Bồ Bản,
Làng Tôi Với Những Kỷ Niệm Tuổi Thơ - Mai Khanh Lê Đình Cát
Bồ Bản ! Hai tiếng gọi thân yêu ấy, đã gợi lại trong lòng tôi những kỷ niệm đẹp thật dễ thương của một thời tuổi thơ nơi làng quê mà tôi không bao giờ quên đưọc..
Cũng vì vậy nên đã từ lâu tôi muốn viết về Bồ Bản làng tôi; nhưng cứ mãi nghĩ suy, cho nên không dám viết. Bởi vì những hiểu biết về sự hình thành và lịch sử của làng đối với tôi quá ít ỏi, và hơn nữa tôi không có đủ tài liệu, dữ kiện để tham khảo, rồi tôi cứ do dự mãi.
Cho đến vào những lúc sau nầy, tôi nhớ không lầm, thì vào năm 2004, khi mà tôi đã có dịp gặp lại Diệu Minh (con anh Trợ Khởi và là cô cháu họ của tôi) từ Canada qua Mỹ thăm anh chị là: vợ chồng anh Kỳ và vợ chồng chị Quy, cùng bà con và đã “ghé” thăm gia đình tôi…
Mừng quá,
vì đã hơn bốn mươi (40) năm rồi, bây giờ chú cháu chúng tôi mới gặp lại
nhau… Và hai chú cháu đã cùng hàn huyên,
tâm sự, cũng như ôn lại những kỷ niệm từ thời ấu thơ, khi mà chúng tôi còn là
những đứa trẻ học tiểu học…Nhất là mỗi độ hè về là chúng tôi về làng gặp nhau,
Rồi nào là Hải, Diệu Minh, Kháng, Khôi và tôi, đã cùng kết bạn với những đứa trẻ
ở làng như chú Gia, thằng Tý, thằng Thời, con Mơ, thằng Cứ và chi Dỏ (chị họ
tôi), để rồi được chúng cho đi theo chăn bò…và tham gia những trò chơi với
chúng, như: cùng rủ nhau khi thì ra “rú”
hái sim, bắt chim, khi thì ù mọi, kéo giây.v.v….Ôi thật là hồn nhiên, vui
thú…Thời tuổi trẻ là thế đó…
Và trước
khi Diệu Minh từ giã tôi để về lại Canađa, cô còn nhắc tôi…
-
Chú Cát nè, không biết
chú có còn nhớ những kỷ niệm ấy không?
Chứ Diệu Minh thì nhớ và nhớ rất nhiều, những kỷ niệm của thời nhỏ đó. Vậy
nếu có dịp thì chú có thể viết lại những gì về làng Bồ Bản, về những kỷ niệm của
một thời tuổi thơ của chúng ta nghe chú…
Vì không có gì đẹp bằng kỷ niệm, mà những kỷ
niệm đó lại gắn liền với làng quê nơi đã “chôn nhau, cắt rốn” của bao
đời… từ Tổ Tiên, Ông Bà và Cha Mẹ chúng ta … đến chúng ta cũng được sinh ra và
lớn lên …Và cũng chính nơi đó mà chúng ta đã đưọc thành người phải không chú..?
Và tôi đã
hứa với Diệu Minh.
-
Ừ Chú hứa, nếu có dịp
thuận tiện thì chú sẽ cố gắng viết để mà nhớ về làng Bồ Bản
của chúng ta chứ….Vì đó
là một kỷ niệm đáng trân quý cơ mà, phải không Diệu Minh.?
-
Chú nhớ đó, đã hứa với
Diệu Minh rồi thì lo mà viết nghe chú, không thì Diệu Minh giận và nghỉ chơi với
chú luôn…liệu hồn chú đó.
Từ những tấm chân tình ấy của cô cháu họ thân thương đã khiến tôi không thể dửng dưng…Và cũng từ đó tôi lại suy nghĩ... thôi thì trước sau gì cũng viết.
Vậy là
tôi mở Computer và bắt đầu….
Phải, Diệu
Minh ạ..! Dầu thế nào đi chăng nữa đã là
con dân của Bồ Bản, chú nghĩ mình cũng nên viết những gì mà mình đã hiểu biết
hoặc đã được nghe qua những bậc cha ông và các vị bô lão trong làng đã kể lại
cho con cháu qua những ngày lễ giỗ tổ hay là những ngày chạp mộ (thanh minh) của
làng mà chính mình đã được dịp tham dự, cũng như qua những lúc “trà dư, tửu hậu”
mà những bậc cha ông đã có cảm hứng kể về làng Bồ Bản một cách thật hào hùng và
quá hãnh diện …
Và cũng từ
những câu chuyện đó đã in dấu mãi trong tâm tôi từ thuở ấu thơ khi còn ở làng;
cho đến bây giờ, dầu tuổi đã xế chiều và đã nghìn trùng xa cách đối với làng
quê yêu dấu.
Nhưng hai
tiếng Bồ Bản thân thương ấy vẫn luôn ở trong tim tôi…
Bồ Bản
Hương
phúc kết huân,
Khí
thiêng un đúc.
Con cháu
Lạc Long
Gái trai
Bồ Bản.
Chăm chỉ
học hành
Một đời thành đạ
Đời đời thạnh phát,
Xứ xứ
quang vinh
Bồ Bản!
Đó là nơi tôi được sinh ra, lớn lên và thành người.
