Thầy Tôi - Nguyễn Đức
Giáo sư Huy Phương Lê Nghiêm Kính là thầy dạy văn của tôi những năm đệ thất đệ lục tại trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị. Thầy dạy chỉ một thời gian ngắn ngủi, hơn nữa tôi còn quá nhỏ nên cũng không có nhiều kỷ niệm về thầy. Bởi năm học kế tiếp -1960- thầy không đến trường dạy kim văn cổ văn cho chúng tôi nữa. Nghe nói thầy đã xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thầy gia nhập khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức để tư an cư nguy. Thước gươm đã quyết chẵng dung giặc trời. Thầy không dùng gươm mà dùng ngòi bút sắc bén để nói lên chính nghĩa quốc gia, để vạch trần sự bạo tàn phi nhân của quân giặc để động viên ý chí chiến đấu của toàn quân toàn dân, mục tiêu là bảo vệ tổ quốc, xây dựng nền tự do dân chủ cho đất nước.
Hầu như tôi đã quên thầy từ đó. Tuổi
tôi lớn dần lên phần lo học hành thi cử, phần tuổi trẻ ham vui với bạn bè và
với những tình yêu thơ dại nên tình cảm thầy trò chỉ còn trong ký ức mơ hồ phai
nhạt.
Phải đến hơn 10 năm sau khi tôi đã
trưởng thành, đã gia nhập quân đội tôi mới biết chút ít về thầy.Tôi đọc những
bài bút ký chiến trường ký tên Huy Phương và cũng biết thầy và tôi cùng chiến
đấu chung một chiến tuyến, cùng một lý tưởng tự do. Thầy viết báo Chiến Sĩ Cộng
Hòa, báo Tiền Tuyến. Thầy ca ngợi những chiến sĩ anh dũng trên những mặt trận
dầu sôi lửa bỏng như Dakto, Chưpao, Pleimerong, trong đó có sự tham dự của phi
đoàn 118 Bắc Đẩu của tôi. Nhưng chúng tôi vẫn chưa gặp nhau vì xa quá, đơn vị
thầy ở Sài Gòn còn tôi đóng quân tận cao nguyên Pleiku mưa bùn nắng bụi, lửa
đạn ngập trời.
Rồi cũng có ngày thầy trò gặp lại
nhau. Nhưng lại gặp nhau trong một hoàn cảnh cười ra nước mắt. Chúng tôi gặp
nhau tại trại tù Sơn La. Sơn La là một tỉnh biên giới ở miền cực tây bắc nước
Việt. Trại tù lại nằm giữa một thung lũng bốn bên là những dãy núi cao ngất
trời. Mùa hè chín giờ sáng mặt trời mới mọc mà bốn giờ chiều mặt trời đã lặn,
để lại những lớp sương mù dày đặc. Mùa đông thì khỏi nói, chúng tôi như ngồi
trong lòng chảo suốt ngày với mây đen che kín ngang đầu. Đói và lạnh cắt da đã
làm chúng tôi vô cùng khủng hoảng. Nhiều người không chịu nổi đã chết oan khiên
tức tưởi!
Dù mưa dù nắng, chúng tôi phải ra
ngoài lao động. Phần lớn là chặt cây đẵn gỗ, tre nứa làm nhà, hoặc cuốc đất
trồng ngô khoai. Buổi chiều hôm đó tôi vừa vác một bó nứa từ trong rừng đi ra
bờ suối nghỉ chân thì trông thấy thầy đang làm trâu ngựa kéo một chiếc xe cải
tiến chở đầy phân Bắc ra ruộng. Không phải phân trâu bò hay heo mà là một loại
phân người rất quý. Mùi hôi xông lên nồng nặc nên không ai muốn lại gần nhưng
tôi chợt thấy thầy nên mạnh dạn bước tới. Gương mặt thầy tôi không thể nào quên
được tuy đã đổi khác khá nhiều. Nước da thầy đen sạm, ốm nhom, lưng hơi còng
với chiếc áo lính vá ngàn chỗ và chiếc quần đùi trơ ra hai ống chân khẳng khiu.
Thầy của tôi đó. Tôi bước tới chào thầy. Thầy ngạc nhiên dương cặp mắt ngẩn ngơ
nhìn tôi không nói. Chắc thầy đã quên. Mười mấy năm rồi còn gì! Tôi hỏi - thưa
thầy, thầy có nhớ em không? Dĩ nhiên thầy không nhớ, vì hồi đó tôi chỉ là một
thằng con nít 11, 12 tuổi nhà quê chân đất chưa biểu lộ một chút cá tánh gì đặc
sắc. Hơn nữa, thời gian đã thay đổi nhiều và cũng bởi tôi mặt mày lem luốc,
quần áo xác xơ như một thằng ăn mày làm sao thầy nhận ra. Cuối cùng thầy trò
cũng nhận ra nhau sau một hồi nhắc nhở.
