Gái Kinh - Hoàng Long Hải
(Chuyện kể trong tù)
“Bao nhiêu đêm Chúa xuống nhân gian
Bấy
nhiêu lần ...
gởi Nhân và Quang Hy
Năm
giờ sáng ngày Noel, “kiểng tù khua gắt gỏng” lại dóng lên, ai nấy thức dậy, chờ
“cán bộ công an” đến “mở cửa chuồng”, điểm danh, ăn sáng - nói vậy cho sáng một
chút, chớ bữa ăn sáng chỉ là một củ khoai lang, một khúc khoai mì, hoặc mấy lát
khoai mì – và chuẩn bị ra sân trại, ngồi sắp hàng theo từng đội để đi “lao động
là vinh quang, cuốc là số một”.
Chỉ
mới hai ngày sau Đông chí, trời còn lạnh, lại có sương mù, nên đã quá giờ đi
làm mà “cán bộ quản giáo”, “vệ binh” vẫn chưa vào dẫn tù cải tạo ra bãi. “Cán
bộ trực trại” lấp ló ở cổng, chưa vào gọi tên từng đội như lệ thường.
Một
anh chàng còn trẻ, đội của Triết cứ loay hoay. Anh ta nói:
-
“Đ.m. Tới giờ rồi sao tụi nó chưa gọi?”
Một
anh nào đó, trả lời:
-
“Chưa gọi thì ngồi chơi, mắc chi loay hoay như gà mắc đẻ, sợ không đạt chỉ
tiêu, “cách mạng không khoan hồng nhân đạo” hả?”
Lại
có người mai mỉa:
-
“Nước sông công tù”, hơi đâu lo xa.
Người
nói hồi nãy lại bồi thêm:
-
“Trời còn mù. Bộ mày muốn đi làm sớm để trốn trại hả? Tụi nó biết tỏng bọn mình
chỉ chực trốn trại, không dại gì trời còn mù tụi nó cho tù ra bãi đâu!”
Triết
nghe mấy bạn tù nói chuyện, nhưng anh ta không chú ý. Anh đang nhớ tới câu thơ
“Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa, Tôi ở trong đây chẳng có mùa…”
Và
Triết say sưa hát. Nhìn Triết, người ta thấy tâm hồn anh như đang bay bổng theo
“Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng
bừng...” Triết hát không hay lắm, nhưng cũng đủ để cho nhiều người ưa nghe,
nhất là những ngày như hôm nay. Lễ Noel thường làm cho người tù cảm thấy cô
quạnh. Ai cũng xa: cha mẹ, anh em vợ con... đều xa, chỉ còn lại quanh đây những
người bạn tù, cũng cô đơn và buồn bã như nhau. Mấy hôm nay, gần đến ngày Chúa
giáng sinh, những người tù trong đội Triết thường hát những bài hát về lễ Noel,
về “Đêm đông lạnh lẽo” vì Chúa sinh
ra trong đêm đông lạnh... lắm, và chính họ, cũng đang lạnh trong tù? Họ hát nho
nhỏ, vài người chung quanh có thể nghe được, chớ “cán bộ công an” thì không.
Tôn giáo bị cấm kỵ trong trại tù, không ai được giữ kinh sách, thánh giá hay
tượng Phật, cầu kinh hay hát những bài ca tôn giáo... và ngay cả hôm nay, ngày
lễ Noel.
Hai
năm trước, kể từ khi được chuyển về “Trại Đá” nầy, đội của Triết bị giam chung
với nhiều đội khác, cũng thuộc loại “trừng giới” như đội của Triết. Tất cả đều
là “không an tâm học tập cải tạo” như “cách mạng yêu cầu”, “khả năng trốn trại
rất cao”. Đó là lý do tại sao các thành phần nầy bị đưa vào “Trại Đá”. Các đội
đó thuộc thành phần lớn tuổi hơn, “đóng tiền đi ở tù”, không thuộc loại “Phục
Quốc” như đội của Triết.