Đúng… Tôi
được sinh ra ở Bồ Bản, một làng nhỏ bé thuộc tỉnh Quảng Trị; là một tỉnh miền
Trung. Làng Bồ Bản thân thương của tôi tuy nhỏ bé hơn những làng khác quanh
vùng, nhưng lại rất xinh đẹp. Nơi đó có nào là:
chùa, đình, miếu…có sông, có hồ sen, có “rú” có những lủy tre xanh, rợp
bóng mát, phủ dọc hai bên con đường làng chạy dài từ đầu đến cuối làng. Ôi thật
nên thơ và đẹp tuyệt vời… Nhất là vào những đêm có trăng, khi mà trăng lên, ánh
trăng đã chiếu xuống những hồ sen với những bông sen nở tròn nụ trên làn nước
trong xanh đã tăng thêm vẻ đẹp của chị Hằng, cũng như ánh trăng len qua những
tàn lá tre đã chiếu xuống những ánh sáng lúc tỏ, lúc mờ; thật là huyền ảo, tuyệt
vời và với một khung cảnh nên thơ như vậy. Đó chính là nơi để cho những cặp
trai gái tha hồ mà hẹn hò nhau, sau một ngày làm việc mệt nhọc… Và rồi, họ tay
trong tay, đi theo đường làng hoặc ngồi dưới gốc cây đa để cùng tâm sự, tỏ tình
và thề non hẹn biển.v.v… Rồi cùng ngắm trăng và nghe tiếng gió tự tình cùng với
trăng sao, xa xa đâu đó, thoảng nghe tiếng chày giã gạo, với những câu hát
khoan hò thật trử tình, đối đáp giữa nam nữ, vang lên trong màn đêm u tịch của
miền thôn dã. Ôi, thật là nên thơ, thật mơ mộng…Tình quê là thế đó…
Thế thì làm sao mà quên được những kỷ niệm của một thời ấu thơ nơi thôn dã, làng quê…Mà chính nơi đó, những con dân Bồ Bản chúng tôi trong mọi thế hệ đã được sinh ra và lớn lên thành người.
Thôn
Bồ tôi đó
Về đây Bồ
Bản quê tôi.
Người dân
mộc mạc, sống đời bình yên.
Đói no chẳng
chút buồn phiền,
Suốt ngày
lam lũ mãi quên thời giờ.
Về đây ruộng
lúa non thơm,
Nương
khoai xanh lá, nắng vờn chân em.
Thôn Bồ
tôi đó đẹp xinh,
Có hàng
tre phủ bóng im xuống đường.
Về đây
sông, núi dễ thương
Bồ giang
lờ lững, nước trong ngọt ngào
Chiều
buông gió núi thì thào
Ru hồn lữ
khách xuyến xao ân tình
Về đây
phong cảnh đẹp xinh
Xa nơi phố
thị cố quên sự đời.
Con người
được chút thảnh thơi,
Thả hồn
theo mộng cho vơi muộn phiền.
Cát-chi -
1983
Làng tôi
là một ngôi làng tuy nhỏ hơn những làng lân cận; nhung nằm vào một địa thế thuận
lợi và phong cảnh lại rất xinh đẹp…
Từ thuở
bé thơ, lúc tôi học tiểu học, tôi đã từng nghe những chú bác và các vị bô lão
trong làng kể rằng: hình như giòng họ Lê của làng tôi phát xuất từ Thanh Hóa và
Tổ Tiên mấy đời trước nhờ có học cao, hiểu rộng, nên đã được Triều đình nhà
Nguyển trọng dụng; vì thế mà có những vị đã thành danh và đã từng làm quan trong triều thời ấy…
Cũng thế, vào thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa làng Bồ Bản cũng có những vị Sĩ quan cao cấp, hoặc là công chức, hay là Giáo Sư, Bác Sĩ, Kỷ Sư.… Đã phục vụ cho đến ngày mất miền Nam (tháng 4-1975).
Và theo tôi được biết thì sự hình thành của làng tôi, có một giai thoại thật thú vị …Mà nếu hiểu theo nhà Phật … thì đó là “cơ duyên”…
Và “cơ duyên” đó bắt đầu từ các bậc tiền nhân của làng… Mà nguyên nhân là từ con sông lớn của Quảng Trị… Sông Quảng Trị được phát xuất từ nguồn Hàn ( núi Trường Sơn) chảy về Thạch Hản, đổ xuống hai (2) làng Bích La và Vân Hòa, rồi chảy qua khúc quanh ”rú” của làng Vân Tường, để chuyển hướng đâm sâu vào “lở”, trước chùa của làng An Trạch… từ đó tạo nên nguồn phù sa, lâu dần đã hình thành một bải cát “bồi” và chung quanh lại có những lùm cây “lác” mọc lên để giữ đất…Và cũng dần theo tháng năm, bãi cát bồi ấy cao lên và rộng ra thành một bãi đất hoang thật rộng, đẹp và phì nhiêu lại có sinh khí và “đầy đủ địa hình, địa lợi” (gần mặt đường chính, mặt tiền có sông, mặt hậu là đồng ruộng phì nhiêu và một con“hói” (con suối nhỏ). Theo những nhận xét của tổ tiên xưa, thì chính nơi Gò Lác nầy đã hợp với (thiênt thời, địa lợi)…Và đó là nơi chốn đã mời gọi tổ tiên chúng tôi đến khai phá và thành lập ra làng Bồ Bản vào năm Nhâm Tuất 1562, đời Hậu Lê. (Theo tài liệu “Dấu Chân Xưa” của cố Tuần Vũ Lê Văn Hy), mà nhà thơ Hà Giang Sơn Tử Lê Văn Khôi đã sưu tìm…Đó chính là làng Bồ Bản của chúng tôi bây giờ.
Cũng từ
tài liệu đó giải thích thêm rằng: Bồ Bản vốn là gò đất bồi bên bờ sông, gò đất
nầy pha lẩn cát vàng (huỳnh sa) cũng là nơi có nhiều cây lác mọc lên và nảy
sinh nhanh, cũng từ nguyên nhân ấy mà tổ tiên chúng tôi đã đặt tên khu đất bồi
có cây Lác mọc tên để giữ đất… là làng Bồ Bản (Bồ là Bồi - Bản là cây Lác). Và
một điều thật lạ, là những con đường làng Bồ Bản khi hết mưa thì đường lại khô
ráo liền, bởi chính nhờ đất pha cát vàng (huỳnh sa) đó đã hút nước rất nhanh.
