Cơn Động Kinh - Châu Thạch
(Viết năm 1968 sau tết Mậu Thân)
Ngày chủ nhật quân trường
cho nghỉ phép. Thụy về với Kha, người bạn văn chương xưa kia cùng ở chung nhau
trong căn nhà thuê trọ tại khu Bàn Cờ thành phố Sài Gòn.
Ngồi trên bao lơn của căn nhà cũ, ngọn đèn khuya phủ xuống mặt đường dưới kia lặng lẽ. Trên cao, ngọn đèn như một con mắt bình thản. Thụy nghĩ đến một sân chùa rợp bóng và đời sống trầm tư của vị sư già. Ngôi chùa Tỉnh Hội quê nhà vụt hiện rõ trong ký ức, đem lại cho chàng hình ảnh một cổng tam quan rêu mốc, một bãi cát rộng và một dòng sông lững lờ nằm ven chân thị xã bé nhỏ.
Thị xã hiện dần trong trí nhớ Thụy
như một cuốn phim không nhạc đệm, rõ dần từng mái nhà, từng góc phố, từng con
đường và những ngôi trường thân yêu có tên Bô Đề, Nguyễn Hoàng một thời chàng
theo học, rõ dần ngôi chùa nằm đầu thị xã, kể theo hướng đông tây. Thị xã với
những con đường nhỏ hẹp, con đường với những tiệm buôn bình thường và những
quán bún bò ngon nhưng hơi lụp xụp, đem đến cho Thụy những ước ao trở lại, như
ước ao trở lại một giấc mơ êm đềm còn nuối tiếc.
Thụy nhớ đến ly cà phê quán Ông
Tàu. Tô bún bò Mụ Ba mà dư vị theo chàng suốt trong các mùa thu, mùa đông xa
xứ. Còn gì ngon hơn khi nếm một muỗng nước bún ngọt lịm, trong veo, hít hà
hương vị cay nồng của ớt, rồi nhìn Thương ngồi trước mặt gắp từng con bún như
nâng niu trước khi cho vào miệng. Thị xã với những lần Thụy và Thương cùng ăn
với nhau như thế, bên nồi nước lèo bốc khói, và những lần đưa Thương đến mái chùa
Tỉnh Hội, nàng và mẹ đọc kinh ê a, trong khi chàng say mê nhìn trộm đôi môi
nàng lẩm nhẩm. Thị xã với con đường Quang Trung, Trần Hưng Đạo mà mỗi chiều
chàng thường lượn xe vòng đi vòng lại nhiều lần, chỉ cốt nhìn dáng Thương đi
trong giờ bãi học ra về. Giờ đây, cái thị xã ấy đã xa chàng ngàn dặm.
Tất cả những hồi tưởng đưa
quá khứ trở lại như hơi thở phả nhẹ làm ấm áp hồn chàng, bồng bềnh, bay bổng
lên cao. Thụy nhắm nghiền mắt lại và tưởng tượng khi mở mắt ra sẽ thấy mình
đang ở trong lòng thị xã đó, vây quanh chàng là những tiếng cười trong trẻo của
Sáu, của Khê, của Trắc …vv là những người bạn gái cùng học trường Nguyễn Hoàng
với Thương, họ đón chào chàng trở lại.
Thụy lắc đầu một mình. Không,
chàng không về lại cái thị xã ấy, mặc dầu chàng nhớ nó đến vô cùng. Từ lâu Thụy
đã không còn liên lạc với Thương nữa. Chàng vẫn tự hỏi cho đến bao giờ chàng
mới có thể nhìn lại được dáng đi lầm lũi, lẽ loi giữa hai hàng tre trên con
đường làng Thạch Hãn của Thương. Con đường đất từ nhà Thương đến trường tỉnh
mịch, những gốc tre già nhô ra như chào đón, chiếc cống vôi mà đêm nào cũng có
một hay hai cặp tình nhân đứng tình tự ở đó, tất cả hiện rõ trong trí nhớ của
chàng.