Gia
nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Triết mãn khóa Thủ Đức gần cuối năm 1973, tới
tháng Tư năm 1975, sắp sửa lên thiếu úy thì “đứt phim”, thành ra Triết còn mang
“lon” chuẩn úy “được học tập 15 ngày tại chỗ” cùng với các hạ sĩ quan.
Tuy nhiên, nghĩ tới chuyện
“mất nước” một cách tức tưởi, bầu máu nóng trong người Triết vẫn còn sôi sục,
Triết tham gia “Phục Quốc” một cách mau lẹ, đầy nhiệt tình. Công cuộc “Phục
Quốc” của Triết và các bạn chưa bao lâu thì cả bọn bị bắt, bị tù. So với các sĩ
quan trình diện, số năm tù của Triết không kém thua bao nhiêu!
Ở
tù càng lâu, nỗi nhớ nhà của Triết cũng “mờ” dần đi. Chưa vợ con gì cả, cha mẹ
tuy già nhưng có các anh chị lo, Triết thấy ở tù đông bạn bè, nên cũng... vui.
Tuy nhiên, những ngày lễ tết, nhớ thời gian Triết còn nhiều vui chơi và nhiều
kỷ niệm khi còn trẻ, làm Triết xao xuyến trong lòng. Từ khi lớn lên, đối với
Triết, “Saigon Noel” bao giờ cũng vui. Khi còn niên thiếu thì “đi chơi Noel”,
khi đã lớn, những năm ở đại học, thì đi “bal Noel”, những cái bal từ trước nửa
đêm cho đến trưa hôm sau, Triết cũng chưa về đến nhà.
Cũng
mấy năm nay, mỗi kỳ Noel đến, Triết và các bạn còn tổ chức “hát nhạc Noel” sau
khi “vào chuồng” ít lâu. Một người canh “cán bộ công an” đi tuần, còn lại thì
tụ tập nhau mà hát, ngoài “Đêm Thánh vô
cùng” còn có “Đêm Đông lạnh lẽo”,
“Bài Thánh ca buồn”, “Giáo đường im bóng”,... Với bọn Triết, và cũng như
bao nhiêu đồng bào miền Nam, ở Saigon và các đô thị lớn, Noel là dịp vui,...
không phân biệt người có đạo hay không có đạo. Nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Kỳ Đồng
đông nghẹt người đi, còn đông hơn các nhà thờ ở Hố Nai, Gia Kiệm, mặc dù số dân
có đạo Thiên Chúa ở Saigon ít hơn người có đạo ở các vùng dân di cư nói trên.
Đó
là dịp vui, Triết hòa chung cái vui ấy với bạn bè, mặc dù, cũng như số đông bạn
của Triết, họ chưa từng “rửa tội” bao giờ.
Kỷ
niệm đáng nhớ nhứt về Noel của Triết là năm đón Noel ở một vùng quê, kinh 1,
Dinh Điền Cái Sắn, một nơi khi còn đi học, Triết ít khi nghe nói tới huống gì
anh trãi qua một đêm Noel ở đó.
Tháng
11 năm 1973, Triết ra trường Thủ Đức, “lon” chuẩn úy mới toanh, Triết về Rạch
Giá trình diện tiểu khu Kiên Giang. Đang loay hoay chờ ra đơn vị thì ông trung
tá tiểu khu phó tổ chức party mừng chiến thắng ở Tà-Keo, vớt được hơn năm chục
cây AK, đuổi một đơn vị cấp tiểu đoàn của Cộng sản Bắc Viêt xâm lược khiến
chúng phải “chạy có cờ” ngược về mật khu Trà Tiên.
Trong
chương trình văn nghệ hôm đó, Triết thấy hưng phấn, lên sân khấu hát bài “Chuyện người trinh nữ tên Thi”. Triết
hát không tệ, nên cũng được khán giả hoan hô.
Sáng
hôm sau, thượng sĩ Tân, thuộc ty An Ninh Quân Đội, tìm gặp Triết, đề nghị:
-
“Cha Lộc ở Kinh 1 mới xây xong nhà thờ. Ông đang lo tổ chức Noel năm nầy thật
lớn để khánh thành nhà thờ của cha. Chuẩn úy giúp cha phụ trách văn nghệ được
không?”