Làng Bồ Bản được nằm dọc theo tỉnh lộ Quảng Trị,
từ trên tỉnh chạy về cửa Việt đến cây số 10 Km gặp cầu sắt đi xuống khoảng 200
mét. Thì đã thấy hai làng đối diện nhau.
Đó là làng Bồ Bản nằm phía bên tay phải và
làng Vĩnh Lại nằm phía bên tay trái…
Vì địa thế của hai làng: làng Bồ Bản tôi và làng Vĩnh Lại rất đặc biệt là nằm đối diên nhau bên đường tỉnh lộ. Cho nên từ cây cầu sắt, đến ngôi chợ làng, rồi trường học và bệnh xá. Tất cả đều được dân địa phương gọi chung hai tiếng thật thân thương đó là: cầu Vĩnh Bồ, chợ Vĩnh Bồ, trường tiêu học Vĩnh Bồ và bệnh xá Vĩnh Bồ…Đó chính là một dấu ấn lưu truyền mãi trong tâm của dân hai làng Bồ Bản và Vĩnh Lại chúng tôi vậy.
Làng Bồ Bản
thuộc Xã Triệu Trạch, Quận Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị
Mặt tiền
của làng Bồ Bản được nằm dọc theo bờ sông Bồ Bản là một con sông từ thượng nguồn
chảy về qua sông Thạnh Hản ở trên tỉnh, chạy dài suốt qua những làng Bích La,Vân
Hòa rồi qua “rú” Vân Tường, từ đó chuyển hướng theo khúc quanh vào làng An Trạch,
rồi chảy dài đến làng Bồ Bản của chúng tôi và sau đó chảy ra biển Cửa Việt
Trên đường vào làng, bên phải là sông, bên trái ta nhìn thấy có đình thờ tổ tiên, miếu thờ thần hoàng, sâu vào là ngôi chùa làng, rồi đến những ngôi đình thờ họ gồm: (Lê Đình, Lê Văn và Lê Quang) nơi đó thờ tổ tiên của từng dòng tộc.v.v.. Như thế là mặt tiền của làng tôi nhìn ra sông, “sông Bồ Bản”, bên kia sông là làng Mỹ Lộc, phía sau lưng là làng Lệ Xuyên….
Từ đầu làng đi sâu vào là một dãy “rú” và rồi cũng có những Đình, Miếu, Đền thờ Thần; như là miếu Cồn Hà, qua khỏi miếu là gặp Cồn Hà, nơi đây còn gọi là khe (khe là một đường rãnh nhỏ để đưa nước vào ruộng). Theo tài liệu (Dấu Chân Xưa) có ghi rõ cuối dãy “rú” là “mốc” (ranh giới) giữa hai làng: làng Bồ Bản và làng An Trạch có một con khe do làng An Trạch đào lên để dẫn nước từ sông vào ruộng và dọc theo con khe làng An Trạch có xây lên bốn (4) ngôi miếu… và giáp giới hai làng Bồ Bản và An Trạch còn có một ngôi miếu gọi là Miếu Một, từ Miếu Một đi sâu vào ta thấy có hai ngôi miếu được xây sắt nhau nên gọi là Miếu Đôi; Từ khi làng An Trạch đào cái khe nầy thì làng Bồ Bản đã xảy ra nhiều sự cố không tốt. Vì thế làng Bồ Bản đã thương lượng và yêu cầu làng An Trạch lấp con khe giữa hai làng (vì tình thân giữa hai làng rất thân thiết và luôn nương tựa, giúp đỡ nhau), cho nên làng An Trạch đã đồng ý cho lấp con khe giữa hai làng …Và một điều rất kỳ diệu là từ khi làng An Trạch lấp con khe thì dân làng Bồ Bản của tôi tự nhiên lại có “vượng khí” con dân trong làng làm ăn phát đạt, việc học hành thi cử cũng đều có kết quả tốt. Có nghĩa là tất cả mọi việc đều được hạnh thông.
Vậy là cuối làng Bồ Bản là làng An Trạch, tiếp theo nào là làng Long Quang, Linh Yên, Phương Sơn, An Lưu...từ đó theo tỉnh lộ ngược trở lên Trung Yên, Đạo Đầu, An Trú. qua Ba Bến Bích La… Trí Bưu vào lại tỉnh lỵ.
Bên kia tỉnh
lộ, là bên trái của làng Bồ Bản là làng Vĩnh Lại, Như Lý, An Cư và đi lên là
Gia Độ rồi Đông Hà về Ái Tử và cũng lại
lên Tỉnh..
Như vậy
làng tôi ở một vị thế rất là tiện lợi cho việc giao thông cả hai trục đường bộ
lẫn đường thủy.
Làng tôi có một diện tích rất khiêm nhường với chiều dài khoảng 2km và chiều rộng chưa đầy 1km, độ chừng gần 100 nóc nhà và được chia thành ba (3) xóm, Xóm Chùa, Xóm Giữa và Xóm Hà. Ở mỗi một xóm có một con đường thảng tắp gọi là đường Xóm và mỗi đường xóm có nhiều nhánh đường nhỏ, được chia đều từng lô cho một, hoặc hai ngôi nhà, rất chi là tiện lợi mà xinh đẹp. Tôi cũng không ngờ là từ thuở xa xưa ông bà, tổ tiên ta cũng đã chia ra từng lô đất cân đối như vậy, thật là đáng phục cho các bậc tiền nhân của ta vậy.