Thụy muốn giữ hoài
hình ảnh đó, như thuở nhỏ chàng vẫn thích núp mình trong hơi ấm chiếc tơi để
chống chọi với giá rét bên ngoài. Thụy đang ở trong thời kỳ những xót xa còn
sót lại sau một cơn đau đớn quay cuồng vì đổ vỡ trong cuộc đời. Bây giờ chàng
như một người nằm gắng trên giường, nuối tiếc sau một cơn mơ hạnh phúc mà bóng tối
lưu trữ rất nhiều hình ảnh đẹp.
Thụy châm thêm điếu thuốc,
tự nhiên chàng nhớ đến ngọn đồi La Vang lộng gió, nghĩ đến từng khóm cây rải
rác dưới chân đồi, nghĩ đến sự yên lặng mênh mông và hiu quạnh. Hôm đó bàn tay
của Thương hơi lạnh. Thụy đã cầm bàn tay đó và nghe nhịp đập trong lòng bàn tay
thật là mong manh. Bên kia, thung lũng hẹp, chiếc đồn lính nằm yên với ngọn cờ
phất phơ buồn nản. Bên nầy, gần hơn hết là mái tóc của Thương màu đen, màu đen
của tóc tiếp liền với màu sẩm đen của nền cỏ khuất nắng chiều, trôi dạt đến
cuối chân đồi. Buổi chiều như một tiếng thở dài kéo theo từng gợn mây bay thấp.
Thụy để những ngón tay của Thương lồng trong năm ngón tay của mình, chàng có
cái cảm giác hình như cỏ dưới chân chàng cũng cố ý nằm yên không xao động. Hai
đứa đi dạo trên đỉnh đồi và trong vô hình những dấu tích bước đi còn lưu lại.
Thụy đắn đo, đau đớn chờ đợi
cái thời khắc hợp lý mà chàng sẽ dấy lên cơn động kinh, cơn bão tố cho chính
cuộc tình mà chàng yêu quý nhất. Chàng sẽ nói lời chia tay với thượng đế của
chàng, rồi ra đi đến một chân trời khác.
Thất bại đầu tiên trong thi
cử đã đẩy Thụy từ một cậu học trò vô tư trở nên một con người trầm lặng và
cương quyết. Đó là vì Thụy đã thi hỏng tú tài 2. Đọc không thấy tên mình trên
bản niêm yết thí sinh thi đậu, Thụy bỏ đi lang thang như một tên tội đồ khốn
khổ, tránh bạn bè và tránh cả người yêu, lê mình thất thểu trên con đường Gia
Long vắng vẻ, cạnh dòng sông Thạch Hãn buồn thiu. Bao nhiêu dự phóng về tương
lai của Thụy đã đổ vỡ cả rồi, từ niềm tin vào năng lực của mình cho đến niềm
tin vào tình yêu của Thương. Mãnh bằng không có đã làm cho sự tự tin vững như
cổ thụ trong lòng chàng lung lay đến tận cội rễ. Thụy cảm nhận đầy đủ trong
lòng mình rằng sự thất bại đã đánh chàng gục xuống và đưa Thương lên chổ xa với
tầm tay với của chàng. Thụy thấy mình thật có lỗi với Thương vì đã thi rớt, đã
đánh mất trong đôi mắt yêu kiều ấy sự cảm phục, sự tôn trọng đối với thần tượng
mà nàng yêu quý.