Triết
nói:
-
“Tôi đang chờ đi đơn vị, làm sao giúp cha được?”
-
“Dễ thôi! chuẩn úy chịu giúp, cha sẽ xin với ông Tiểu khu trưởng, công tác ở
trong kinh khoảng nửa tháng, xong lễ thì về lại tiểu khu, ra đơn vị cũng còn
kịp chán.” Ông ta lại đùa: “Không ai chờ chuẩn úy ở chiến trường đâu!”
Triết
thấy vui vì được làm văn nghệ, đồng ý với ông thượng sĩ, nhưng anh cũng băn
khoăn một chút vì không biết ông cha nhà thờ muốn Triết làm việc gì. “Văn nghệ
đêm Noel”, Triết có biết nhờ tham gia với bạn bè, nhưng đứng ra tổ chức văn
nghệ thì chưa từng làm bao giờ.
Thay
vì ra đơn vị, Triết “trình diện” linh mục Nguyễn Bá Lộc ở nhà thờ Kinh 1, Cái
Sắn.
Ăn
cơm trưa xong ở tiệm “Tầm Hương Quán” chợ Kiên Tân, Triết ra bến đò tìm ghe vào
nhà thờ Cha Lộc. Một người chạy ghe “tắc ráng” đứng ở đằng đuôi, cầm máy, hỏi
Triết:
- “Chuẩn uý là con cha Lộc phải không? Xuống đây,
tôi đưa vào, miễn phí”.
*
Cha
Lộc ngồi với Triết ở phòng ăn. Cha nói:
-
“Mấy năm nay không làm văn nghệ. Không có người tổ chức. Năm nay, khánh thành
nhà thờ, cha nhờ chuẩn úy giúp cha.”
Triết
nói:
-
“Con sẽ cố gắng. Cha có ca đoàn không?”
-
“Có.” Cha Lộc trả lời.
-
“Ca đoàn là “lực lượng” nồng cốt để hát và làm kịch. Không cần họ hát hay lắm,
điều cần là họ quen hát. Kịch thì tập nhiều cũng quen. Cha có phương tiện hóa
trang không?”
-
“Có một ít.” Cha Lộc nói. “Cha để trong kho. Cần thì chuẩn úy vào kho chọn. Cần
lắm thì xuất tiền mua. Cha cũng nghèo.”
Nghe
câu đó, Triết cười, nghĩ cha làm một cái nhà thờ vĩ đại như thế nầy, cha không
nghèo đâu, nhưng cũng thấy thương cha, hết lòng lo việc đạo.
Môt
lúc, Cha Lộc nói tiếp:
-
“Chốc nữa, trung đội trưởng nghĩa quân của cha sẽ chỉ cho chuẩn úy phòng ngủ
riêng. Ăn uống thì ăn chung với cha.”
-
“Vâng, cũng tiện, nhưng con muốn biết thành phần ca đoàn như thế nào?”
-
“Phần đông là học trò trường trung học của cha. Trường bên kia kìa.” - Cha Lộc
chỉ tay ra hướng Kinh 1 -. “Chuẩn úy chọn đứa nào thì tùy ý.”
-
“Tập buổi chiều, sau giờ học, được không cha?” Triết hỏi.
-
“Vậy thì tốt. Học xong chúng nó qua đây với chuẩn úy. Cần thì cho chúng nghỉ
học sớm một chút.”
Vậy
là ngày hôm sau, Triết bắt đầu công việc của mình. Anh tập họp ca đoàn, biểu
chúng hát thử một bài quen thuộc để biết khả năng của chúng, của từng người.
Ngày hôm sau nữa, Triết phổ biến khái quát chương trình cho các em trong ca
đoàn biết.
Chương
trình gồm một vở kịch, hai hài kịch, một số bài “thánh ca” quen thuộc, vài bản
đơn ca mà Triết sẽ chọn người sau. Ba buổi chiều liền, Triết tập họ hát các bài
“thánh ca” họ đã từng hát, công việc suôn sẻ.
