiễn biệt”. Có gì khác chăng? Một
người đi và một người ở lại. Người ở lại có trông chờ? Người đi thì vẫn ngoái
nhìn lui.
Hỏa Tinh mọc lúc đầu hôm là Sao Hôm,
mọc lúc ban sáng là Sao Mai, cũng còn gọi là Sao Khuya. Thu Bồn về bên kia
Hải Vân. Ông ta sợ khi về bên đó, sẽ không còn thấy Huế, sẽ mất Huế, vì Hải
Vân che khuất. Không hẳn che khuất Huế đâu, không hẳn che khuất người “bạn”
mà che khuất “Chén Ngọc” như ông đã từng không thấy “Nó” khi người “bạn” dắt
ông lên những ngôi đền cổ. Điều ấy, “Chén Cổ” ấy, với ông là rất quí báu vì
“Nó” là Đất Nước và Dân Tộc.
Có điều chi quí hơn hai điều ấy mà
ông sợ bị che lấp đi? Vậy thì “Chủ nghĩa Mác” ở đâu? Còn ở tròng lòng Thu Bồn
không? Nó không còn là kim chỉ nam cho Thu Bồn như trong những năm ông theo
Cộng Sản nữa hay sao mà ông mượn “Ngọn Sao Khuya” làm định hướng cho
cuộc đời trở về với Dân Tộc, như trong “Tìm Về Dân tộc” của Lý Chánh Trung.
Đọc đến đây, người đọc không thể
không nhớ “Nhân Văn, Giai Phẩm”.
Sự cởi trói của thời đại ngày nay, có
lẽ không như “Bách hoa tề phóng” là cái bẫy của Cộng Sản Bắc Việt năm
1956.
Niềm tin mới của ông là rất vững chắc
và bền bĩ. Ông muốn biến thành “đá” như “Đá Vọng Phu”, dù “cố đợi nghìn
năm, một nghìn năm khác sẽ qua… như trong “Ai Xuôi Vạn Lý” của Hòn Vọng
Phu thì niềm tin mới nơi Thu Bồn sẽ còn vì đó là niềm tin vào Dân Tộc.
Đâu phải chỉ có đàn bà mới dũng cảm,
kiên nhẫn chờ chồng từ năm nầy qua tháng nọ mới hóa đá. Khi đã có một niềm
tin vững chắc và sắt đá vào Dân Tộc, thì với niềm tin đó, người đàn ông cũng
có thể hóa đá để cùng tồn tại với Đất Nước và Dân Tộc vậy.
Nhìn chung, dù nhìn bài thơ qua lăng
kính nào, đây vẫn là một bài thơ hay. Nó hay chỉ bởi một điều căn bản: Nhân
Bản và Dân Tộc. Những tác phẩm trước kia của Thu Bồn, rồi ra chẳng mấy ai
biết mà khen vì đó là những tác phẩm phi-Dân Tộc.
Chỉ cần một bài thơ trở về với Chén
Ngọc, Thu Bồn cũng đã để lại cho đời một bài thơ hay.
Tháng 9-2014 hoànglonghải
TẠM BIỆT HUẾ
“Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn
Chống lại ngày ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu
Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô
Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế mà đời không phải thế Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia”.
Thu Bồn
(1)-Xin
xem “Thổ âm Trị Thiên” Trong “Viết Về Huế” Tập 1, do Văn Mới xuất bản.
(2)-Việt Cộng, gọi theo của Tầu Cọng, cái gì về vua chúa ngày
xưa đều gọi chung là “Phong kiến” hay “Phong kiến phản động”. Trong lịch sử
Tầu hay lịch sử các nước Châu Âu mới có “chế độ phong
kiến”, tức là “Phong tước và kiến địa”
nói gọn lại. Đó là chế độ có những “lãnh chúa”. Các lãnh chúa thường xung đột
nhau vì quyền lợi, như trong truyện “Romeo va Juliette”. Nước ta, từ khởi
thủy đến khi chế độ quân chủ sụp đổ, không có ai được phong là “lãnh chúa”
như bên Tầu hay Châu Âu. Nước ta chỉ có “Chế độ quân chủ”,
có khi là “Chế độ quân chủ chuyên chế”,
chưa bao giờ có “chế độ phong kiến”.
(3) Xưa có anh tiều phu, một hôm vào rừng đốn củi, tình cờ anh
giết được một con nai. Anh nghĩ: Đang đi đốn củi, nên anh bèn đào một cái hố,
chôn tạm con nai xuống đó, chờ khi đốn củi về sẽ đem con nai về luôn. Đốn củi
xong, ra về, anh quên mất con nai.
Tối lại, đi ngủ,
anh mới sực nhớ là đã quên con nai trong rừng. Hôm sau, vào rừng, ai đã lấy
mất con nai của anh làm anh cứ tưởng có lẽ anh không giết được con nai như
anh đã nghĩ, và tự cho đó là mộng hay anh lẫn lộn giữa mộng và thực.
Theo Nguyễn Hiến Lê
thì:
Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa
bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc
nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm
hay là bướm mộng thấy hóa Chu. Trang Chu với bướm tất có chỗ khác nhau. Cái
đó gọi là “vật hoá”.
Từ ý đó, trong
Truyện Kiều, khi nói về tiếng đàn của cô Kiều, Nguyễn Du viết:
Khúc đâu đầm ấm dương hòa Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh
Theo Wikipedia
thì: “Giấc mơ thành bướm của
Trang Tử gợi ra nhiều câu hỏi trong các lĩnh vực triết
học tâm thức, triết học ngôn ngữ, và nhận
thức luận. Không chỉ là một
thành ngữ thường gặp trong tiếng Trung, “Mộng hồ điệp” còn lan sang cả các
ngôn ngữ phương Tây. Nó được dùng làm một trong các minh họa trong bài luận
nổi tiếng “A New Refutation of Time” (Một
phủ định mới về thời gian) của Jorge
Luis Borges, và có thể đã gợi cảm
hứng cho truyện ngắn năm 1918 “Polaris” của H. P. Lovecraft.” (Theo Wikipedia)
(4)-Năm 1992, khi cựu thiếu tá Johnston trong “Phái đoàn Mỹ”
phỏng vấn tôi để xét cho đi định cư ở Hoa Kỳ, ông ta nói với tôi: “Tôi đi
nhiều, nhưng không có một thành phố nào đẹp như Huế. Giờ bãi trường, các cô
học sinh ra về, trắng cả cầu Trường Tiền, trên thế giới không nơi nào có.”
|