Đọc Bảy Mươi Hành của
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
- Châu Thạch
bình thơ
Gần đây bài “Bảy Mươi Hành” của
nhà thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt cũng khẳng định được thể thơ “Hành”
có một chổ đứng vững vàng trên diễn đàn thi ca.
Đọc cái tựa đề “Bảy Mươi
Hành”, chắc ai cũng phỏng đoán được đó là một bài thơ nói về tuổi
“Thất thập cổ lai hy”. Vì bài thơ dài, người viết xin lần lượt giới
thiệu từng khổ thơ kèm theo lời bình của mình, hầu làm ngắn bớt bài
viết, tránh đi sự nhàm chán cho bạn đọc khi phải đọc thơ trước rồi
lại đọc thơ lần nữa trong lời bình.
Đúng trình tự như một bài luận
văn, tác giả bài thơ nhập đề bằng sự giới thiêu tuổi tác của mình:
Nhịp gõ thời gian điểm bảy mươi!
"Nhân sinh thất thập" đến
đây rồi
Giẫm lên lằn mức người xưa hiếm
Mà ngỡ như còn giữa cuộc chơi.
Khác với nhiều ông già, nhà thơ
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt đã giẫm lên tuổi thất thập nhưng vẫn tưởng
như mình mới đi nửa cuộc đời. Căn cứ vào những khổ thơ sau ta thấy câu
thơ “Mà ngỡ như mình nửa cuộc chơi” không phải nhà thơ thấy mình còn
trẻ mà thấy mình chưa làm được gì đã vội già.
Qua khổ thơ thứ hai ta thấy nhà thơ ăn chơi thanh nhã nhưng tâm trạng bi quan đã hé lộ ra rồi:Thỉnh thơ vào án văn đề bút
Gom nắng chiều thương rũ bóng đời
Hiu hắt tà dương rơi cuối ngõ
Chập chờn cánh nhạn lạc xa xôi
Hai câu thơ cuối là hình ảnh
của một thi nhân ngồi ở chốn cô liêu mà vọng nhớ một chân trời xa xôi
nào đó. “Cánh nhạn” ở đây thể hiện linh hồn của tác giả mà cánh
nhạn “chập chờn” thì có thể hiểu rằng linh hồn đó trong mơ đang bay
về quá khứ.
Nhà thơ bắt đầu thổ lộ tâm sự
của mình ở khổ thơ thứ ba:
Cầm bằng bảy chục an nhiên vậy
Sinh bất phùng thời chịu nổi trôi
Nửa chặng phong trần bao nghiệt ngã
Xoáy theo cơn lốc tả tơi đời!
Bây giờ mới là nỗi đau thời
đại. Bây giờ mới phát ra tiếng rên rỉ của một kiếp người đại diện
cho hàng triệu kiếp người. Đọc đến đây những ai từng sống qua ba thời
đại, thời Pháp thuộc, thời nội chiến, thời non sông liền một dải sẽ
thấy lòng mình cũng quặn lên một nỗi đau, nỗi đau của “phong trần nghiệt
ngã”, nổi đau của “cơn lốc tả tơi” và nổi đau “sinh bất phùng thời”
co thắt con tim ta.
Tại sao tác giả lại nói “Cầm
bằng” trong câu thơ “Cầm bằng bảy chục an nhiên vậy”? Vì tác giả muốn
tự xem mình đến tuổi thất thập thì như người xưa đã nói “Thất thập
nhi tòng tâm sử dục, bất du cửu”, tạm giải thích là đến tuổi 70 thì
tâm linh và đạo hợp nhất, con người an nhiên hòa cùng vô vi trời đất.
Sự thật: Tác giả dùng chữ “cầm bằng” cho ta thấy không bao giờ ông
đạt được cảnh giới đó, bởi quá khứ làm thành những vết thương không
bao giờ lành được trong lòng.
Ở khổ thơ kế tiếp tác giả cho ta thấy tâm trạng nhà thơ biến chuyển từ lạc quan đến bi quan:
Lưới trời giăng mắc đan huyền ảo
Trũng thấp đồi cao những chập chùng
Đành chấp nhận băng truông vượt suối
Không dè, hoài bão hóa mông lung
Ở tuổi trai trẻ nhà thơ đạp lên
định mệnh, vượt qua “Trũng thấp đồi cao” chính là cái “Lưới trời
giăng mắc”. Ông chấp nhận “băng truông vượt suối” vì lý tưởng của
mình. Đến tuổi già nhà thơ mới chiêm nghiệm ra “Không dè, hoài bão
hóa mông lung”. Bốn câu thơ đọc nhẹ như những chiếc lá bay nhưng đặt
vào lòng ta khối sầu “ bấc đắc chí” của một đời người nặng nề còn
hơn bao ngọn núi.