Trưa
thứ bảy và chủ nhật, ngày nào cũng tập. Hôm thứ bảy đầu, bỗng có một cô gái khoảng
16 hay 17 tuổi xuất hiện. Cô cũng là “con của cha Lộc”. Hỏi ra, Triết biết thêm
cô là học sinh lớp Mười trường Trung học Kiên Tân vì trường của cha Lộc chỉ có
cấp hai, trước cô gái cũng ở trong ca đoàn. Thấy các bạn của mình đang tập văn
nghệ, cô ta đến chơi.
Cô
gái khá dễ thương, không đẹp lắm, mặt trái xoan, da trắng hồng, mắt to và sáng,
tóc buông sau vai, không kẹp hay thắt bím, áo màu thiên thanh.
Sau
khi ca đoàn hát vài bài, giờ nghỉ, Triết hỏi cô ta:
-
“Sao em không tham gia? Các bạn ở đây có ai lạ đâu?”
-
“Buổi chiều, em về trễ, không tham gia kịp.”
Triết
nói:
-
“Để tôi sắp xếp lại. Tôi sẽ chọn cho em những vai riêng. Được không?”
-
“Được.” Cô ta cười, trả lời.
Hôm
sau, Triết sắp lại chương trình. Với bài “Đêm
Thánh vô cùng”, phải có một người đứng phía trước ca đoàn, hát mở đầu, bằng
tiếng Anh. Sau đó, ca đoàn hát hát theo, bắt đầu lại từ câu đầu, bằng tiếng
Việt. Người hát mở đầu là Nhân, tên cô gái. Cô cũng đóng vai người mẹ trong vở
kịch “Từ Nazarét, Người trở về.” Cũng
may, Nhân học tiếng Anh đã mấy năm ở trung học, nên cũng hát được nhuần nhuyễn
các câu: “Silent night! Holy night! All
is calm, all is bright! Round yon virgin mother anh child! Holy infant so
tender and mild! Sleep in heavenly peace!...”
Hai
hôm trước ngày trình diễn, họa sĩ Tr. Nội, người được cha Lộc mời vẽ hình các
thánh chung quanh bàn thờ Chúa, từ Saigon về dự lễ. Về vở kịch, họa sĩ giúp
Triết hóa trang cho các em và trang điểm cho Nhân.
Buổi
văn nghệ diễn ra đêm Noel, trước lễ nửa đêm. Cha Lộc đã dùng hai lớp học liền
nhau để làm hội trường mà vẫn không đủ chỗ cho khán giả. Nhiều người phải đứng
ở cửa sổ, của lớn để xem. Đêm văn nghệ thành công, được công chúng khen. Người
được khen nhất lại chính là Nhân. Người ta không ngờ ở vùng kinh rạch quê mùa
nầy, lại có người đẹp như thế, một “người mẹ hết sẩy” như lời người ta nói với
nhau và đóng kịch “hay không kém tài tử hát bóng”.
Triết
vui với thành quả ấy và lại không ngờ một cú sấm sét đánh vào lòng anh.
Lúc
đầu, Triết chỉ thấy Nhân dễ thương, phúc hậu. Cặp mắt cô ta lôi cuốn Triết,...
nghĩa là chỉ những tình cảm bình thường như người ta thấy một bông hoa đẹp. Dần
dần, vì việc tập hát, tập kịch, trao đổi ý kiến, chuyện trò, Triết thấy cô ta
có những cái đáng yêu hơn. Chân thật là điều thứ nhất. Cô ta thường để ý chăm
sóc cho người khác, như với cha Lộc và các em nhỏ, cả gái lẫn trai trong ca
đoàn. Cô ta, như một người chị tử tế của các em, vui vẻ với tất cả mọi người.
Tính tình ấy khiến Triết có cảm tình với cô ta nhiều hơn. Rồi Triết thấy yêu
Nhân, từ lúc nào cũng không hay, dù thời gian gặp nhau rất ngắn ngủi.