Cố gắng dẹp bỏ nỗi
buồn phiền, Thụy đi học lại năm hai. Nhưng cuộc đời không phải là con thuyền
trôi êm ả, lòng người cũng không phải là một đường gạch thẳng băng. Biết bao
nhiêu tác động làm cho Thụy không thể ngồi yên học được. Chiến tranh đã đến tận
ngôi nhà thân yêu của chàng. Thần chết thấp thoáng bên những bờ lúa của cánh
đồng phía sau làng Thạch Hãn, nơi chàng và Thương đang ở. Bên cửa sổ tầng lầu
ngồi học, sân vận động trở thành bãi đáp máy bay, trực thăng lên xuống đều đều,
chở đi những chiến binh và chở về những tử sĩ. Tiếng máy bay gầm thét trên đầu
mái trường đêm ngày không dứt. Khói đạn chiến tranh ngột ngạt đè nặng trĩu lên
tâm trạng từng người. Cùng lúc đó, những cuộc tranh đấu đình công, bải khóa,
tuyệt thực phản đối bùng dậy. Từng đoàn người căng biểu ngữ diễu qua những khu
phố đóng cửa im lìm. Dây thép gai giăng chằng chịt ở khắp các con đường. Màu
chết chóc trùm lên đầu mọi người dân hiền lành trong cái thị xã vốn từ xưa đến
nay yên tỉnh.
Nhiều lúc, đứng trên lầu cao
Thụy chứng kiến được cảnh trái ngược thật là phi lý. Trong lúc mà trận
đánh ác liệt đang diễn ra cách thị xã năm, mười cây số, từng vùng khói lửa đỏ
rực một góc trời, hỏa châu thả dày trên một chu vi rộng lớn, ánh sáng lan rộng
phủ mờ lên phố thị, thì cũng dưới ánh sáng đó, từng nhóm người phản đối căng
biểu ngữ, diễu hành hay ngồi tuyệt thực trong tiếng rền bom đạn.
Thụy không còn tin vào đâu
nữa, chàng cũng hòa chung với các bạn trong trường diễu hành hoan hô, đã đảo
nhưng chẳng biết làm thế cho ai và để được gì. Rồi một hôm, người bạn nối khố
của Thụy qua đời. Tâm thi rớt tú tài 1, bị động viên vào trường hạ sĩ quan Đồng
Đế, ra quân trường với cấp bậc Trung Sĩ, bị đưa đi tác chiến ở tiền đồn. Trận
đánh kéo dài suốt đêm, Tâm bị thương vào lúc 4 giờ sáng và tắt thở khi mặt trời
vừa ló dạng.
Thụy không khóc được, chàng
mím chặc môi ngồi bên quan tài Tâm, nuốt nỗi đau vào lòng và cảm nhận hết thảy
cái vô nghĩa giữa cuộc đời. Công danh, sự nghiệp, tình yêu đối với chàng giờ
nầy trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Chàng muốn vẫy vùng như con cá kình trên biển,
như con hổ trong rừng và như Kinh Kha, hay như một Tần Thủy Hoàng cũng được.
Tâm ơi! Mầy đã mất người yêu vì thi hỏng tú tài 1, tau đã đậu tú tài 1 nhưng
cũng sẽ mất người yêu vì không có tú tài 2 để vào đại học. Tau không học được
nữa, không còn mơ làm kỹ sư, bác sĩ. Tau sẽ bỏ nàng, sẽ đi lính, sẽ vào Thủ Đức
sống cuộc đời ngang tàng cho thỏa chí bình sinh.
Thụy giật mình khi Thương
đánh nhẹ vào tay chàng.Thụy bỏ tay Thương ra, ngồi ngay ngắn lại và nói rất tự
nhiên như chuyện đã rồi:
- Mai anh đi
- Anh đi đâu?
- Đi lính
Mặt trời đã khuất bóng, hình
như có hồi chuông báo tử từ thánh đường La Vang vọng giữa không trung. Hai
người yên lặng xuống đồi.
Thụy lại giật mình, chàng
định đốt thêm một điếu thuốc nhưng bao thuốc trống trơn. Thế là gần một đêm
chàng ngồi trên bao lơn căn gác xếp nầy mơ về quá khứ. Thụy đứng dậy, mặc bộ đồ
sinh viên sĩ quan Thủ Đức, đưa tay sửa lại cầu vai có gắn huy hiệu alfa. Liếc
nhìn Kha đang cắm cúi viết ở cuối phòng và nói lớn:
- Ê, tau đi mua bao thuốc. Mầy cho hai nhân vật
trong truyện đang viết gặp nhau lại đi, nghe chưa ./.
Châu Thạch