Thế rồi nhà thơ đem mình so sánh với Kiều:
Như thể đoạn trường đeo bổn mạng
Phải thân Kiều gãy khúc đa đoan
Tiền Đường nào tưởng đời quên lẵng
Mảng lưới ngư ông quẳng giải oan
Gởi chốn xa xăm nơi ẩn dấu
Thâm sơn cùng cốc mười năm trường
Bước ra ngoái mặt mình trong kiếng
Nhăn nhúm da nhèo tóc điểm sương
Kiều 15 năm truân chuyên, sau khi nhảy xuống sông Tiền Đường được ngư ông vớt lên thì đến ngày đoàn tụ. Nhà thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt không biết truân chuyên bao nhiêu năm, sau đó lại phải “Thâm sơn cùng cốc mười năm trường”. Đem sự truân chuyên của mình tá khách vào Kiều, nhà thơ gián tiếp bộc lộ nỗi oan của mình trong cuộc sống.
Thật ra bao nhiêu chàng trai cùng thời đại với nhà thơ phải ra chiến
trận đều chịu nỗi oan uổng chẳng khác chi Kiều bán mình chuộc cha
cả. “Bán mình” là hy sinh tuổi trẻ, “chuộc cha” là chuộc cho nền tự
do đất nước trong cuộc tương tàn phi lý. Hai khổ thơ nầy nhà thơ nói
hộ cho những chàng trai thời đó.
Bốn khổ thơ kế tiếp nhà thơ tỉ tê tâm sự, tỏ bày biết bao uẩn khúc
trong lòng. Đoạn “Hành” nầy như một khúc trường ca bi hùng, khơi gợi
niềm đau của người trong cuộc, kể cho người ngoài cuộc đồng cảm với
thăng trầm của thế hệ:
Mắt mỏi mòn trông vời cố quận
Lòng mơ khắc khoải mộng tơ vương
Riêng niềm hoài vọng hồn du tử
Liễu lạnh trăng chìm rũ bến sương.
Cố hữu bạt phiêu khắp vạn nẻo
Từ ngày lửa xám mặt quê hương
Rẫy nương ẩn náu đời lưu xứ
Chữ nghĩa ích gì buổi nhiễu nhương!
Chiến hữu bao năm cùng tuyến trận
Sát kề vai giải gió dầm sương
Nung lời thề một lòng son sắt
Phút chốc tan đàn, ngựa lỏng cương!
Cùng cảnh truân chiên thuở đọa đày
Đồng cam cộng khổ sớt chua cay
Ngược xuôi luân chuyển vòng đây đó
Rải rác trăm phương chịu lạc bầy!
Rồi thì tác giả không quên đề
cập sơ qua đến cuộc sống về già, cuộc sống hiện nay:
Bạn từng hòa vận xa xôi cả
Lời vọng băng ngàn khó ới nhau
Viết một vần thơ trăm nỗi nhớ
Đọc dăm cuốn sách vạn niềm đau!
Bạn xưa thì tản lạc vì thời
cuộc, bạn nay thì ở bốn phương trời. Sự cô đơn đè nặng trên tuổi
thất thập cổ lai hy. “Viết một vần thơ trăm nỗi nhớ” là nhớ quá khứ
và nhớ ngay cả trong hiện tại. “ Đọc dăm cuốn sách vạn niềm đau” là
đau cho quá khứ, đau trong hiện tại và đau cả tương lai mịt mờ không
biết về đâu. Hai câu thơ đầu như hai con suối lạnh, hai câu thơ sau như
suối biến thành sông băng giá. Cả khổ thơ nếu nói không quá thì cho
ta liên nghĩ đến tâm sự những nhà yêu nước bị lưu đày thuở trước.
Ngày nay không phải một vài người bị lưu đày như ngày ấy mà hàng
triệu người đang bị lưu đày trong đó có nhà thơ.
Trong cảnh cảnh cô đơn, nhà thơ
đâm ra bi quan:
Gẫm lại cõi trần là giấc ngủ
Gốc hòe tỉnh dậy mộng bay xa
Xưa nay nhân thế toàn hư ảo
Không, sắc... kề nhau quả thật là
Giữa có và không nguyên một lẽ
Có rồi không chung gốc liền vòng
Nửa trang đời vào sinh ra tử
Buổi trói tay cam chịu khóa còng.