Biết
mình sắp rời khỏi Kinh 1, sau khi công việc chấm dứt, Triết định bụng sẽ tỏ
tình với Nhân, một cô gái còn vị thành niên. Cũng không ngại, Triết nghĩ như
vậy vì Triết thật lòng.
Sau
lễ nửa đêm, cha Lộc mời tất cả các thành viên trong ban văn nghệ, ăn tiệc tại
phòng diễn kịch. Dĩ nhiên, Triết được mời tham dự. Trong suốt thời gian đó,
ngồi cạnh cha Lộc, Triết cứ thấp thỏm, không biết làm thế nào, ít ra, cũng phải
nói một điều gì đó với Nhân, dù không thể là lời tỏ tình. Mọi người ai nấy đều
vui vẻ chuyện trò, Triết cũng tham gia với họ, với cha Lộc, nhưng Triết thấy
mình không thể “định tâm” được khi nói chuyện với họ.
Mãi
tới gần cuối tiệc, thấy Nhân đi ra ngoài, Triết đi vòng lui phía sau sân khấu,
chỗ đó có cửa lớn ra phía hành lang lớp học. Triết hy vọng Nhân sẽ đi ngang qua
đó.
Quả
đúng như Triết dự đoán, phút chốc trên đường trở lại bàn tiệc, Nhân đi ngang
cửa sau, chỗ Triết đang chờ.
Triết
gọi nhỏ:
-
“Nhân!”
Cô
ta dừng lại, phía ngoài cửa. Triết đứng phía trong, nói:
-
“Vào đây!”
Cô
ta bước vào phía trong.
Trong
một giây vừa mừng rỡ, vừa ngại ngùng, nôn nóng vì sáng mai Triết sẽ rời xa nơi
nầy, anh liều lĩnh vòng tay ôm ngang vai Nhân. Trong cái hơi lạnh đêm đông lúc
quá nửa khuya, Triết cảm nhận rất rõ đôi vai của Nhân mềm và ấm. Nhân kêu lên,
hốt hoảng:
-
“Lạy Chúa tôi. Đừng, chuẩn úy ơi! Em sợ lắm.”
Triết
chưa kịp nói gì thì Nhân run run nói tiếp:
-
“Anh! Lỡ ai thấy thì chết. Cha, ba mẹ em...”
Nghe
nói “ba mẹ em”, Triết cũng thấy sợ. Họ đang ngồi phía ngoài, chỗ bàn tiệc.
Chàng buông tay ra, nhưng rồi lại như tiếc nuối, anh vòng tay ôm ngang vai Nhân
một lần nữa. Nhân lại hốt hoảng: “Lạy Chúa tôi!”. Rồi Triết nhận rất rõ, tuồng
như Nhân không còn hai chân, cô ta quỵ xuống và thân thể cô vuột khỏi hai tay
Triết, té xuống đất, mình va vào cánh cửa lớp, gây nên một tiếng động nhẹ.
Triết
hốt hoảng la lên: “Ối giời!”
Phía
ngoài bàn tiệc, cha Lộc hỏi lớn:
-
“Cái gì thế?”
Triết
nói ngay: “Cô Nhân té”. Vừa nói, Triết đỡ Nhân đứng lên, cũng vừa kịp lúc cô ta
tỉnh lại. Rồi vịn vách tường, Nhân đi ra phía bàn tiệc.
Cha
Lộc hỏi:
-
“Can gì không?”
-
“Không! con không can gì cả!”
Triết
đã ra đứng bên cạnh cha Lộc. Anh thấy rõ mặt Nhân “xanh như tàu lá”. Anh nói
tiếp:
-
“Con thấy cô ta vấp cái gì đó, té nhẹ thôi. Không can gì cha.”
Trong
khi nói câu đó, Triết thấy Nhân nhìn anh ta. Triết không hiểu cái nhìn của Nhân
như thế nào: Cám ơn đã nói dối giúp cô, hay trách oán hành động của anh.