Cho đến nay tổ tiên của làng tôi cũng đã trải qua nhiều đời và rồi con cháu từ đời này qua đời khác vẫn thuận hòa với nhau như một đại gia đình vậy. Tuy cũng có một số dân làng đi xa làm ăn, nào là đi lính, buôn bán xa hoặc lên lập nghiệp ở trên tỉnh; nhưng đến ngày Lễ, Tết, chạp mộ thì tất cả đều tề tựu về làng thật đầy đủ…
Mãi về sau nầy từ biến cố mùa Hè đỏ lửa - 1972 , và nhất là sau ngày miền Nam bị mất - 1975; thì phần đông dân làng trước đây sống ở tỉnh nhà (Quảng Trị) đã di dân vào khắp cùng các tỉnh thành ở miến Nam nào là: Nha Trang, Biên Hòa, và Sài Gòn để sinh sống bằng đủ mọi ngành nghề; cũng có một số đông đã di dân vào Cam Ranh số khác vào Long Khánh làm công nhân cao su trong các nông trường cao su thuộc tỉnh Đồng Nai, đa số tập trung về nông trường cao su Cù Bị.
Một số đông ra nước ngoài như: Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Úc Đại Lợi, Nhật Bản, Thái Lan.v.v… bằng đủ mọi cách từ vượt biển, vượt biên hoặc thân nhân bảo lảnh (ODP)…Và sau nầy từ 1990, chính phủ Mỹ đã có chương trình HO dành cho các cựu quân nhân, công chức trước đã phuịc vụ chính phủ Việt Nam Cọng Hòa được đi định cư ở Hoa Kỳ.
Nước Việt Nam ta từ xưa đến nay đều theo hệ thống
tổ chức hành chánh; qua từng triều đại, mà mỗi chế độ đều có cách tổ chức khác
nhau: từ Vùng, Tỉnh, Phủ, HUyện,Tổng Xã
Thôn…Nhưng đến thời Đệ Nhất, Đệ Nhị của Việt Nam Cộng Hòa
thì những tỉnh thành ở trong miền Nam của nước Việt được tổ chức theo chế
độ phân quyền “hàng dọc” từ Trung Ương đến Vùng, Tỉnh, Quận, Xã và cuối cùng là
Thôn. Thôn có thôn trưởng..
Cũng như
những làng khác, làng Bồ Bản cũng nằm trong chế độ tổ chức xã thôn và cũng có
những luật lệ riêng đã được đặt ra do
phong tục tập quán được dân làng tôn trọng. Vì vậy nên mới có câu “phép Vua
thua lệ làng” đã nói lên nét đặc thù của dân làng chúng ta…. .
Làng tôi
có một điểm đặc biệt mà không làng nào có được đó là chỉ một họ Lê duy nhất,
nhưng mà có ba (3) chữ “lót” khác nhau đó là: Đình – Văn - Quang… Cho nên không
biết từ đời nào mà ba (3) chữ lót đó đã ngẫu nhiên trở thành ba (3) Họ…Lê Đình
- Lê Văn - Lê Quang... Và như thế là trai gái có thể kết hôn với nhau (cũng vì
thế mà từ đời nầy qua đời khác con cháu Bồ Bản đã có một sự liên hệ huyết thống
“giây mơ, rễ má” với nhau qua tình thân như ruột thịt vậy.) . Mãi đến về sau có
thêm vài ba gia đình họ Hà, họ Phan từ phương xa đến lập nghiệp rồi nghiễm
nhiên thành cư dân của làng.
Hầu hết
dân làng theo đạo ông bà và Phật giáo; hàng năm có tục lệ cúng thần hoàng vào
những ngày cuối và đầu năm rất linh đình và trang trọng, trong những ngày đó
thì người dân trong làng đều tụ tập về bãi “Âm Hồn” ( Khu “Âm Hồn” … đó chính là “Cồn Rôộc”còn gọi là khu nghĩa địa,
là khu mà xung quanh là “mồ mã” của tổ tiên, Ông Bà và những người thân trong
làng đều được an tang chung quanh khu đất ấy…Và ở chính giữa “Cồn Rôộc” là một khu đất rộng nhô lên thành một hình chủ
nhật lớn gọi là bãi “Âm Hồn”… và bãi “Âm Hồn” mà theo sự hiểu biết của kẻ viết
bài nầy thì (Âm là cõi Âm, và Hồn là những Vong Hồn của những người ở cõi Âm..)
để dâng cúng lễ vật như: bánh mứt, trà rượu, và rồi sau đó thì tất cả những vị
chức sắc và bô lão trong làng đều tề tựu cầu nguyện, hầu mong những vị thần linh,
tổ tiên của làng phù hộ cho con dân trong làng được…thân tâm an bình, sức khoẻ
dồi dào, làm ăn phát đạt và tất cả mọi
việc đèu hạnh thông trong năm tới. (Như
vậy thì bãi “Âm Hồn” có nghĩa là nơi để cúng vái, tế lễ những những
vong hồn của ngưới đã chết vào những
ngày Lễ, ngày Tết của làng vậy..)
Và về những ngày cuối đông đó là những ngày chạp mã của cả làng tôi. Đó là vào những ngày 27, 28 tháng Mười Một Âm Lịch. Đây cũng là một cơ hội để cho tất cả con cháu ở khắp nơi đều trở về làng để tụ hội thăm viếng nhau và đồng thời viếng mộ phần của tổ tiên Ông Bà và những người thân, rồi cùng với bà con ở làng làm sạch sẽ những ngôi mộ (quét dọn hay “xủi cỏ” và đắp đất mới lên những ngôi mộ đã bị đất chuồi hoặc bị hư hại…và sau đó cũng có một buổi lễ cúng tế thật linh đình, do các vị bô lão trong làng chủ tế…nào là xôi, heo gà…Sau đó thì tất cả đều ngồi lại quanh quần bên nhau theo thứ bực tôn tri nhỏ lớn trong giòng tộc hoặc trong làng.. .Cũng nhờ vậy nên con cháu dù có ở xa quê nhà, ít có cơ hội gặp nhau; nhưng vào những dịp như thế nầy cũng gần gũi bên nhau và hơn thế nữa còn được biết những bà con, thân quyến mình theo thứ bậc.. và từ đó tình cảm bà con, xóm làng, được đậm đà hơn lên.…Đó chính là một phong tục tập quán rất hay và hữu ích của dân tộc Việt ta. Hầu để cho con cháu hiểu biết về nguồn cội của mình vậy.