Chắc thầy cũng như tôi xúc động nhiều trong phút giây gặp mặt ngỡ ngàng không hẹn ước này nên sau đó tôi đã trở thành nhân vật chính trong bài thơ “Dạ thưa thầy, thầy có nhớ em không?”của thầy.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước độc rừng sâu
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
Dạ thưa thầy, thầy có nhớ em không?
Thì ra chúng tôi cùng một trại tù
nhưng khác đội. Tôi làm ở đội cày còn thầy ở đội rau xanh. Rau bón với phân
người tươi xanh nhưng cũng chỉ dành riêng cho cán bộ, cũng như tôi làm ra lúa
gạo nhưng chỉ được ăn khoai sắn thay cơm. Vậy cũng là nhân đạo lắm rồi, theo
lời lý giải của bọn cán bộ!
Những chiều chủ nhật tôi và thầy
cùng Phan Bá Phúc (cũng học sinh Nguyễn Hoàng) luộc hột mít đem ra gốc cây sát
bờ rào ngồi ăn. Hột mít chúng tôi xin những bạn tù có thân nhân thăm viếng mang
vào. Câu chuyện tẻ nhạt vì thầy hơi yếm thế bi quan. Thằng Phúc thì nghe tin vợ
bỏ nên cũng buồn thiu ít nói. Chỉ còn có tôi, dù buồn, nhưng cũng khuyến khích
hai người rán sống rồi một ngày cũng có cơ hội trở về. Nói thì nói vậy nhưng
tôi cũng không tin họ sẽ tha mình. Họ thâm độc tận cùng ! bắt chúng tôi làm
việc khổ sai mỗi ngày 12 tiếng, ăn khoai sắn khô nhưng cũng chỉ để kéo dài sự
sống cho đến khi chết vì kiệt sức. Chỉ có điều, tôi chưa vợ con nên cũng nhẹ
gánh lạc quan hơn. Ba thầy trò chia nhau từng mẩu khoai, từng cọng rau ngọn cỏ
kiếm được. Coi như giúp nhau một hơi thở để sống còn.
Tháng 6 năm 1981 Phúc và thầy Kính
được chuyển vào Nam còn lại tôi chơi vơi một mình. lúc này tôi tự coi mình như
đã hết đường về, không còn lo lắng gì nữa. Bởi tôi đã hết niềm tin. Về hay
không chẳng còn gì để nói. Thế nhưng, bất ngờ năm 1983 họ đã thả tôi về.
Tôi gặp lại thầy năm 1992 tại
California khi đi dự đám cưới con gái thầy. Lúc này thầy đã lại hồn, tươi trẻ,
yêu đời hơn. Tình cảm thầy trò lại càng thắm thiết. Chúng tôi hay lại thăm nhau
cuối tuần vì ngày thường chúng tôi đều bận bịu công việc. Cuộc sống ở đây gần
như cái máy chạy quần quật suốt ngày đêm, để có tiện nghi sinh hoạt và chuẩn bị
tương lai cho con cái.
Tôi càng mừng vì thầy đã có đủ năng
lực trí tuệ để viết sách viết báo. Thầy viết rất năng nổ, rất tinh tế sâu sắc.
Những câu chuyện xoắn sâu vào mặt trái xã hội được rất đông người đọc ưu thích.
Tác phẩm nào thầy cũng tự tay đem đến tặng tôi, thầy biết tôi bận đủ thứ
chuyện. Đi làm full time đi học full time thì không còn thì giờ đâu nữa. Nhưng
tánh thầy hơi hờn mát, hơi lâu không đến hoặc gọi thăm thầy là thầy trách móc
vì thương thằng học trò có nghĩa có tình.
Viết những dòng kỷ niệm này là lúc
thầy gần kề sân ga cuối đời. Nhớ quá phải không thầy. Dù sao thì chúng ta cũng
đi qua bao nẻo chông gai của đường đời. Thầy hãnh diện đã để lại cho đời những
đứa con yêu quý, những tác phẩm còn mãi mai sau và tình cảm không bao giờ phai
nhạt của tình thầy trò chúng ta. Mong thầy bình yên.
Bây giờ, thầy đã trở về với cát bụi để lại bao tiếc thương nơi những người thân yêu. Nguyện cầu hương linh thầy sớm tìm nơi an lạc.