Từ
khi trở về phòng ngủ cho tới sáng, Triết cứ chập chờn như thức như ngủ. Lòng
Triết rối bời. Triết nhớ tới những đêm Noel anh đi bal ở Saigon, trước khi nhập
ngủ. Những đêm Noel uống rượu, nhảy đầm suốt sáng. Xong rồi, anh và một cô
Saigon nào đó, quen đã lâu hay vừa mới quen, đưa nhau vào khách sạn, đến trưa
hôm sau mới chia tay. Những chuyện tình bất chợt ấy, nhanh và dễ dàng quá sức!
Một cái nhìn, một cái nắm tay, vài lời nói đùa, rồi đưa nhau đi tới đâu đó,
thiên thai, bồng lai hay cái gì khác nữa... ở trong phòng ngủ khách sạn. Rồi
chia tay, rồi hôm sau gặp nhau rất bình thường, tưởng như không có gì đã xảy ra
cả.
Triết
hiểu một cách rõ ràng sự khác biệt giữa một cô gái quê, một cô gái quê của một
xóm đạo trong kinh, và một cô gái tỉnh thành, lại là dân Saigon. Sự run rẩy,
hốt hoảng, và sợ hãi đến bất tỉnh của Nhân khiến Triết nhớ đến sự thành thạo
trong lúc yêu đương của những cô gái đã đi qua đời Triết làm anh băn khoăn
không ít. Rồi ngày mai, khi Triết rời khỏi ấp kinh 1 nầy, anh sẽ nghĩ gì về
Nhân và những cô gái anh đã gặp trước kia, tuy Triết không so sánh, chọn lựa vì
anh chưa nghĩ tới việc lấy vợ.
Sáng
hôm sau, ăn sáng xong, mang “balô” lên vai, Triết chào từ giã cha Lộc, xuống
chiếc xuồng máy của cha, sẽ có người chạy ghe đưa Triết ra quận lỵ. Ở đó, Triết
sẽ đi xe đò về Rạch Giá, chờ lệnh mới.
Cha
Lộc tiễn Triết ra tận bến đò, không tiếc lời cám ơn anh.
Khi
chiếc xuồng rời bến, máy nổ xành xạch, Triết thấy Nhân, cũng mặc chiếc áo màu
thiên thanh như thường lệ, đứng giữa các bậc cấp bến nước trước trường trung
học, - (rụt rè, run rẩy hay yếu đuối?) - đưa tay vẫy Triết. Anh cũng vẫy lại và
cố nhìn rõ mặt Nhân. Anh thấy hai con mắt to và buồn, nhìn theo anh. Anh đoán
chừng Nhân ra đứng đó để tiễn anh. Rồi bóng Nhân khuất sau bờ cỏ rậm của con
kinh.
*
Tình
hình chiến sự đầu năm 1975 càng lúc càng căng. Triết được tăng cường cho chi
khu Hiếu Lễ. Quận Hiếu Lễ nằm ở vòng đai mật khu U-Minh.
Vùng
nầy địch hoạt động rất mạnh. Chi khu và quận đóng chung, bị địch pháo kích mỗi
ngày 24 giờ. Quận trưởng kiêm chi khu trưởng là thiếu tá Hùng, quê ở Cái Sắn,
vừa thay chỗ trung tá Trương Cuội, giải ngũ. (1)
Khi
trung tá Trương Cuội còn giữ chức vụ ở đây, Dziệt Cộng pháo kích ít hơn. Triết
được biết vì hai lý do: Một là vì trung tá Trương Cuội phản pháo rất
chính xác khiến địch nhiều lần bỏ súng lại, lo tản thương, mặc dù chúng đã đề
phòng trước. Trung tá Cuội cũng không phải là người rành đọc bản đồ. Ông không
cần bản đồ. Ông sinh trưởng vùng nầy, làm quận trưởng từ khi còn mang “lon”
trung úy tới trung tá mới thôi. Địa thế ở đây, từng cái kinh như kinh thứ nhứt,
kinh thứ ha, cho tới kinh thứ 8, kinh thứ 9,... “Miệt thứ” là bản quán của
trung tá Trương Cuội, tưởng như khi nhìn vào bàn tay mình là trung tá Cuội thấy
rõ Việt Cộng ở đâu. Chỉ cần nghe thuộc cấp báo cáo địch đặt súng ở kinh thứ
mấy, “cách vàm” bao xa,... thế là trung tá Cuội ngồi xuống bên cây “moọt” 60
ly, điều chính bằng tay, theo cách đoán chừng của trí óc, không cần bộ phận máy
móc nào cả, ông “nã” đạn vào phía địch với độ chính xác đủ để cho địch không bỏ
xác cũng bỏ chạy. Cũng theo người ta nghĩ, có một sự trao đổi nào đó giữa ông
ta và “phía bên kia”, nên địch tuy có pháo kích ngày ba lần, rất đúng giờ...