Phần đông
những bậc cha ông trong làng của chúng tôi vào thời Pháp thuộc, đều đi học đến
thi lấy bằng Yếu lược (Élémentaire) hay Tiểu học (Primaire) như ông thân sinh của
tôi chẳng hạn, còn những gia đình giàu có hơn thì cho con vô Huế học tiếp đậu
Trung học (Diplomé) và được bổ đi dạy hoặc
làm công chức. Những ngưòi đậu Diplomé xưa đều giỏi tiếng Pháp và sau nầy thường
được mời dạy Pháp văn, như Giáo Sư Lê Đình Ngân. chẳng hạn.
Cũng như những người trai ở vào thời loạn, nên tất cả những
thanh niên ở vào thời đó đều có lòng yêu nước rất cao; và cũng từ cách suy nghĩ đó nên khi phong
trào Cần Vương dấy lên để ủng hộ Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị , xuống chiếu
chỉ Cần Vương thì tất cả trai tráng trong vùng đều đứng lên chống Tây, sau khi
bị Tây cai trị thì phong trào Cần Vương bị thất bại tuy vậy lòng yêu nước vẫn
còn nung nấu cho nên đã có nhiều người tham gia các đảng phái cách mạng chống
Tây phần đông theo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong số đó có chú ruột của tôi và mấy
người con cháu ông Lại Thản, ông Nghè Ba.v.v…
Và một điều
rất thú vị đã làm cho tôi hãnh diện về Bồ Bản mà tôi không bao giờ quên được…Đó
là từ thuở bé thơ, cho đên bây giờ lúc tôi ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy”; .
Dù đã trải qua cả hơn ½ Thế kỷ, và cũng qua nhiều thế hệ con cháiu, cũng như
theo cuộc thăng trầm của thời thế
Cho nên
vào những thế hệ kế thừa sau nầy thì con cháu Bồ Bản nhờ được hồng phúc của tổ tiên
cho nên: dầu là con cháu của Lê Đinh, Lê
Văn, Lê Quang hay là họ Hà… Cho dù ở tại quê nhà hay ở nước ngoài; tất cả đều
đã được học hành đến nơi, đến chốn, đỗ đạt thành danh;
Ngoài ra
cũng có một số người làm thương mãi. như: kinh doanh, buôn bán, lập hãng xưởng.v.v…
Nói chung là con dân của Bồ Bản ở vào những thế
hệ kế thừa đã thành đạt rất nhiều lãnh vực khác nhau, và luôn cố gắng làm rạng
danh tổ tiên ông bà của mình.
Cũng như những làng ở trong vùng, làng tôi sống nhờ ruộng vườn, hàng năm có hai vụ mùa chính là vụ mùa tháng 3 và vụ mùa tháng 10, ngoài ra còn trồng những hoa màu phụ như: khoai, sắn, bắp, đậu…Nhưng vì đất đai Bồ Bản quá hạn hữu, cho nên đất để trồng lúa chả là bao. Cũng vi đất đai quá ít cho nên lúa ngô không đũ dùng cho hằng năm. Vì thế mà con dân Bồ Bản sinh ra tính cần cù, chăm chỉ làm ăn, và chịu khó đi tìm những nguồn đất mới để khai phá…May mà từ xa xưa kia tổ tiên, ông bà đã tìm được một bãi cát rộng bao la…(Bãi cát đó được nằm ở gần biển Gia Đẳng,cách làng tôi khoảng 5Km, và từ làng tôi phải đi qua làng Lệ Xuyên và sau đó mới đến bãi cát (rộng như một bãi sa mạc) và cũng từ thời xưa cho đến đời con cháu làng Bồ Bản đã biến bãi cát hoang đó thành một bãi đất cát hữu ích, dùng để trồng khoai lang… mà người trong vùng gọi là “khoai độông”, đó là món đặc sản duy nhất trong vùng của hai làng Bồ Bản và Lệ Xuyên.. Vi khi đên mùa (thường là sau Tết) thì dân làng phải tốp 5, tốp 3 đã cùng nhau ra “đôộng” dựng lều, cắm trại để trồng khoai và sau ba (3) tháng thì trở lại “đôộng” để thu hoạch khoai rồi “mớ” thì để nguyên củ, “mớ” thi xắt lát phơi khô (khoai khô) để dùng làm lhức ăn thay thế cơm hoặc ăn độn với cơm *(khoai khô mà nấu với đường đen ăn thật tuyệt vời). Cũng nhờ “khoai độông” đã giúp cho dân làng một phần tương thực không nhỏ trong kinh tế của gia đình. Cho nên cuộc sống của dân làng cũng khấm khá hơn lên…Ngoại trừ có một số gia đình đi xa hoặc lên tỉnh lập nghiệp (như làm nghề tự do, đi dạy, công, tư chức, và buôn bán.v.vv… Thì cuộc sống có vẻ văn minh và khá giả hơn.