Không chỉ “Thâm sơn cùng cốc
mười năm trường” mới gọi là “Buổi trói tay cam chịu khoá còng”. Tác
giả đã bị khoá còng từ ngày ấy đến nay vì những hệ luỵ tiếp theo
những ngày tù tội. Ở tuổi 70 ông càng trăn trở nhiều hơn, thao thức
nhiều hơn và cảm nhận nhiều hơn nỗi đau của chiếc còng khóa trên tay
không mở được cho đến cuối cuộc đời:
Bảy mươi mời rượu cùng ai nhỉ
Nhìn lại quanh đây chỉ một mình
Giáo dựng gươm treo ngoài ải vắng
Hương trầm xin bái vọng vong linh
Sinh nhật bảy mươi không yến tiệc
Trong vườn khuya khoắt đếm sao rơi
Ngâm thơ huyễn mộng thay lời tiễn
Hồn lạc phiêu diêu cuối nẻo trời
Ở hai khổ áp chót của “Bảy
Mươi Hành” tác giả gởi cho đời một triết lý sống:
Người chúc tâng nhau lên bậc lão
Ta cầu trăng rọi suốt thiên thu
Cồn xưa dấu tích gò cương ngựa
Tiễn mộng xa xăm cõi mịt mù
Chẳng ước mơ gì câu bách tuế
Phương này vị đắng vốn triền miên
Rong rêu bám víu bờ nhân thế
Ba chục năm thêm… bấy muộn phiền!
Tuy phải nhận nhiều vết thương
tinh thần, tác giả vẫn áp dụng triết lý của thánh hiền trong cuộc
sống “bất phùng thời” của mình. Con người ai cũng thích sống trăm
năm, nhưng bậc thánh hiền không cần sống thọ, mà cần cái nhân cách
sống như “trăng rọi suốt thiên thu”. Hai vế thơ gợi cho ta hình ảnh
người kỵ sĩ buông cương, ẩn danh để nhấm vị đắng nhưng cái chí khí
ngất trời hạo nhiên trường tồn mãi mãi.
Cuối cùng nhà thơ độc ẩm giữa
đêm trăng trong ngày sinh nhật để thấy hồn mình hay nước mắt mình đẩm
trên trang giấy thành thơ:
Đốt nến lên ngâm thơ lạc vận
Hồ trường nghiêng cạn giữa đêm trăng
Mảnh hồn tản mạn loang trên giấy
Sinh nhật ta tròn bảy chục năm.
Khổ thơ cuối cùng của “Hành”
giống như câu thơ “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” của Kiều ở
“Lầu Ngưng Bích khoá xuân”. Đây là cái giây phút mà nỗi đau như một
cái đinh ốc cứ xoắn, cứ xoắn và lên đến đỉnh nhọn. Nếu nhà thơ
không ngất đi ở đây thì cũng buông tay cho “lửa tắt bình khô rượu” để
dòng lệ rơi hay nuốt ngược vào lòng.
Nếu đọc “Hành” cúa Thâm Tâm và
Nguyễn Bính viết theo lối thất ngôn phá thể, ta có thể kết luận
“Hành” là đi. Với Thâm Tâm “Hành” là “đưa người”, với Nguyễn Bính
“Hành” là “lưu lạc”. Thể thơ “Hành” còn là thể thơ dùng để viết cho
sự phân ly, trực tiếp hay gián tiếp nói cho mình hay đối tượng nào
đó về sự chia tay hay sự trôi nổi giữa cuộc đời. Gần đây cũng có
tác giả dùng “Hành” để nói về cuộc sống lưu vong.
“Hành” của Hạ Thái Trần Quốc
Phiệt viết rất công phu, phản phất chất cổ điển, theo thể thất ngôn
trường thiên đúng luật từ đầu đến cuối, là một bài có nội dung tổng
hợp của “Hành”, trong đó ông tự thán ở tuổi 70 và gởi vào đó tâm
sự mình, gián tiếp phản ánh nỗi đau thời đại mà mình đã sống.