Rồi thành thói quen, cứ đúng giờ, “phe ta” vào hầm trú ẩn trước, nên chẳng mấy
ai thương tích gì nhiều.
Khi
Triết về chi khu, tình hình cũ không còn. Giữa tháng 3, trung đoàn 33 hoạt động
vùng nầy, Việt Cộng lo chém vè hơn quấy phá chi khu.
Nhân
dịp trung tá trung đoàn trưởng về Rạch Giá, Triết liều mình quá giang trực
thăng của ông mà không xin phép vắng mặt của đơn vị trưởng. Có một điều Triết
chưa từng gặp, chưa từng có trước kia là sự nôn nóng, nhớ nhung và buồn bã anh
đã dành cho Nhân.
Triết
bươn bả ra cổng Tam Quan, chờ xe quân đội đi ngang, xin quá giang về Kiên Tân,
vội vàng vào kinh 1, nhưng Nhân đã về Xóm Mới Saigon cùng với mẹ. Triết lại vội
vàng tìm cách trở lại Rạch Giá, cho kịp chuyến trực thăng của ông trung tá
trung đoàn trưởng về lại Hiếu Lễ. Triết trải qua một ngày vất vả, lo lắng chưa
từng có bao giờ!
Thế
rồi 30 tháng Tư, Triết về Saigon.
Với
những nỗi uất hận của một sĩ quan trẻ, Triết tham gia Phục Quốc và ở tù.
Từ
đó, mỗi năm, khi trời bắt đầu se lạnh, mây đen giăng kín bốn phương trời, với
tiếng chuông nghe được bằng tai từ một nhà thờ nào đó, gần trại tù vẳng lại,
hay nghe bằng tâm tưởng, từ trong tiềm thức, Triết hát lại những bài ca Noel đã
thuộc, và Triết quay quắt nhớ tới Nhân, nhớ đôi vai mềm anh đã vội vã và liều
lĩnh ôm lấy khi anh và Nhân đứng phía sau hậu trường sân khấu, nhớ tiếng kêu
hốt hoảng của Nhân khi ấy và cặp mắt dõi theo Triết khi anh ngồi trên chiếc
“tắc ráng” rời ấp kinh 1...
Triết
không hy vọng gặp lại người cũ bao giờ!
hoànglonghải
Ghi chú của tác giả:
Noel năm 1972, tôi và nhà tôi vào dự lễ Noel
nửa đêm tại nhà thờ kinh 1, Cái Sắn của linh mục Nguyễn Bá Lộc, gặp một ông
chuẩn úy còn trẻ lắm, đẹp trai, hát hay, người tổ chức văn nghệ ở nhà thờ hôm
đó.
Gần mười năm sau, 1981, tại “Trại Đá”, cũng dịp
Noel, mỗi sáng sắp hàng đi làm khổ sai, lại thấy vài ba anh còn trẻ, trong số
có một ông cựu chuẩn úy, cũng bị tù cải tạo vì tội “Phục Quốc”. Họ sắp hàng ngồi bên
cạnh đội của tôi, hát nhạc Noel một cách say sưa và hào hứng.
Những bài “thánh ca” trong tù làm tôi nhớ tới
đêm Noel năm 1972 nên tôi viết truyện ngắn nầy.
(1) Sau 30 tháng Tư, trung
tá Trương Cuội bị Việt Cộng xử bắn tại sân vận động Rạch Giá.