Quảng trị cũng có bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông; nhưng thật ra là có hai mùa nắng mưa rõ rệt; nhưng vì mùa mưa đến chậm, thường thì từ tháng 9 đến tháng 12 là mưa nhiều, và trong khoảng thời gian nầy nhiều lúc cũng có bảo, từ biển đông thổi vào, cho nên thường gây những trận lụt lớn; cũng vì thế mà vụ lúa mùa tháng 10 hay bị ảnh hưởng và hư hại lớn, gây nên mất mùa, từ tháng giêng đến tháng 3 gió nhẹ, đôi lúc có mưa lất phất (mưa phùn), khí trời mát, tháng 5 đến tháng 8 thì có gió từ miền hạ Lào thổi về (gió Lào), rất nóng, gây nên hạn hán làm cho đất đai khô cằn, hoa màu vàng úa, không thể đơm bông, trổ nhụy được. Nói chung, là khí hậu miền Trung của chúng tôi rất khắc nghiệt, cho nên cũng ảnh hưởng đến đời sống cùa người bản xứ một phần nào vậy.…
Viết về
làng quê mà không viết về những kỷ niệm tuổi thơ của thời học trò thì đó là một
thiếu sót lớn…
Và khi đã
nói về kỷ niệm, thì tôi đã có những kỷ niệm đẹp và thật dễ thương với làng quê
Bồ Bản tôi, cũng như ở tỉnh nhà Quảng Trị,
Mà những kỷ niệm đó vẫn luôn in sâu vào lòng tôi không bao giờ có thể
quên được… Đó là:
1.- Tuy rằng
tôi được sinh ra ở làng; nhưng từ khi lên 5 tuổi, gia đình tôi phải lên Tỉnh ở để lánh nạn Việt Minh…Vi Ba tôi hồi đó đi
lính“Việt Binh Đoàn”…Cho nên Việt Minh đã áp dụng chính sách tuyên truyền và khủng
bố tinh thần của thân nhân ở làng quê… Nhưng Mệ Nội tôi không muốn lên tỉnh ở với
gia đình chúng tôi, vì Mệ thích không khí yên tỉnh, bình an ở quê. Vì vậy cho nên
ba mẹ tôi phải nhờ con bà Cô về ở để chăm sóc nhà cửa và lo lắng cho Mệ.
Mãi đến
sau khi hiệp định Genève (1954) đất nước chia đôi, chúng tôi mới thỉnh thoảng
trở lại làng để sống với Mệ Nội.
Thời gian
đó tôi còn quá nhỏ để mà có những kỷ niệm “để đời trong lòng mình”. Nhưng dầu
gì chăng nữa tôi cũng còn thoang thoảng nhớ lại được một chút gì đó về thời thơ
ấu của tôi ở làng quê…
Đó là vào
những mùa Hè, tôi đều xin Mẹ tôi về quê sống với Mệ (với lý do là để săn sóc Mệ); nhưng thực ra là tôi muốn về quê để khỏi phải
bị đi học hè và tha hồ mà bay nhảy, vui chơi với những đám bè bạn ở quê. Một điều
mà tôi mãi nhớ là vào mùa hè, thì hình như cứ vào những ngày thứ Bảy hoặc Chủ
Nhật cuối tuần, thì gia đình anh Trợ Khởi thường hay về làng để “sập cu“ với
ông Nghè Ba (chú ruột của anh Trợ Khởi) và những lần như vậy thì cô con gái của
anh Khởi là Diệu Minh hay đi theo Hải (con chị Bảo là em họ của Diệu Minh) để
cùng chơi đùa vói chúng tôi và dần dà Diệu Minh và tôi đã trở thành đôi bạn, và
hai chú cháu chơi thân với nhau lắm…. Thân đến nổi cho đến bây giờ cả hai chú
cháu đều đã “thất thập cổ lai hy”…con cháu đầy đàn và ở hai nơi thật xa quê
hương và cũng ngàn dặm xa nhau từ Canada và Mỹ. Vậy mà hai “đứa tôi” chú cháu vẫn
luôn liên lạc và kể cho nhau nghe những kỷ niệm của thời thơ ấu xa xưa, trong những ngày ở làng Bồ Bản khi hai chú
cháu còn là hai đứa “con nít” đó…Ôi thật là đẹp…đẹp tuyệt vời cho một thời tuổi
trẻ của chúng ta vậy.
Đó là một kỷ niệm để đời của tôi vào thời tuổi trẻ với làng quê thân thương…
2.- Hãy
nói về sông Bồ Bản của làng tôi,. Đó là một con sông rất đặc biệt có dòng nước
trong xanh và ấm mát quanh năm; và được chia làm năm (5) bến nườc theo thứ tự từ
đầu đến cuối làng đó là: bến Chùa, bến Thận, bến Soi, bến Lội và bến Hộ; (ngoài bến Hộ ,bến Lội, bến Soi ra thì bến Thận
và bến Chùa thì giòng nuớc trong xanh, ấm mát và cạn quanh năm, nên có thể lội
qua bên kia sông; và một điểm đặc biệt là về mùa hè thì bà con trong làng vừa tắm vừa“mò” sò, hến
và “xúc” chắt chắt; để về làm cơm hến hoặc nấu canh rau muống, ăn thật
ngon và mát. Vì đó là những món ăn đặc sản
của làng tôi.
Nhưng sau năm 1975, thì sông Bồ Bản đã bị ngăn lại để làm đập thủy lợi, từ đập Trầm chảy về, bắt đầu từ khe (ranh giới giữa Bồ Bản - An Trạch) chảy theo dòng ruộng về giáp với ranh giới làng Lệ Xuyên và từ dó chảy qua xã Triệu Phước…Như vậy, từ khi có đập Tràm, dòng sông Thạch Hản chảy qua làng Bô Bản (sông Bồ Bản) trở nên khô cạn, cho nên dòng nước bị ứ đọng, cũng vì thế mà nước sông đã trở nên ô uế. Và con “hói” nằm giữa Bồ Bản - Vĩnh Lại , để dẫn nước chảy xuôi qua các cánh đồng phia sau của làng Bồ Bàn, Lệ Xuyên, Vĩnh Lại và Tân Định , cũng bị lấp. thế là từ đó… nào là nhà cửa, hàng quán, ruộng vườn.v.v… Đã nằm ở trên con “hói”đó…Bây giờ thì những phong cảnh, những nét đẹp thiên nhiên bên sông, sau “hói”, của thuở nào, tất cả đều đã bị mất hết…
Thật đáng tiếc và buồn thay “cho một dòng sông đã chết…” Và…. ôi..! người dân quê chúng tôi chỉ biết “bắc thang lên hỏi ông Trời..!”