Bài thơ dài nhưng cuốn hút, với
tiếng thơ như tiếng từng con sóng quyện nhau nối tiếp vào bờ, với ý
thơ tiềm ẩn những suy nghiệm sâu xa và với nhiều tứ thơ bác học, tác
giả đặt người đọc, nhất là người lớn tuổi đồng cảm, thổn thức với
những thăng trầm đã qua và hiện nay chất chứa trong thơ. “Bảy Mươi Hành”
của hạ Thái Trần Quốc Phiệt thêm một lần nữa làm nổi bật ưu điểm
của thể thơ “Hành”./.
Châu Thạch
BẢY MƯƠI HÀNH
Nhịp
gõ thời gian điểm bảy mươi
"Nhân
sinh thất thập" đến đây rồi
Giẫm
lên lằn mức người xưa hiếm
Mà ngỡ như còn giữa cuộc chơi.
Thỉnh
thơ vào án văn đề bút
Gom
nắng chiều thương rũ bóng đời
Hiu
hắt tà dương rơi cuối ngõ
Chập chờn cánh nhạn lạc xa xôi.
Cầm
bằng bảy chục an nhiên vậy
Sinh
bất phùng thời chịu nổi trôi
Nửa
chặng phong trần bao nghiệt ngã
Xoáy theo cơn lốc tả tơi đời.
Lưới
trời giăng mắc đan huyền ảo
Trũng
thấp đồi cao những chập chùng
Đành
chấp nhận băng truông vượt suối
Không dè hoài bão hóa mông lung.
Như
thể đoạn trường đeo bổn mạng
Phải
thân Kiều gãy khúc đa đoan
Tiền
Đường nào tưởng đời quên lẵng
Mảng lưới ngư ông quẳng giải oan.
Gởi
chốn xa xăm nơi ẩn dấu
Thâm
sơn cùng cốc mười năm trường
Bước
ra ngoái mặt mình trong kiếng
Nhăn nhúm da nhèo tóc điểm sương.
Mắt
mỏi mòn trông vời cố quận
Lòng
mơ khắc khoải mộng tơ vương
Riêng
niềm hoài vọng hồn du tử
Liễu lạnh trăng chìm rũ bến sương.
Cố
hữu bạt phiêu khắp vạn nẻo
Từ
ngày lửa xám mặt quê hương
Rẫy
nương ẩn náu đời lưu xứ
Chữ nghĩa ích gì buổi nhiễu nhương.
Chiến
hữu bao năm cùng tuyến trận
Sát
kề vai giải gió dầm sương
Nung
lời thề một lòng son sắt
Phút chốc tan đàn ngựa lỏng cương.
Cùng
cảnh truân chiên thuở đọa đày
Đồng
cam cộng khổ sớt chua cay
Ngược
xuôi luân chuyển vòng đây đó
Rải rác trăm phương chịu lạc bầy.
Bạn
từng hòa vận xa xôi cả
Lời
vọng băng ngàn khó ới nhau
Viết
một vần thơ trăm nỗi nhớ
Đọc dăm cuốn sách vạn niềm đau.
Gẫm
lại cõi trần là giấc ngủ
Gốc
hòe tỉnh dậy mộng bay xa
Xưa nay nhân thế toàn hư ảo
Không - sắc... kề nhau quả thật là.
Giữa
có và không nguyên một lẽ
Có
rồi không chung gốc liền vòng
Nửa
trang đời vào sinh ra tử
Buổi trói tay cam chịu khóa còng.
Bảy
mươi mời rượu cùng ai nhỉ
Nhìn
lại quanh đây chỉ một mình
Giáo
dựng gươm treo ngoài ải vắng
Hương trầm xin bái vọng vong linh.
Sinh
nhật bảy mươi không yến tiệc
Trong
vườn khuya khoắt đếm sao rơi
Ngâm
thơ huyễn mộng thay lời tiễn
Hồn lạc phiêu diêu cuối nẻo trời.
Người
chúc tâng nhau lên bậc lão
Ta
cầu trăng rọi suốt thiên thu
Cồn
xưa dấu tích gò cương ngựa
Tiễn mộng xa xăm cõi mịt mù.
Chẳng
ước mơ gì câu bách tuế
Phương
này vị đắng vốn triền miên
Rong
rêu bám víu bờ nhân thế
Ba chục năm thêm bấy muộn phiền.
Đốt
nến lên ngâm thơ lạc vận
Hồ
trường nghiêng cạn giữa đêm trăng
Mảnh
hồn tản mạn loang trên giấy
Sinh
nhật ta tròn bảy chục năm.
Hạ
Thái Trần Quốc Phiệt
2014