Đối với
những con dân Bồ Bản xa xứ như tôi, thì dầu dòng sông Bồ Bản ngày xưa đó có còn
hay đã mất, thì cũng chỉ là một kỷ niệm; nhưng lại là một kỷ niệm đẹp của thời
thơ ấu, còn in lại trong tâm hồn chúng tôi;…Dẫu rằng, giờ đây chúng tôi đã là
những “ông, bà già” trên dưới bảy, tám mươi tuổi đời hết rồi; và đang sống cách
xa quê nhà đến ngàn vạn dặm và với hy vọng về thăm lại chốn cũ cũng không phải
là dễ dàng gì… Nhưng với những người còn ở lại làng quê, thì dòng sông đó đã
hòa nhập vào cuộc đời, và hầu như đã trở thành một phần tâm hồn của dân làng.
Vì đó chính là mạch sống, là nguồn nước trong lành và tràn đầy sinh khí, của
chính con dân Bồ Bản kia mà….Vậy mà giờ đây đã nghiễm nhiên trở thành “một con
sông chết”.
Đến đây
tôi sực nhớ dến nhà Thơ: Vị Xuyên.- Trần
Tế Xương, vào thế kỷ XIX, đã làm những vần thơ để khóc cho dòng sông:
(theo Lê Văn Khôi đã
viết về làng Bồ Bản của t
“Sông kia rày đã lên đồng
Chổ làm nhà cửa, chổ trồng ngô khoai!”
ôi, trong Tập San Hương Quê của QT.- 2003)
3.- Rồi
vì hoàn cảnh cho nên tôi phải rời xa Quảng Trị, xa làng Bồ Bản thân thương của
tôi vào năm 1959. Tôi buồn , buồn lắm….
Và như thế
là tôi phải theo gia đình vào Sàigòn để được tiêp tục đi học.…
Rồi trưởng
thành và vào đời cũng chính ở Sàigòn vậy….
Với những
tháng năm dài cứ trôi theo thời gian…Tôi đã phải rời xa Quảng Trị, xa làng Bồ Bản
thân thương của tôi. Nhưng tôi vẫn còn lưu luyến với làng quê, với đám bạn; mà
những thằng con trai thì đầu tóc “húi cua”,
còn mặc quần “xà lỏn”, và những đứa con gái thì tóc “cột bím đuôi gà...
chỉ mặc “yếm”… ( một điều đặc biệt là chúng tôi thật “vô tư” chẳng biết “mắc cở”
là gì hết), để mà tha hồ chạy nhảy, đuổi bắt, (hết trên đất, rồi lại nhảy xuống
sông bơi lội, đùa giởn một cách vô tư… Ôi.! tuổi thơ sao mà dể thương và ngây
ngô thế đó… Mãi cho đến giờ nầy thì những kỷ niệm đẹp củ tuổi thơ ấy vẫn còn in
đậm trong trí của tôi vậy.
Tôi cứ tưởng là mình đã thật sự xa Quảng Trị vĩnh viễn rồi chứ….….
Đâu ngờ… Ôi.! chữ ngờ đến thật quá bất chợt, và hình
như tôi còn có “duyên nợ” với Quảng Trị…
Đúng thế,
vì sau khi tôi ra đời và đi làm được một thời gian….Thì ba tôi được đổi về làm
việc ở Quảng Trị. Như vậy là gia đình tôi lại phải dời về Quảng Trị
Và rồi
tôi lại có cơ hội để về thăm gia đình vào những dịp Lễ, Tết… Cũng nhờ vậy mà tôi được quen với Liên Chi…
(một cô gái thật hiền dịu và dể
thương) Và là “Bà Xả” yêu quý của tôi hiện
giờ. (cũng quá bất ngờ…mà tôi nghĩ là “duyên nợ” thì đúng). Từ khi thành vợ chồng thì chúng tôi đã cùng
gia đình sinh sống và lập nghiệp ở Quảng Trị…
Cứ tưởng rằng, mình như một con chim lạc đàn,
đi hoang, giờ đây đã tìm về lại tổ ấm
“Quảng Trị - Bồ Bản” để
mà sống với quê hương, làng xóm và gần gủi với gia đình, bằ con và bạn bè cho hết
đời một con người…Như vậy là quá quý hóa lắm rồi…Ai ngờ,
Ai ngờ…
thật cả một đời người chữ Ngờ nó đến một cách rất chi ư là Bất Ngờ vậy đó…
Từ trận
chiến Tết Mậu Thân – 1968. Mậu Thân 1968, đã gây nên bao cảnh chém. giết, tang
tóc cho người dân miền Nam; nhưng đau thương nhất là nguời dân Huế. …
Tiếp theo
là Mùa Hè Đỏ Lửa- 1972. Với mùa Hè Đỏ Lửa 1972,
thì làng Bồ Bản của tôi đã cũng chịu chung số phận với những thôn làng
chung quanh, đã bị làn đạn của chiến tranh hủy hại, tàn phá hết… Nào là cây cối,
hoa màu thì bị tàn rụi, đất đai, ruộng vườn thì bị bom đạn “xủi” thành những hố
sâu… Bồ Bản đã thành một ngôi làng hoang vu, chỉ còn lại một ít gia đình ở lại
“bám trụ” còn hầu hết dân làng đều tản cư, tứ tán khắp nơi…người thì lên tỉnh,
vào Huế, đi vô trong Nam để trốn tránh bom đạn, cũng như hầu mong tìm được cuộc
sống mới ….
Rồi đến 30-4, 1975 (Tháng Tư Đen). Sau 1975, thì hầu hết con
dân của làng Bồ Bản trước đây sinh sống ở tỉnh Quảng Trị đã di dân, tản mác khắp
cùng các tỉnh thành trong cả nước…nào là Cam Ranh, Nha Trang, Long khánh, Bình
Tuy, Biên Hòa, Sài Gòn và xuống tận miền Tây.v.v.. để sinh sống bằng đũ mọi
ngành nghề.v.v…
Và gia
đình tôi cũng vĩnh viển xa Quảng Trị, xa Bồ Bản làng quê thân thương của tôi từ
tháng năm đó…để nhập theo đoàn người di dân đi tìm cuộc sống mới từ Khánh Hòa -
Nha Trang và rồi Trảng Bom - Đồng Nai -
Sài Gòn …
Và cũng có một số đông ra nước ngoài như Mỹ,
Anh, Pháp, Canada, Úc Đại Lợi, Nhật Bản, Thái Lan.v.v… bằng đủ mọi cách từ vượt biển, vượt biên hoặc
thân nhân bảo lảnh (ODP)…Và sau nầy từ 1990, chính phủ Mỹ đã có chương trình
HO dành cho các cựu Quân Nhân, Cán Chính
trước đây đã phuịc vụ cho Chính Phủ Việt Nam Cọng Hoà mà phần đông đếu ở Hoa Kỳ….
Và chặng đường cuối cùng của gia đình chúng tôi là vĩnh biệt Việt Nam thương yêu…. Thật đớn đau cho Mẹ Việt nam và con dân của Mẹ, cứ vương vào cuộc chiến triền miên, từ năm này tháng nọ cứ nối tiếp nhau.!
Ôi.! Chiến tranh là thế đó…Còn gì dau xót cho bằng…và cũng thật oái ăm thay,…Vì đây là một cuộcchiến quá khắc nghiệt đã xảy đến cho con dân Việt của hai miền Nam - Bắc…đều đành phải dùng chiêu bài bằng hai chữ “Chánh Nghĩa" để mà cố “tương tàn” nhau qua cuộc “nội chiến”. Thật quá đớn đau khi mà con dân trong một nước cũng “da vàng, mủi tẹt”; đành phải trở mặt để mà …thành ra “nồi da, xé thịt”. .. Ôi..! Vong hồn Tổ Tiên nếu có hay biết thì cũng nghẹn ngào… và chỉ còn khóc than cho vận nước...
Chừ ngồi đây để nhớ và viết về “Bồ Bản trong tôi” với những kỷ niệm tuổi thơ….Thật đúng là những kỷ niệm, kỷ niệm không phải là ở vào thời tuổi thơ…mà là cả một đời người của tôi đối với không những Bồ Bản mà cả Quảng Trị than thương và Việ Nam quê hương yêu dấu của tôi giờ đành bỏ lại, đành phải chia xa vặn dặm…Biết bao giờ mà trở về với Bồ Bản, nơi tôi được ra ra và lớn lên, nơi đã ôm ấp tuổi thơ của mình…Thật quá xúc động khi ngồi mà hồi tưởng lại những gì đã qua trong ký ức của mình…để rồi nhớ, rồi thương ..và rồi bùi ngùi tiếc nuối cho một thời tuổi thơ đã qua…
Bồ bãn… nơi chào đời
Bồ Bãn tôi ơi thương lắm
thôi
Quê hương một thuở đã
chào đời
Dân tuy túng quẩn, vơi
cơm áo
Tình tràn huyết nhục, với
mọi người
Bồ Bãn tôi giờ xa diệu
vợi
Lòng luôn mơ tưởng, nhớ
thương thôi
Tháng năm xa vắng, con
bật khóc
Nhớ về quê Mẹ thuở nằm
nôi
Lê đình Cát – 1999
Dầu có ước
ao một ngày nào đó trở về lại quê xưa làng củ để mà sống lại cái thời tuổi trẻ ở
tuổi lên bảy (7) lên mười (10) để mà chơi đùa, chạy nhảy, mà ngâm mình vào giữa
going
sông xanh với làn nước
mát lạnh vào những trưa hè nóng bức, hoặc lúc khi mà vạt nắng đã
xuống thấp, thì những
làn khói lam chiều lan tỏa từ những mái tranh nghèo lúc hoàng hôn …
Và rồi thì đàn trẻ lủ
lượt lùa bò từ ngoài “rú” về chuồng… Và đêm về lại thoảng nghe tiếng chày giả gạo
xn lẩn những câu hò đối đáp giữa trai gái thật là tình tự.…và đầu làng lại vẳng
tiêng chuông chùa vào những đêm rằm với ánh trăng le lói bên những rặng tre dọc
con đường làng…Ôi tuyệt…thật tuyệt vời……
Nhưng đó
cũng chỉ là một mơ ước…Ước mơ thệt vô vọng….
Giờ thì đã xa, xa quá đi rồi…xa cả thời gian lẫn
không gian…đã xa…xa diệu vợi…
Và có còn
nhớ lại chăng thì đó cũng chỉ là hoài niệm. . một hoài niệm đẹp của những “ người” ở vào tuổi “thất thập cổ lai hy” như tôi vậy…
Nhưng cho dù ở đâu chăng nữa…Đã là con dân Việt Nam nói chung, hay là người dân Quảng Trị hoặc là Bồ Bản chúng tôi…Thì chúng ta vẫn luôn luôn nhớ về “quê Mẹ”, nhớ về nơi “chôn nhau, cắt rốn”… Và vẫn mang trong lòng một mơ ước duy nhất. Đó là đến lúc cuối đời được về nằm yên dưới lòng đất thân thương của Mẹ Việt Nam… Nơi chúng ta đã được sinh ra và lớn lên thành người vậy.
Mai khanh Lê Đình Cát
Lake Forest, Đông Kỷ Sửu -2009